Đọc to (tiếng Việt) Nhấn phát để bắt đầu

Cảnh báo



Gian gác xép của Vũ Đăng Trình nằm sâu trong con ngõ ngoằn ngoèo trên phố Hoàng Hoa Thám, nơi bốn mùa đều nồng nặc mùi ẩm mốc bốc lên từ rễ những chậu cây cảnh ken dày đặc dưới sân.

Trời sắp đổ mưa rào. Gió lùa qua khe cửa chớp bằng gỗ lim đã mọt ruột, mang theo hơi nước ngai ngái phả thẳng vào mặt bàn làm việc. Bên tai trái của Trình râm ran một chuỗi tiếng vo ve khô khốc, giống hệt tiếng ve sầu kẹt trong ống tre. Đó là tật cũ để lại sau lần sập vách đất ở bãi khai quật Đông Triều năm năm trước, mỗi khi áp suất không khí tụt nhanh trước cơn giông, cái tai điếc dở ấy lại bắt đầu hành hạ cậu.

Trình không buồn xoa tai. Cậu dùng một cây kẹp tre gắp mép tờ giấy dó bồi ba lớp vừa được làm mềm bằng hơi nước sôi.

Cuốn gia phả này do một người đàn ông trung niên mang tới từ sáng sớm hôm qua. Gã đội mũ cối sụp mí, ngón tay vàng ố vì khói thuốc lào, đặt bọc vải điều xuống bàn rồi bỏ đi vội vã, chỉ để lại một câu cộc lốc rằng muốn phục chế lại mấy trang cuối bị dính bết để tra cứu tên cụ tổ. Bìa sách bọc vải bố thô, mép giấy mủn ra từng mảng đen sì như bị nướng dở trên than hồng.

Mùi keo da trâu và mực nho bốc lên ngột ngạt. Trình bật ngọn đèn bàn sợi đốt công suất nhỏ, đưa mũi dao trổ bằng sừng trâu khẽ lách vào nếp gấp bị đóng bánh giữa trang thứ chín và thứ mười.

Chỗ giấy đó không dính vì nước mưa hay ẩm mốc thông thường. Lớp hồ khô lại có màu nâu xỉn quánh đặc, miết nhẹ ngón tay thấy gợn những hạt li ti như cát mịn. Khi mép giấy tách ra một khoảng bằng đốt ngón tay, mùi tanh nồng xộc thẳng lên mũi Trình. Đó là mùi bùn đáy ao lâu năm trộn lẫn với mùi máu khô.

Mặt giấy hiện ra những hàng chữ Nôm viết bằng lối chữ tháu run rẩy:

“Tháng bảy năm Cảnh Hưng thứ hai mươi tư. Làng Thổ Cốc nước dâng ngập mái đình. Con gái họ Đào tuổi vừa trăng tròn, mệnh hỏa, gả cho con trai trưởng họ Trần thác dưới đáy sông. Giữ xác trong chum, trát kín men da lươn, tế Thần Lò cầu cho nghìn mẻ gốm không nứt vỡ.”

Bên dưới dòng chữ không có triện son, chỉ có một dấu vân tay in bằng thứ mực đỏ sẫm đã ngả sang màu rỉ sắt.

Trình dừng tay. Cậu làm nghề phục chế cổ tịch sáu năm nay, từng tiếp xúc với hàng trăm bản chúc thư, văn tự bán đất thời Nguyễn hay hương ước thời Lê, nhưng chưa từng thấy cuốn gia phả nào ghi chép việc tế sống người trần trụi đến mức này. Thổ Cốc là một làng gốm cổ nằm ven đê sông Đuống, vốn đã biến mất khỏi bản đồ hành chính từ giữa thế kỷ trước sau một trận vỡ đê kinh hoàng.

Một tia chớp rạch ngang bầu trời đêm Hà Nội, ánh sáng xanh lét hắt qua khung kính vỡ trên cửa sổ, rọi thẳng vào mặt bàn.

Cùng lúc đó, bóng đèn sợi đốt treo trên đầu Trình kêu tách một tiếng rồi tắt ngấm.

