Đọc to (tiếng Việt) Nhấn phát để bắt đầu
Khắc Ghi Một Lý Tưởng

Chương 2: Chuyện lạ

Đoạn đường dẫn vào làng Ôn đã được trải nhựa, hàng xoài tươi tốt hai bên phủ bóng mát cho cả con đường, nhà thưa thớt vài căn nhưng ruộng lúa lại vàng óng cả làng.

 

Dù hơn ba mươi năm bình yên trải rộng trên mảnh đất này, cảnh người đổ máu, nhà cửa hoang tàn, ruộng vườn vắng chủ vẫn chưa thôi ám ảnh dân làng ở đây. Khi đó, bọn lính Mỹ phát hiện làng này nhiều nhà có con lên đường theo cách mạng. Với mong muốn diệt cỏ tận gốc, chúng kéo đến bắt giữ tra hỏi từng người còn ở lại. Kết quả không như ý, chúng tra tấn cho hả giận rồi giết thẳng tay. Cả làng khi ấy chỉ toàn nhà tranh vách lá, một mồi lửa đã đủ đốt cháy mấy ngôi nhà. Sau khi bọn chúng thỏa mãn rồi rời đi, người dân may mắn trốn được mới dám về nhà. Thôn xóm làng mạc lúc bấy giờ chỉ còn lại đống tro tàn. Mọi thứ sau đó phải bắt đầu lại từ sơ khai, nhưng lịch sử làng Ôn đã có thể viết nhiều hơn một quyển sách.

 

Cuối làng có căn nhà cấp bốn được sửa lại từ nhà lá cách đây gần mười năm. Trước đó, trong ngôi nhà này có người phụ nữ tên Thu Mộng sống cùng hai cô con gái. Khi cô chị và cô em lần lượt theo chồng, nơi này chỉ còn một mình người mẹ ở lại lo chuyện nhang khói. Con bà từng có ý định rước bà đến sống cùng gia đình để tiện bề phụng dưỡng, nhưng nơi này có nhiều kỷ niệm đẹp và cả những sự tiếc nuối không thể thực hiện, bà nào nỡ lòng bỏ đi xứ khác. 

 

Vì lớn tuổi và sống một mình nên công việc của bà Mộng mỗi ngày chỉ luẩn quẩn trong làng. Sáng sớm, bà như thường lệ cầm theo giỏ nhựa đi đến khu chợ nằm giữa làng. Đi được một đoạn, chú chó của gia đình bên đường bất ngờ chạy ra cản trở bước chân bà Mộng. Cùng lúc đó, giọng hét the thé chói tai vang ra từ trong sân của chính ngôi nhà bên đường.

 

“Đen! Mày vô nhà ngay cho tao!” 

 

Bà Mộng hướng ánh mắt xuống chú chó có bộ lông đen tuyền đang cọ vào chân mình, bà theo thói quen giơ tay vuốt đầu nó vài cái. Đen vẫy đuôi với bà mấy vòng, duỗi thẳng hai chân trước, áp sát xuống đất như đang chào hỏi bà, rồi nhanh chóng cụp đuôi chạy về bên chủ.

 

Người phụ nữ kia lúc này mới thấy bà, cô ta quăng cái bao chứa mùng mền chiếu gối đã xếp gọn ra hiên nhà, rồi tiện hỏi: “Ơ, dì Mộng đi chợ đó à?”

 

“Ừa, dì mua ít thịt về nấu canh.” Bà Mộng liếc sang đống đồ cạnh cô ta, trong lòng tự hiểu. “Lại sao nữa à thím?”

 

“Ghê lắm dì ơi, nên con với chồng quyết định chuyển đi đây. Tối qua thằng Đen nhà con cứ nhìn ra sau hè sủa hoài. Nó sủa mà mình mẩy[1] nó kiểu như thấy thứ gì đáng sợ lắm vậy. Mà dì biết đó, làng mình xưa giờ có tiếng vụ nọ vụ kia mà. Cũng may nhà này con thuê, chứ không thì tiếc đứt ruột.”

 

Bà Mộng thầm thở dài: “Vậy thì chúc gia đình đi mạnh giỏi nghen[2].” 

 

“Dạ, cảm ơn dì.”

 

Trước khi quay người tiếp tục đi chợ, bà Mộng nhìn chú chó lần nữa, nơi đáy lòng dâng lên một chút tiếc nuối với người bạn bốn chân này.

