Chương 3
Cảnh báo
Mười đầu ngón tay khẳng khiu như cành củi khô của mụ già thọc xuyên qua khe liếp nứa. Móng tay mụ đen đúa, dài ngoằng, cào sột soạt vào lớp vách đất trát rơm, làm đất vụn rơi lả tả xuống nền nhà ẩm ướt.
Mùi hôi thối nồng nặc phả qua kẽ hở. Đó là thứ mùi của cá chết phơi nắng lâu ngày trộn với bùn hôi đáy cống.
Trong góc tối, gã lái xe tải không chịu nổi áp lực nữa. Hai mắt gã trợn trừng, gân máu nổi đỏ sọc quanh tròng mắt. Gã bất thần chồm tới, túm chặt lấy vạt áo thụng đỏ của Trình, nghiến răng rít lên:
“Nó tìm mày đấy! Mày ra ngoài đi! Mày ra ngoài cho chúng tao sống!”
Bách không thèm chớp mắt. Cánh tay phải của hắn vung lên như một chiếc roi sắt, cán xà beng nện thẳng vào khuỷu tay gã lái xe tải.
Một tiếng cộp khô khốc vang lên. Gã tài xế rú lên đau đớn, bàn tay buông thõng khỏi áo Trình, cả người lảo đảo ngã giúi vào đống sành vỡ. Cây cờ lê mỏ lết trên tay gã rơi xoảng xuống đất.
Bách bước lên nửa bước, mũi giày dẫm chặt lên mu bàn tay gã tài xế, đè dí xuống lớp bùn nhão. Ánh mắt hắn nhìn xuống gã đàn ông lạnh tanh như nhìn một con lợn chuẩn bị chọc tiết:
“Mở mồm ra một tiếng nữa, tôi bẻ gãy quai hàm cậu rồi ném qua khe cửa cho mụ ta gặm.”
Gã lái xe nghẹn thở vì đau, sợ hãi cắn chặt môi đến rớm máu, không dám hó hé một câu nào. Người phụ nữ văn phòng co rúm người lại sau lưng cậu thanh niên mặc hoodie, cả hai run lên bần bật như chuột lột.
Ngoài cửa liếp, tiếng móng tay cào dừng lại.
Mặt mụ già áp sát vào khe nứa, một con mắt cá chết đục ngầu xoay tròn trong hốc mắt vô hồn, nhắm thẳng vào Trình. Miệng mụ toét ra một nụ cười méo mó:
“Nhà trai đã nhận kiệu, sao còn chưa chịu mở then đón dâu? Hay chê dâu nhà họ Đào không đủ bạc vàng?”
Trình gạt tay Bách sang một bên. Cậu hít sâu một hơi, nén cơn đau buốt ở thái dương trái. Mùi giấy mục và mực nho trên vạt áo thụng đỏ như đang thiêu đốt da thịt cậu.
Những dòng chữ Nôm trong cuốn gia phả chớp nháy liên tục trong đầu Trình: *Gả cho con trai trưởng họ Trần... bái đường bên bờ sông...*
Đây là nghi lễ nghênh hôn của vùng Kinh Bắc thế kỷ mười tám, nhưng đã bị bẻ cong thành một cuộc tế sống. Mụ già này là bà mối âm hồn. Trong phong tục cưới ma, bà mối không thể tự tiện xông vào buồng chú rể nếu chưa hoàn tất nghi thức ba lần hỏi, bảy lần trao.
Trình ngẩng đầu, nhìn thẳng vào con mắt cá chết qua khe liếp, cất giọng bằng thứ ngữ điệu trầm và chuẩn xác của người chuyên đọc sớ đình:
“Trời chưa rạng, sính lễ chưa bày đủ sáu mâm, rượu nếp chưa rót qua ba tuần. Dâu họ Đào đã qua đò sang sông Đuống đâu mà đòi mở then bước vào buồng rể?”
Lời vừa dứt, không khí trong căn lán bỗng dưng lạnh buốt như có ai vừa thả cả tảng băng đá vào phòng.
Con mắt cá chết của mụ già giật giật. Mụ từ từ rụt mấy ngón tay khẳng khiu ra khỏi kẽ liếp nứa. Tiếng cọ quẹt trên vách đất chấm dứt hoàn toàn.
“Được... Được lắm...” Mụ già rít qua kẽ răng, giọng nói the thé kéo dài như tiếng cưa gỗ, “Rể họ Trần biết lễ nghĩa, Đào gia không ép uổng. Trước canh ba đêm nay, mang đủ mười hai đồng tiền xâu mắt và một hũ rượu nếp cẩm đến lò gốm tổ. Bằng không, nước sông Đuống tràn bờ, cả họ Trần phải xuống đáy lò làm men gốm.”
Bên ngoài vang lên một tiếng cộc khô khốc, giống như ai đó dùng đá đập mạnh vào thành chiếc chum sành khổng lồ.