Căn phòng chìm vào bóng tối đặc quánh. Tiếng sấm nổ vang rền sau rặng cây khiến sàn nhà rung lên bần bật. Trình đưa tay tìm chiếc bật lửa trên bàn, nhưng đầu ngón tay cậu không chạm vào mặt gỗ ép nhẵn thín quen thuộc.

Mặt bàn biến mất. Dưới lòng bàn tay cậu là một mảng bề mặt thô nhám, lạnh toát và ươn ướt bùn sình.

Trình rút tay lại. Cậu định đứng lên nhưng đầu đập mạnh vào một tấm ván cứng phía trên. Khoảng không gian quanh cậu hẹp đến mức hai bả vai bị ép chặt vào hai bên thành gỗ. Mùi nồng nặc của long não rẻ tiền, mùi đất sét ủ nước và mùi vải liệm mục rữa xộc thẳng vào cuống họng làm cậu nghẹn thở, ho sặc sụa.

Đây không phải căn gác ở Hoàng Hoa Thám.

Không gian này dài chưa đầy hai thước, rộng chừng hai gang tay. Cậu đang nằm ngửa trong một cỗ quan tài đóng bằng gỗ tạp.

Trình hít sâu một hơi để giữ cho nhịp tim không đập loạn xạ trong lồng ngực. Tiếng vo ve bên tai trái biến mất, thay vào đó là tiếng mưa rào xối xả đập rầm rầm lên nắp ván ngay trên mặt cậu. Nước mưa mang theo bùn đỏ rỉ qua những khe hở của thớ gỗ, nhỏ từng giọt đặc quánh xuống trán, xuống gò má.

Cậu thử giơ hai tay đẩy mạnh lên nắp quan tài. Tấm ván gỗ nặng trịch, dường như bên trên còn bị đè bởi một lớp đất hoặc đá tảng, chỉ hơi nhúc nhích rồi lại trơ ra.

Bỗng nhiên, từ bên ngoài vang lên tiếng kim loại cào mạnh vào mặt gỗ.

Xoẹt. Một âm thanh chói tai cắt ngang tiếng mưa. Tiếp theo là tiếng thở dốc nặng nề của một người đàn ông, đi kèm với tiếng bước chân bì bõm dẫm trên nền đất nhão.

Cây xà beng bằng sắt sắc lẹm thọc mạnh qua khe hở giữa nắp và thành áo quan, cạy bật một góc gỗ mục. Một luồng không khí lạnh buốt tràn vào bên trong.

“Có người sống không?”

Giọng nói bên ngoài trầm đục, khàn đặc vì ngấm nước mưa, nhưng ngữ điệu dứt khoát đến mức xé toạc sự hỗn loạn xung quanh.

Trình nuốt ngụm nước bọt đắng ngắt trong miệng, lên tiếng đáp: “Có. Mở giùm tôi.”

Người bên ngoài không hỏi thêm câu nào. Tiếng bẩy gỗ vang lên dồn dập, từng chiếc đinh sắt rỉ sét bị giật phăng ra khỏi mộng gỗ kêu răng rắc. Chỉ vài giây sau, nửa nắp quan tài bị hất tung sang một bên, để lộ bầu trời đêm đen kịt như hũ nút cùng những hạt mưa quất rát rạt vào mặt Trình.

Một cánh tay rắn rỏi thò vào, bàn tay to bản với những vết chai sần dày cộp ở khớp ngón nắm chặt lấy cổ tay Trình, kéo mạnh một cái dứt khoát.

Trình mượn lực ngồi dậy, lăn ra khỏi cỗ áo quan, ngã quỵ xuống bãi bùn lầy nhơ nhớp. Cậu thở hắt ra, đưa mu bàn tay quệt lớp nước mưa bết dính trên mắt, ngẩng đầu nhìn người vừa kéo mình lên.