 

Bà Mộng về đến nhà là lúc nắng đã phủ đầy sân. Gia đình Việt đúng lúc chạy đến đoạn đường cuối làng, cách bà một đoạn. Thu thuận mắt nhìn qua bên phải, trông thấy một hộ gia đình đang chất đồ lên xe ba gác, có cả mùng, mền, chiếu, gối, Thu khẽ thở dài. Đợi cha Việt lái xe vào trong sân, cô nhanh chân chạy đến bên bà Mộng. 

 

“Dạ thưa má[3] tụi con mới về.” 

 

“Thưa bà Ngoại con mới về.” Việt chào bà.

 

“Ừm, Việt nay lớn quá hen.” Bà Mộng khẽ đảo mắt khắp người Việt, nét mặt bà hơi chùng xuống, nhưng rồi bà lại nói sang chuyện khác. Tháo nón lá trên đầu xuống, tiện tay quạt cho Việt mấy cái. 

 

“Tụi con về sao không báo má một tiếng, để má mua thêm ít đồ nấu cho bữa nay. Mà vợ chồng con Lan không về chung à?”

 

Dũng tiến tới, tay lanh lẹ với ra cầm phụ mấy giỏ rau củ mà bà đang bê trước ngực, miệng đáp: “Nhà em Lan bận trực trên xã nên có nhà con về thôi má. Sáng đi ngang chợ lớn, con với Thu cũng có mua thêm chút đồ ăn rồi, xíu mình nấu cháo vịt. Hổm rày[4] má vẫn khỏe ha má?”

 

“Má cũng khỏe.” 

 

Nhìn bà Mộng cầm chìa khóa mở cửa, Thu đứng bên cạnh hỏi nhỏ bên tai bà: “Nhà bên đó cũng chuyển đi à má?”

 

“Ừa, mới về đây có hơn tuần chứ gì. Ngày nào má cũng nghe người ta than trời than đất, có hôm thì bị giật dây mùng, có hôm thì bị gõ cửa lúc nửa đêm. Đến tận tối hôm kia, con họ đi chơi không về, họ phải đi kiếm, xong đổ thừa tại ma giấu nên quyết định chuyển đi. Xóm này có mỗi nhà đó là ấy nhất, nên mới về chủ cũ kêu cúng kiếng đầy đủ đi thì không tin, nếu không tin cũng không sao, đằng này còn chửi phong long, nói bậy nói bạ. Ôi thôi, đủ thứ chuyện với họ.”

 

Ở làng này chuyện bị người khuất mặt khuất mày quấy phá không hiếm có. Người dân mới về đây sống còn bỡ ngỡ trước những hiện tượng kỳ lạ trong nhà, nhưng dần dần cũng quen, xem như một “gia vị” cho cuộc sống thêm sinh động. Có lúc gặp hiện tượng mới, họ còn dùng nó làm đề tài buôn chuyện vào sáng hôm sau. 

 

Dù vậy, vẫn thường có trường hợp như gia đình bên đường. Lần nọ một nhà ba người đến gặp bà Mộng, sau khi cùng bà trò chuyện thì vài ngày tiếp theo họ cũng đột ngột chuyển đi như gia đình này. Người ở được thì ở, người không ở được thì đi, đã ở được rồi lại một lòng xem đây là quê hương, người chuyển đi cũng chỉ luẩn quẩn một hai căn bên đường.

 

Bước vào nhà, gia đình Việt thắp hương chào ông bà xong xuôi, Thu ngồi phịch xuống ghế, buộc lại búi tóc bị rối. Thấy nét mặt con trai bắt đầu khác thường, đứa con nuôi nấng mười mấy năm giờ nhìn nó lại có cảm giác xa lạ, cô bèn nhỏ giọng kể với bà Mộng:

 

“À má, lúc này nó cứ đến nghĩa địa, nghĩa trang chơi, học hành cũng không chú tâm, tối hay mơ bậy mơ bạ. Má coi nó có bị gì không?” 

 

Bà Mộng hướng về phía Việt đang ngồi ở băng ghế bên hiên nhà, gọi nó: “Việt, vào đây bà Ngoại nói chuyện xíu.”

 

“Dạ Ngoại?” 

 

Đi lại gần bà Mộng, ánh mắt Việt vô tình liếc qua bàn thờ của hai người một nam, một nữ. Nó vô thức nhìn chằm chằm vào ảnh thờ của bên nữ, một gái khoảng đôi mươi, tóc xõa ngang vai, môi cười tươi như có hồn. Một cảm giác quen thuộc khó tả dâng lên, tựa như đã gặp ở đâu đó, nhưng người này đã mất hơn ba mươi năm nay, làm sao một đứa trẻ như nó lại gặp được.