Bốn gã đàn ông đi chân ngược lại cất bước. Tiếng chân giẫm bùn lẹp bẹp cùng tiếng mõ gỗ hình con cá lại bắt đầu gõ nhịp đều đặn, cắc, cắc, xa dần về phía con đê cao ngút ngàn phủ đầy rặng tre già.
Ánh đuốc đỏ quạch nhạt dần rồi mất hút sau bức màn mưa xối xả.
Lúc này, gã lái xe tải mới thở hắt ra một hơi, ngồi bệt dưới đất ôm cánh tay sưng vù, mồ hôi hột túa ra ướt đẫm trán.
Cậu thanh niên mặc hoodie từ từ bò ra khỏi góc kẹt, giọng run như cầy sấy: “Chúng... chúng ta thoát rồi à?”
“Chưa đâu.” Trình vịn vào cột gỗ lim, khom lưng ho sặc sụa. Cơn ho kéo dài làm ngực cậu thắt lại từng cơn, khóe miệng rỉ ra một vệt dịch đắng ngắt.
Bách bước tới, một tay giữ lấy vai Trình, tay kia đưa bi đông nước quân dụng mở nắp sẵn kề vào môi cậu: “Uống ngụm nước ấm đi.”
Trình đón lấy bi đông, nhấp một ngụm nhỏ. Vị nước sôi để nguội quen thuộc làm ấm lại cuống họng đang bỏng rát. Cậu ngước nhìn Bách, nhận ra trên cổ áo dã chiến của hắn cũng dính đầy những vệt đất sét màu đỏ sẫm.
“Anh biết cái lò gốm tổ mụ ta nói nằm ở đâu không?” Trình hỏi.
Bách thu lại bi đông nước, gật đầu: “Tôi đào khảo sát ở bãi bồi sông Đuống cả tháng nay rồi. Địa tầng làng Thổ Cốc có ba lớp lò nung. Lò tổ là lò gốm vòm có từ thời nhà Mạc, nằm ngay dưới chân đền thờ Thần Lò, sát mép vực sông. Nhưng trên bản đồ hiện đại, chỗ đó đã bị sạt lở thành một cái xoáy nước chết từ năm một chín bảy mốt.”
“Mười hai đồng tiền xâu mắt là cái gì?” Người phụ nữ văn phòng run rẩy hỏi, hai tay ôm chặt lấy bả vai mình, “Chúng ta kiếm đâu ra tiền cổ ở cái nơi ma quỷ này?”
Trình đưa tay chỉ xuống chiếc hũ sành bị vỡ lúc nãy dưới chân gã lái xe tải.
Trong đống tro đen và những mẩu xương ngón tay lăn lóc trên bùn, có hai đồng tiền đồng tròn xoe, ở giữa đục lỗ vuông, trên mặt đúc nổi bốn chữ Hán: Cảnh Hưng Thông Bảo. Hai đồng tiền này không bị hoen rỉ màu xanh như tiền cổ thông thường mà đen nhánh như bị ngâm trong dầu luyn lâu ngày.
“Tiền xâu mắt không phải tiền mua đồ.” Trình nói, giọng cậu lạnh đi, “Thời Lê, những người chết đuối hoặc chết đường chết chợ mà không có thân nhân nhận xác, làng sẽ dùng chỉ đỏ xâu hai đồng tiền lại rồi nhét vào hai hốc mắt người chết trước khi liệm. Họ tin rằng làm vậy thì linh hồn mới có lộ phí qua đò sang thế giới bên kia, không quay về quấy phá xóm làng.”
Cậu thanh niên mặc áo hoodie nghe đến đó thì mặt cắt không còn hột máu, nôn thốc nôn tháo ra một bãi nước vàng.
Để có đủ mười hai đồng tiền xâu mắt, bọn họ phải đập vỡ ít nhất sáu chiếc hũ đựng tro cốt nằm rải rác trong khu lán phơi gốm này.
Bách cúi xuống, nhặt một mảnh sành vỡ gạt đống tro tàn, dùng đầu ngón tay nhặt hai đồng tiền đồng đen kịt lên rồi thả vào lòng bàn tay Trình: “Có hai đồng rồi. Còn thiếu mười đồng nữa.”
Trình nắm chặt hai đồng tiền lạnh buốt trong tay. Cạnh sắc của đồng tiền kim loại cấn sâu vào da thịt cậu, mang theo một cảm giác nhói buốt chạy dọc theo các đường gân máu.
Đột nhiên, cánh cửa liếp phía sau lưng họ kêu cọt kẹt một tiếng lớn.
Gió từ bờ sông thổi thốc vào, cuốn theo một cuộn khói trắng nhờ nhờ mang theo mùi nhang trầm nồng nặc.
Trên nền đất sét nhão nhoét ngay trước ngưỡng cửa, nơi mụ già mù vừa đứng ban nãy, xuất hiện một vệt bùn kéo dài ngoằn ngoèo thành một dòng chữ Nôm mới tinh:
“Canh hai gom tiền. Canh ba vào lò. Kẻ nào trốn khỏi bờ đê, xương thịt đúc thành gạch ngói.”