Người đàn ông đứng trước mặt cậu mặc chiếc áo khoác dã chiến màu xanh rêu sũng nước, ống quần xắn cao để lộ đôi chân dính đầy đất sét đỏ. Hắn cầm một cây xà beng ngắn hoen rỉ, trên vai đeo chiếc túi bạt chuyên dụng của dân khảo cổ. Ánh sáng le lói từ chiếc đèn pin đội đầu của hắn quét qua mặt Trình, làm lộ rõ từng đường nét sắc cạnh trên gương mặt phong trần, hàng lông mày rậm hơi nhíu lại và vết sẹo mờ chạy dài từ thái dương xuống dưới gò má.

Trần Đình Bách.

Trình sững sờ. Đã năm năm trôi qua kể từ ngày Bách thu dọn đồ đạc rời khỏi Viện Khảo cổ mà không để lại một lời nhắn, cậu chưa từng nghĩ mình sẽ gặp lại hắn trong một hoàn cảnh quái đản như thế này.

Bách nhìn chằm chằm vào mặt Trình. Đèn pin trên trán hắn rọi thẳng vào mắt cậu khiến Trình phải nheo lại. Trong ánh mắt đen thẫm của Bách, vẻ căng thẳng ban đầu thoáng chùng xuống, thay vào đó là một sự kinh ngạc bị nén chặt lại nơi đáy mắt.

Hắn tắt bớt một nấc đèn pin, hạ giọng: “Trình? Cậu làm cái quái gì ở đây?”

“Tôi không biết.” Giọng Trình vẫn còn run vì lạnh, cậu chống tay xuống lớp bùn nhão nhoét để đứng dậy nhưng hai đầu gối bủn rủn, “Nửa phút trước tôi còn đang ở gác xép bóc gia phả.”

Bách tiến tới một bước, đưa tay đỡ lấy nách Trình, xốc cậu đứng thẳng dậy. Lực tay hắn rất mạnh, bàn tay nóng hổi truyền hơi ấm qua lớp áo sơ mi ướt sũng của Trình. Hắn không hỏi dồn dập, chỉ liếc nhìn cỗ quan tài gỗ tạp vừa được cạy mở.

Bên trong đáy áo quan không chỉ có bùn. Nằm lẫn dưới lớp vải xô lót xác là một con gà trống trắng đã bị cắt tiết, máu nhuộm đỏ cả nắm gạo nếp rải xung quanh.

“Gia phả họ Đào đúng không?” Bách hỏi, mắt quét nhanh ra khoảng không gian tăm tối xung quanh.

“Sao anh biết?”

“Tôi đào được một mảnh bia đá ở lòng sông Đuống tuần trước.” Bách nói ngắn gọn, giọng hắn đều đều át cả tiếng mưa gió, “Vừa chạm tay vào dập bản rập thì ngất xỉu. Tỉnh dậy đã thấy đứng ở đầu làng này từ chập tối.”

Trình nhìn quanh.

Họ không ở trong một nghĩa địa bình thường. Nơi hai người đang đứng là một bãi đất trống rộng lớn, xung quanh ngổn ngang hàng trăm chiếc chum sành vỡ vụn. Những mảnh gốm tráng men màu vàng da lươn nhô lên khỏi mặt bùn như những mảnh xương gãy. Cách đó không xa, nhô lên giữa màn mưa là những vòm lò nung bằng gạch vồ khổng lồ, đen sì và câm lặng như những cái miệng quái vật há hốc giữa đồng không mông quạnh.

Trên một thân cây đa cổ thụ gần đó, gió thổi làm bay phần phật những dải lụa đỏ đã mục nát.

Tiếng gõ mõ cắc cắc đột ngột vang lên từ phía bờ sông, chậm rãi, đều đặn, hòa lẫn với tiếng khóc ri rỉ của đàn bà luồn qua từng khe gạch lò gốm.

Bách siết chặt cây xà beng trong tay, lùi lại một bước chắn nửa người trước Trình. Hắn nghiêng đầu, nói rất khẽ vào tai bên phải còn lành lặn của cậu: “Chúng ta vào Án rồi. Đừng rời khỏi tôi nửa bước.”

Bình luận đoạn văn

Bình luận

Trả lời bình luận

Chỉnh sửa bình luận

Thiết lập văn bản

Xem trước

Nội dung sẽ hiển thị như thế này

Chọn font chữ

Cỡ chữ

12px 30px