 

“Việt! Nghe Ngoại hỏi không?” 

 

Tiếng gọi của bà Mộng khiến nó giật mình, thoát khỏi những suy tư trong đầu. Việt gãi đầu, có chút chột dạ. 

 

“Xin lỗi Ngoại, Ngoại nói lại cho con nghe với.”

 

“Ngoại hỏi con tối mơ thấy cái gì, rồi sao mà đi tới mấy cái chỗ không nên vậy?”

 

Việt nhớ lại, bắt đầu kể cho bà Mộng nghe từng cái, cả những chuyện kỳ quái đã ập đến mấy hôm nay. 

 

“Con cũng không hiểu vì sao mình lại đến mấy nơi đó chơi nữa. Con chẳng nhớ đã tới lúc nào, chỉ khi má tìm thấy con mới biết.”

 

Thu ngồi bên cạnh nghe vậy thì không khỏi tự trách bản thân nóng vội quá mức. “Xin lỗi con, má chưa biết gì đã dùng đòn roi với con.”

 

“Con hiểu mà, thật sự nếu má không tìm con, con cũng không biết khi nào mình mới có thể tự về nhà.” Những gì xảy ra khi đến những nơi đó nó hoàn toàn không nhớ gì cả, tựa như bị một thế lực nào đó xui khiến, mảnh ký ức ấy cũng bị xóa mất

 

Sau một hồi trầm tư, bà Mộng cất tiếng hỏi: “Vậy thằng nhỏ bị chuyện này từ khi nào?”  

 

“Dạ tuần trước, sau khi cùng nhóm bạn đến Nhà mồ Ba Chúc[5]. Ngay hôm sau thằng bé đã bắt đầu có dấu hiệu lạ.”

 

Nghe Thu nói xong, bà Mộng thở dài thườn thượt. 

 

“Má không thể nói rõ là chuyện gì, nhưng có lẽ bị ai theo rồi, chẳng biết người ta theo vì còn tâm nguyện chưa hoàn thành, hay chỉ muốn phá mà thôi. Trước mắt Việt nó hợp vía với người ta, nên mới bị theo. Mà theo được vào nhà này chắc cũng không phải thứ dữ dằn kia. Để mai má tính, hôm nay Thầy không có ở nhà, mà giờ người ta không cho má nhìn thấy, má cũng không biết làm sao.”

 

Hiểu mẹ đang ám chỉ việc gì, Thu cùng Dũng nhỏ giọng vâng dạ.

 

Gần 6 giờ chiều, trời bắt đầu nhá nhem. Bà Mộng ngó ra đoạn đường trước nhà, cặp mắt nhìn thấy nhiều thứ của bà bắt gặp một vài bóng trắng bay về phía cuối làng. Bà nhanh miệng dặn dò đám nhóc đang đùa giỡn với nhau ngoài sân:

 

“Chạng vạng đừng có chạy giỡn nè mấy đứa.”

 

Nhóc Bảo đứng ở giữa lanh lẹ đáp. “Dạ tụi con nghe rồi bà Hai.” 

 

Cùng ngồi bên hiên tám nhảm với nhau một lúc, mấy cậu nhóc cũng dần về nhà với cha mẹ. Chỉ còn một mình Việt trong sân, nó hướng mắt về cuối làng, bần thần rất lâu.

 

Mặt trời dần khuất sau hàng cây xa xa, bóng tối bao trùm cả vùng trời. Đàn gà cùng chui rúc vào chiếc ổ rơm lót sẵn. Người dân trong làng thắp lên ánh đèn dầu bên mâm cơm gia đình, tia sáng lập lòe yếu ớt khiến cảnh đêm càng thêm u buồn. 

 

Nghĩa trang được lập sau khi hòa bình, nơi này chôn cất người làng Ôn, những người bị giết oan thời chiến tranh. Có mộ đầy đủ xương cốt, có mộ chỉ có vỏn vẹn bộ quần áo của người mất. Dù thế nào cũng phải chôn cất, lập bia, ngày ngày dọn dẹp, thờ cúng, lo hương khói, để họ có nơi để về, còn người nhớ đến.

 

Những nén hương đang cháy ẩn hiện trong bóng tối mờ ảo, ngọn đèn dầu tỏa ra ánh sáng le lói đủ để người ta nhìn thấy ở đó có một bia mộ. Việt đi một vòng nghĩa trang, nhìn từng đĩa bánh được đặt trên đó, từng ly hương vừa được dọn chân nhang. Nó cúi thấp người, tay đưa ra chuẩn bị cầm lấy đĩa bánh đặt tại một ngôi mộ. Nhưng vừa chạm vào, một làn gió chợt thổi qua, đĩa bánh cũng bị xê dịch ra khỏi ngón tay Việt. Nó theo phản xạ nhìn theo, không biết tại sao vẫn muốn đuổi theo, nhặt lên. Ngón tay nó lần nữa chạm vào gói bánh, bên tai lập tức vang lên giọng nói như vọng từ nơi xa:

 

“Sao lại lấy bánh của em?”

