Chương 2
Cảnh báo
Mùi khói rơm ủ ẩm từ lòng đất xộc lên cay xè hai cánh mũi. Tiếng gõ mõ cắc cắc mỗi lúc một gần, xen lẫn tiếng chân giẫm lẹp bẹp trên bùn non và những chuỗi âm thanh lầm rầm nghe như tiếng tụng kinh cầu siêu bị bóp nghẹt dưới nước.
Bách không đứng chôn chân đợi hiểm họa ập tới. Hắn túm lấy bắp tay Trình, kéo giật cậu chạy về phía dãy lán phơi gốm bỏ hoang nằm sát chân đê.
Mặt đất phủ đầy bùn sét nhão nhoét, trơn như bôi mỡ. Đôi giày vải của Trình đã sũng nước từ lâu, mỗi bước chân nhấc lên nặng như đeo chì. Bên tai trái vẫn rền rĩ tiếng ù đặc, Trình phải dựa vào lực kéo của Bách để khỏi trượt ngã dúi dụi vào những đống mảnh sành nhọn hoắt rải rác khắp lối đi.
Lán phơi gốm là một dãy nhà xiêu vẹo, lợp bằng rạ mục nát đã sụp mất nửa mái. Những hàng giá gỗ ba tầng dùng để phơi phôi gốm mộc nghiêng ngả, trên đó xếp la liệt các dãy hũ sành hình người cao chừng hai gang tay, đầu hũ thắt nút bằng dây gai đỏ.
Bách đẩy mạnh cánh cửa liếp ọp ẹp, che cho Trình lọt vào bên trong rồi lập tức cài then ngang bằng một khúc gỗ tròn.
Vừa bước vào bóng tối, Trình đã nghe thấy tiếng thở dốc hỗn loạn phát ra từ góc lán.
“Ai đấy?” Một giọng đàn ông run bần bật cất lên, kèm theo tiếng kim loại va vào nhau lách cách.
Bách chĩa thẳng ánh đèn pin về phía góc tối.
Ngồi co ro sau một giá phơi gốm đổ nát là ba người. Một gã đàn ông trung niên béo lùn mặc áo ba lỗ dính đầy dầu mỡ, hai tay run lẩy bẩy cầm chặt chiếc cờ lê mỏ lết. Cạnh gã là một phụ nữ trẻ trạc hai mươi nhăm tuổi, mặc bộ đồ công sở rách bươm, khuôn mặt trát phấn lem nhem vì nước mưa và nước mắt. Người thứ ba là một cậu thanh niên gầy gò, mặc áo hoodie sũng nước, đang ngồi ôm chặt hai đầu gối cắn môi đến bật máu.
Nhìn thấy ánh đèn pin của Bách, người phụ nữ gần như phát điên, quỳ sụp xuống van lạy: “Làm ơn cứu tôi với, tôi đang đợi xe buýt ở đường Nguyễn Trãi mà, tôi không biết đây là đâu đâu, làm ơn đưa tôi về...”
“Im mồm.” Bách gằn giọng, thanh âm lạnh tanh không chứa một chút khoan nhượng, “Muốn sống thì ngậm miệng lại.”
Người phụ nữ bị ánh mắt sắc lẹm của Bách dọa cho cứng họng, tiếng khóc nghẹn lại trong cổ họng thành những tiếng nấc cục nghẹn ngào.
Gã đàn ông cầm cờ lê nuốt nước bọt, lắp bắp hỏi: “Hai... hai người cũng vừa bị kéo vào à? Tôi đang lái xe tải chở hàng qua cầu Đuống thì xe chết máy, vừa mở nắp ca pô ra thì sảy chân ngã xuống sông, mở mắt ra đã ở trong cái xó này rồi.”
Trình không trả lời. Cậu tựa lưng vào một cột gỗ lim còn vững, cúi đầu nhìn xuống người mình.
Lúc này cậu mới nhận ra bộ quần áo trên người mình không phải chiếc áo sơ mi trắng cậu mặc lúc ngồi làm việc ở gác xép. Bên ngoài cậu đang khoác một tấm áo thụng đỏ thêu hoa văn mây lượn bằng chỉ bạc đã xỉn màu. Ống tay áo rộng thùng thình, vạt áo vấy đầy bùn đỏ và máu gà khô cong queo. Đây là lễ phục cưới của đàn ông thời xưa, loại áo chỉ dùng trong các nghi thức trang trọng của nhà quyền quý.
Bách quay sang nhìn Trình. Hắn với tay kéo cổ áo thụng của Trình ra một chút, soi đèn pin vào xương quai xanh của cậu.
Nơi đó có một vệt mực màu chàm in hình chiếc khóa đồng tâm, nét mực ăn sâu vào da thịt như một hình xăm đã lành từ lâu.
“Cậu là chú rể.” Bách nói, giọng trầm xuống.
Trình đưa tay sờ lên vết mực lạnh ngắt: “Cái cỗ quan tài ngoài kia không phải chôn người chết. Đó là kiệu rước dâu bằng gỗ.”