 

Việc liếc nhìn xung quanh, giữa nghĩa trang chỉ có một mình nó. “Ai vậy hả? Đừng có giả ma giả quỷ!” 

 

Dù nói vậy nhưng tay chân nó đã run lên không ngừng. Không rõ vì cái gì mà giờ này nó lại mò vào đây, một nơi nó chưa bao giờ có ý định đặt chân đến vào ban đêm. Việt quay đầu nhìn về phía sau, một hàng bóng trắng liền bay đến gần nó, có bóng không đầu, không tay, tất cả đều không còn trọn vẹn.

 

“M… ma…!” Tiếng hét chưa thoát khỏi môi đã tan vào làn khói. Việt nằm bất động trên nền đất giữa nghĩa trang lạnh lẽo.

 

Đến khi thức dậy lần nữa, Việt ngồi bật dậy với ý định chạy thẳng về nhà, nhưng nhìn khắp nơi, nó nhận ra đây không phải nghĩa trang. Liếc mắt qua đoạn đường để nhìn hướng nhà bà Ngoại, một cảnh vật hoàn toàn xa lạ xuất hiện trước mắt. Cánh đồng lúa xanh um lắc lư theo làn gió. Mùi cỏ ngai ngái thoang thoảng trong khoang mũi. Xa xa cuối đồng có người đàn ông cưỡi trâu đi trên đoạn đường mòn. Việt cúi đầu nhìn xuống chỗ mình đang đứng, nó không khỏi run rẩy khi vừa nhận ra dưới chân chỉ đứng trên khúc gỗ được bắc ngang sông, hai tay nhanh chóng nắm lấy thanh tre phía trên. Vừa giữ vững được thăng bằng thì bất ngờ có một giọng nói khàn khàn vang lên từ sau lưng.

 

“Hai Hòa, con dọn đống cỏ xong thì mau mau về với con Mộng. Cái lũ Pol Pot tràn sang không biết có tới làng Ôn không. Nhanh về còn coi vợ con bây.”

 

Việt ngoái đầu ra sau, trông thấy một cụ già cỡ năm, sáu mươi tuổi, khuôn mặt không khác gì so với tấm ảnh bà Ngoại đang thờ trong nhà. 

 

“Ông… ông Cố? Sao ông Cố… ông…” Nó lắp ba lắp bắp cả buổi vẫn không nói được hết câu. 

 

Nụ cười ông Chải đầy hiền hòa, nhưng nhìn vào nét mặt ẩn sau nụ cười ấy, Việt vẫn cảm nhận được sự nghiêm khắc của bậc phụ huynh đang răn dạy con trẻ. Một nỗi sợ hãi tột cùng phủ xuống người khiến nó chỉ biết cúi đầu nhìn xuống mũi chân. 

 

Trong lúc Việt đang còn ngơ ngác, ông Chải đã lướt xuyên qua người nó, đi như một cơn gió đến gần người đàn ông đang cưỡi trâu. Nghe cái tên Hòa phát ra từ miệng ông Chải, Việt lập tức nhận ra người cưỡi trâu kia là ông Ngoại nó.

 

Xuống khỏi cây cầu khỉ, Việt chạy nhanh đến bên ông Chải, nếu là ông mình thì cũng chẳng có gì đáng sợ. Thế nhưng chỉ mới vài bước, mọi thứ xung quanh đột ngột thay đổi.

 

Mây đen cuồn cuộn kéo tới, gió mạnh cuốn theo bụi mịn từ đâu đến, như sắp có cơn bão dữ dội ập xuống. Không để Việt kịp phản ứng, gió mạnh tạo thành cơn lốc xoáy, xoáy nhà, xoáy lúa, xoáy cả Việt lên không trung. Trước mắt tối đen như mực, đầu óc quay cuồng không thể biết rõ thời gian, địa điểm để tự trấn an bản thân, Việt chỉ biết ôm chặt lấy cơ thể trong sự sợ hãi tột cùng. Tiếng gió rít đinh tai nhức óc, tựa như có tiếng gào khóc của hàng trăm con người cùng vang lên. Nó biết đây không phải hiện thực, nhưng không tài nào thoát khỏi thế giới hư ảo này. 

 

Việt tuyệt vọng hét lên một tiếng vang vọng. “Aaaaa…” 

 

Âm thanh của nó lại vô tình khiến bầu trời lắc lư không ngừng, mặt đất rung chuyển dữ dội. Giữa ruộng lúa xuất hiện một khe nứt như tia sét, bắt đầu hút mọi thứ vào bên trong, hút cả người cả vật không chừa thứ gì. Cơn lốc xoáy đột nhiên biến mất để Việt bay giữa không trung rồi rơi thẳng xuống đất, rớt ngay khe nứt bên dưới. Như chỉ chờ có thế, khi nuốt chửng được Việt, khe nứt cũng biến mất ngay sau đó.

 

Trải qua một loạt chuyện quái lạ, Việt lại lần nữa được thả xuống ngay vị trí ban nãy, xung quanh vẫn là cánh đồng của ông bà vừa rồi. Tim Việt đập liên hồi, cảm giác hoảng sợ cùng lạ lẫm đan xen, chân run rẩy không thể đứng vững. Việt nhìn xung quanh một lượt, kỳ lạ thay, lần này ông Cố cùng ông Ngoại không còn đứng bên cạnh nó như vừa rồi, hai người họ mỗi người đảm nhận một việc, ai cũng cắm mặt xuống ruộng mà làm.

 

Nó từng bước đi đến gần ông Cố, e dè gọi ông: “Ông Cố.”

 

Ông Chải đứng thẳng người, ngước lên nhìn trời. Dưới sự chờ đợi lời hồi âm của Việt, ông Chải lại lớn tiếng kêu ông Hòa đằng xa: 

 

“Hòa ơi! Trưa rồi, vào ăn cơm xong hẳn làm tiếp. Làm đến chiều rồi gọi thằng Đậu về luôn.”

 

“Dạ tía[6].”

 

Trước ánh mắt của Việt, ông Hòa cưỡi trâu vào trước, buộc con trâu vào cây cọc sau nhà, ông Chải lúc này mới cầm lấy phích nước bên cạnh cứ vậy mà đi qua người Việt vào nhà. Ông vừa đi được vài bước, bất ngờ từ trong nhà có bốn, năm người hớt hải chạy ra. Ông Hòa dẫn đầu nhóm người đến trước mặt ông Chải, ôm ngực thở hồng hộc, khó nhọc nói từng chữ: 

 

“Bọn chúng đến rồi tía ơi, chúng đến đông lắm. Còn đang bắt người ở đầu xóm.”

 

Mặt Ông Chải lập tức biến sắc, vẻ lo lắng, căng thẳng hiện rõ trên khuôn mặt già nua của ông. Ngó phía sau ông Hòa, thấy cậu trai trẻ đang dắt theo hai cô nhóc tầm năm, sáu tuổi, ngoài ra bà Chín nhà đối diện cũng chạy theo.

 

“Giờ phải làm sao đây tía?” Ông Hòa sốt ruột hỏi.

 

Bà Chín không nhịn được mà nói: 

 

“Các chú muốn làm gì thì nhanh nhanh lên đi, bọn chúng vây bắt hết mấy ngôi nhà đầu xóm là tới đây đó. Nếu muốn trốn thì tôi ra tôi giữ chân bọn chúng giúp gia đình các chú có thời gian, tui cũng nhờ các chú đưa hai đứa nó đi cùng, tía má chúng mất hết rồi.”

 

Bà Chín sống một mình, chồng con cũng đều đã mất hết. Giờ đây có chết có sống đối với bà cũng không còn quan trọng. Trước khi chết còn giúp được vài người, bà coi như là tích phước trước khi về nơi chín suối.

 

Người tía ấy vẫn im lặng, ông liếc nhìn tứ phía, cuối cùng tầm mắt dừng lại ở bụi lau sậy đang vươn cao ở ngay sau cánh đồng. 

 

“Mọi người đi theo tôi, riêng thằng Hòa bơi theo cái xuồng, nhớ đừng dùng máy, cứ chèo tay cho tía.”

 

“Dạ tía.” Nhận được lệnh của cha vợ, ông Hòa dùng hết sức của mình chạy qua cây cầu khỉ, phóng tới cái mương bên kia, tay chộp ngay cây dằm, bắt đầu chèo thật nhanh theo bước chân của những người trên bờ.