“Đúng hơn là kiệu đón người chết về se duyên.” Bách thu đèn pin lại, đưa tay lục túi bạt lấy ra một chiếc khăn bông khô ném cho Trình, “Lau mặt đi. Tai bên trái thế nào rồi?”
Trình đón lấy chiếc khăn, hơi ngạc nhiên vì Bách vẫn nhớ tật ở tai của mình sau ngần ấy năm trời. Cậu vò bớt nước mưa trên tóc, đáp: “Vẫn điếc dở như cũ. Đừng đứng bên đó nói, tôi không nghe rõ đâu.”
Bách không nói thêm lời nào, hắn bước vòng qua bên phải Trình, đứng tựa vào vách nứa, khoảng cách vừa đủ để Trình có thể nghe thấy từng nhịp thở của hắn. Sự hiện diện quen thuộc của gã đàn ông lầm lì này khiến lồng ngực Trình bớt đi cảm giác đè nén ngột ngạt.
Bên ngoài, tiếng gõ mõ đột ngột dừng lại.
Không gian xung quanh rơi vào một sự tĩnh lặng chết chóc. Chỉ còn tiếng mưa dầm dề rỏ từng giọt lộp độp trên mái rạ rách nát.
Tiếp theo đó là tiếng bước chân trần lép bép dừng lại ngay trước cánh cửa liếp của lán phơi.
Gã lái xe tải sợ hãi lùi thụt mạng vào góc tường, va phải một chiếc hũ sành khiến nắp hũ rơi xuống nền đất vỡ tan tành. Một nắm tro xám đen cùng mấy mảnh xương ngón tay trắng hếu lăn lóc ra ngoài bùn.
Cậu thanh niên mặc hoodie ôm đầu rúc sâu vào hốc kẹt, run rẩy không dám thở.
Qua khe hở của liếp nứa, ánh sáng đỏ quạch của những ngọn đèn lồng giấy hắt vào trong lán.
Đoàn người rước lễ đang đứng ngoài sân bùn.
Trình ghé mắt nhìn qua khe hở và cảm thấy sống lưng lạnh toát.
Đó là khoảng chục bóng người mặc áo tơi lá cọ xơ xác, đầu đội nón mê rách rưới. Tất cả bọn họ đều đi chân trần lội trong bùn đỏ, nhưng bàn chân lại quay ngược gót ra phía trước, mũi chân chĩa thẳng về sau. Trên tay mỗi người cầm một cây đuốc bốc khói đen sì khét lẹt mùi dầu cù là.
Đi đầu đoàn rước là một mụ già lưng còng gập xuống gần sát đất, tay cầm một chiếc mõ gỗ hình con cá không có mắt. Mụ không gõ nữa mà dùng móng tay dài ngoằng cào từng vệt sắc lẹm vào thân mõ, tạo ra những âm thanh ken két buốt óc.
Mụ già đứng lại trước cửa lán, chiếc mũi khoằm hếch lên hít hà mùi không khí ẩm ướt bên trong.
Đôi mắt mụ đục ngầu như mắt cá chết, hoàn toàn không có con ngươi. Mụ cất giọng the thé, âm thanh phát ra không giống tiếng người mà như tiếng gió rít qua kẽ đá:
“Giờ Tý đã điểm, nước sông đã tràn bờ. Họ Đào dâng lễ, họ Trần nhận dâu. Kẻ nào mang khóa đồng tâm trên cổ, mau bước ra bờ sông bái đường.”
Căn lán im phăng phắc. Người phụ nữ văn phòng cắn chặt mu bàn tay để không bật ra tiếng thét, nước mắt giàn giụa.
Bách đặt tay lên cán cây xà beng cắm dưới đất, ngón tay siết chặt đến mức các đốt ngón trắng bệch. Hắn khẽ liếc nhìn Trình, ánh mắt mang theo sự cảnh cáo rõ ràng rằng không được manh động.
Trình hít sâu một hơi. Cậu nhìn xuyên qua khe cửa, ánh mắt dừng lại ở vật mà bốn người đàn ông đi sau cùng đang khiêng trên vai.
Đó không phải một cỗ quan tài, cũng không phải chiếc kiệu hoa bình thường.
Đó là một chiếc chum sành khổng lồ cao ngang đầu người, men áo ngoài màu vàng da lươn bóng loáng dưới ánh đuốc. Miệng chum được trát kín bằng một lớp vôi trộn mật mía dày cộp, bên trên dán chéo hai lá bùa màu vàng viết bằng chữ Phạn nguệch ngoạc.
Từ những vết nứt li ti trên thân chiếc chum sành ấy, từng giọt nước đỏ lòm như máu tươi đang rỉ ra, nhỏ tong tỏng xuống bãi bùn lầy.
Bỗng nhiên, mụ già mù ngoài cửa khựng lại. Mụ xoay ngoắt cái cổ với một góc độ vặn vẹo không tưởng, hướng thẳng mặt vào đúng khe nứa nơi Trình đang đứng.
Mép mụ nhếch lên để lộ hàm răng đen nhánh nhuộm củ nâu, bên khóe miệng rỉ ra bọt dãi tanh tưởi:
“Mùi giấy cũ... Mùi mực nho của thầy đồ phương xa. Chú rể đã tỉnh rồi sao?”