 

Ruộng nhà ông Chải cuối đường xóm Trứ, là tài sản từ đời cha ông để lại, nằm khuất sau hàng chuối của nhà dân gần đó. Dù vậy, bọn chúng cũng sẽ rất nhanh tìm được đến đây. Mỗi giây mỗi phút lúc bấy giờ đều quyết định sự sống còn của từng con người đang có mặt.

 

Sau khi chạy đến bụi sậy, ông Chải kéo tay các cháu đứng bên trong, còn ông thì chắn bên cạnh. Ông Hòa cũng đã chèo xuồng đến, để xuồng dừng hẳn ông mới nhảy lên bờ. Tính toán vài giây, ông Chải nói: 

 

“Cô Chín xuống xuồng đi cô, đưa thêm hai đứa nhóc này nữa. Thằng Đậu cũng xuống luôn.”

 

Bà Chín nhíu mày nhìn ông Chải. “Được không đấy? Sao chú không đi chung với chúng tôi?”

 

“Đất này đất của tổ tiên, tôi sống ở đây từ nhỏ, có chết cũng phải bảo vệ nơi có mồ mả ông bà.” Ông Chải đầy kiên định.

 

Bà Chín không chút vòng vo, chân bước xuống xuồng, tiện tay ôm luôn hai đứa nhỏ đặt xuống khoang. “Vậy tui đảm nhận việc này, cảm ơn chú. Rồi hai cậu nhóc kia?”

 

Ông Hòa lắc đầu, trong đầu hiện lên hình bóng vợ. Sáng nay được vợ đưa cơm đi làm ruộng, thế mà lại trở thành tiễn lên chiến trường. 

 

“Tía má con mất vì chiến tranh, con may mắn được tía của Mộng cưu mang, còn được vợ hiền con ngoan. Đời này bấy nhiêu đã đủ, tía đã ở lại thì con cũng ở lại, chỉ nhờ cô gửi lời xin lỗi Mộng, con nợ cô ấy đời này.” 

 

Cậu trai trẻ vừa rồi mãi im lặng đi theo, lúc này mới lên tiếng: 

 

“Ngày trước con chỉ còn mình Út Lành là người thân, nhưng em ấy đã mất rồi. Mấy năm nay con ở nhà chú Chải, cảm nhận hơi ấm gia đình, giờ đây chú Chải cùng cậu Hòa ở lại, thì con làm sao nỡ bỏ đồng đội mình mà đi.”

 

Ba người đàn ông, từng một thời cùng trực tiếp tham gia kháng chiến, tay cầm súng, cầm gậy đối đầu với địch. Ba người, ba dòng máu khác nhau, nhưng có cùng lý tưởng, đùm bọc nhau chẳng khác anh em ruột rà. Ở thì cùng ở, đi thì cùng đi.

 

Không để tốn thêm thời gian, ông Chải ra hiệu cho cô Chín chuẩn bị, lúc ông thả hai đứa nhỏ xuống, bà lập tức giật máy không chút chần chừ. Chiếc xuồng có trớn bắt đầu chạy vùn vụt trên mặt nước, lao thẳng ra sông cái trước khi lũ kia phát hiện.

 

Bóng dáng xuồng khuất dần cũng là lúc lũ kia kéo đến. Chúng hô hào, tru tréo với những âm thanh chẳng ai hiểu được. Trên tay từng tên cầm từng món khác nhau, có tên cầm rìu cầm búa, có kẻ thì cầm những cây gỗ được vuốt nhọn hoắt. Mấy tên đi sau trên tay mỗi thằng đều có một cây đuốc, đi đến đâu chúng cũng châm một mồi lửa. Nhà lá cùng đống củi quanh xóm Trứ đã bốc cháy đỏ rực từ ngọn đuốc của chúng nó. Xóm Trứ yên bình giờ đây bị phủ lên màu sắc tang tóc, chết chóc, tiếng khóc tiếng la vang dội cả làng. Thảm không nỡ nhìn.

 

Từ khi chào đời, đây là lần đầu tiên Việt tận mắt chứng kiến thảm cảnh đau thương thế này. Khi những giọt lệ đắng còn đang chảy dài trên mặt nó thì ông Cố cùng ông Ngoại nó đã nắm lấy cây tràm được ngâm dưới mé mương, đầu cây được vót nhọn từ trước, có cây được đóng thêm phần sắt như cây chĩa cá. Ông Chải đưa cho Đậu một cây, tất cả được chuẩn bị sẵn cho một trận chiến.

 

Ba người họ không do dự lao thẳng vào quân địch. Ông Chải dùng cây chĩa xiên thủng mặt một tên cầm đuốc, đâm cho chúng máu chảy thành sông, mặt mũi nát tươm.

 

 

 

Ông gào thét như trút hết nỗi đau trong lòng lên từng nhát đâm. 

 

“Ai cho bọn mày phá làng tao? Ai cho tụi bây giết đồng bào tao? Tao đâm cho chúng mày chết! Chết đi! Aaa…!” 

 

Ông Hòa bên này cũng nhanh chóng vào thế, trai tráng sức dài vai rộng, mỗi động tác của ông đều nhắm thẳng vào ngực của những tên đi rải rác ngoài đồng. Cánh đồng lúa xanh mướt giờ đây đã đổ rạp gần hết, một màu đỏ thẫm nhuộm lên một nửa mảnh ruộng, mùi máu tanh tưởi bốc lên. Việt đứng bên cạnh nôn ọe không ngừng, nhưng chẳng nôn ra được thứ gì càng khiến trong người nó thêm khó chịu. Nhìn qua bên ông Cố cùng ông Ngoại, nó không khỏi ngưỡng mộ sự gan dạ và dũng mãnh của hai người, khi tận mắt thấy những thứ gớm ghiếc này mà mặt vẫn không đổi sắc.

 

Vốn chỉ còn căn chòi của ông Chải là chưa bắt, nên bọn chúng chỉ cử vài ba tên đến kéo gia đình ông ra giữa làng để tiến hành tra tấn. Không ngờ đến dù có mất cái mạng này hai người vẫn phải chiến đấu tới cùng. Mấy tên ban đầu đã bị thương nặng gần hết, có vài tên còn nằm bất động giữa ruộng, tên chỉ huy thấy vậy lập tức cử đến một nhóm mới, nhất định phải bắt được cha con ông Chải.

 

Ông Chải tuổi vốn đã cao, chiến đấu được đến đây cũng tiêu hao không biết bao nhiêu thể lực của ông. Ngồi gục xuống bên cạnh gốc chuối, ông nhìn ra thằng con  rể đã kiệt sức đứng bên kia mương, bên cánh tay trái còn bị chém một nhát, da thịt rách tươm, máu chảy đầy cả tay rồi nhỏ giọt xuống mặt đất. Ông Chải nhìn ông Hòa cười nhẹ, tựa như một lời khen ngợi cho chàng rể quý này. Cả hai từng là đồng đội của nhau trên chiến trường, kết thúc chiến tranh lại về chung một nhà, ngay lúc này một lần nữa cùng nhau chiến đấu, tinh thần bất khuất này đúng là không khiến ông thất vọng khi gả người con gái duy nhất của mình cho ông Hòa.

 

Việt từ nãy giờ vẫn đứng ở bên bờ nhìn qua, từng sự việc nó đều thu vào mắt và ghi nhớ trong đầu. Cảnh tang thương đầy máu me hiện rõ mồn một trước mắt, từng cánh tay bị xiên qua, máu chảy ra hòa vào dòng nước, những ngôi nhà cháy ngùn ngụt, khói đen bốc lên phủ đen bầu trời. 

 

Đang chìm đắm vào suy nghĩ của riêng mình, Việt bất ngờ bị đánh thức bởi tiếng cười man rợ của kẻ cầm đầu. Chúng nó cười, chúng nó vui vì bắt được ông Chải cùng ông Hòa, Việt thấp thỏm không thôi. Hiểu rõ sự tàn bạo của những tên lòng lang dạ sói này, nó càng muốn lao vào cứu lấy hai người ông của mình. Mà nó giờ đây như một thực thể đến từ không gian khác, không ai thấy nó và nó cũng không thể tác động lên bất cứ con người nào trong không gian này.

 

Việt bất lực nhìn ông Cố, ông Ngoại bị dẫn đi. Nó chạy đến đấm đá vào người của kẻ đang lôi ông nó xềnh xệch trên đất, nhưng dẫu có dùng hết sức thì tên đó cũng không bị ảnh hưởng gì. Hai tay nó nắm chặt thành nắm đấm, ánh mắt căm phẫn nhìn bọn chúng, cả cơ thể bắt đầu nóng lên.

 

Ông Chải cùng ông Hòa bị tên lính của quân địch kéo vào một gốc cây dừa bên đường. Chúng buộc chặt hai ông vào thân cây, tay tên đó cầm rìu gõ nhẹ lên cổ tay ông Chải. Bọn nó nói với nhau gì đó rồi cười nắc nẻ như khỉ thấy chuối. Tên đó lại dùng rìu gõ gõ lên cổ tay ông Hòa, rồi bất ngờ giơ rìu lên cao.

 

Sau một tiếng *bụp*, ngón áp út và ngón út của ông Hòa đứt lìa khỏi bàn tay. Ông ấy chỉ cắn răng chịu đựng, không hé một lời.

 

“Ông Ngoại!” Chứng kiến cảnh đó, Việt hét to như muốn rách cổ họng. 

 

Bọn chúng như mèo vờn chuột, chậm rãi từng chút hòng tra tấn tinh thần hai cha con ông Chải. Mỗi một nhát búa bổ xuống, là một lần Việt hít thở không thông. Tim nó quặn thắt từng cơn, đau thấu ruột gan. 

 

Lúc Việt còn đang bế tắc, Đậu từ nãy giờ không biết đã ở đâu bất ngờ chạy vù ra, cầm lưỡi hái dứt khoát cắt cổ một tên. Đậu tiếp tục cầm lưỡi hái bắt đầu dí từng thằng đang đứng gần. Mấy tên đứng xa thấy sự điên loạn của Đậu, chúng cùng hợp lực tóm sống cậu. Cảnh tượng trở nên hỗn loạn, máu me văng tứ tung. Một người khó trụ nổi trước một bầy hung hãn, Đậu gắng gượng được một lúc, cuối cùng bị chúng bắt lấy. 

 

Chúng treo Đậu lên cây, từ từ dùng rìu bổ xuống từng khớp tay, khớp chân Đậu như bổ củi. Máu chảy thành vũng dưới mặt đất, tuyệt nhiên cậu không hé răng kêu đau dù một tiếng. Chúng tra tấn Đậu rất lâu, đến khi mặt mày cậu trắng bệch, máu trong cơ thể như đã chảy cạn, chúng mới lôi cơ thể nát tươm của Đậu ra đoạn đường lớn, nơi đang chất xác thành đống. Vung chính lưỡi hái mà Đậu đã dùng lên, thẳng tay chém đứt lìa cơ thể cậu. Đầu lăn lóc đến nơi Việt đang đứng, màu đỏ thẫm túa ra như vòi phun. Việt hãi hùng lùi lại hai bước, lông tơ dựng đứng. Lúc này nó mới nhìn rõ khuôn mặt của cậu trai trẻ tên Đậu này. 

 

Ngay lúc Việt nhận ra chuyện kỳ quái vây lấy nó mấy hôm nay, đột ngột có một lực vô hình đẩy mạnh nó ra khỏi giấc mộng đầy ám ảnh kia. 

 

Sau khi bình tĩnh từ cú ngã, Việt nhìn dáo dác khắp nơi. Vẫn không phải là nghĩa trang trước đó, nhưng trông thấy khung cảnh quen thuộc ở sau nhà bà Ngoại, nó vuốt ngực thở phào một hơi khi thoát được nỗi sợ kinh hoàng. Thấy ngôi nhà của bà Ngoại ở bên đường, cách chỗ nó đứng một mảnh đất trồng đầy cải xanh, nó nhanh chóng chạy về hướng đó. Bầu trời đã tối đen, để tránh gặp những thứ không nên, nó càng lúc càng chạy nhanh hơn. 

 

Thấy rõ phía trước là nhà bà Ngoại, chỉ cần chạy thẳng sẽ đến được sau nhà, thế nhưng chạy mãi chẳng thấy đoạn đường được rút ngắn. Tưởng rằng bản thân vẫn đang mơ, nó đứng lại thở hổn hển, liếc mắt nhìn xung quanh một lần nữa. Cảnh vật không chút xa lạ, là những luống rau của bà, là chuồng gà mái bà nuôi, cả những cây xoài quanh nhà, mọi thứ vẫn ở đó cùng mờ ảo dưới ánh sáng bạc yếu ớt của vầng trăng. 

 

Việt đứng yên tại chỗ, tập trung cảm nhận, giữa không gian thanh bình bất ngờ bốc lên một mùi hôi thối như có con gì chết lâu ngày. Gió lạnh khi sương xuống vây quanh người Việt, da gà da vịt bắt đầu nổi lên rần rần khắp tay chân, nó biết bản thân đang bị một thứ không hề hay ho nhắm tới. Bên tai nó chợt vang lên tiếng cười khúc khích quỷ dị của ai đó, âm thanh vọng từ xa đến gần rồi nhỏ dần như đã đi xa, lặp đi lặp lại liên tục. Đôi chân Việt run rẩy không thể kiểm soát, nửa người trên cứng đơ như tượng. 

 

Một bóng ma từ xa bay đến trước mặt nó, bóng ma không đầu, cũng không chân, cánh tay lặc lìa treo hai bên, nhìn kỹ còn có thể thấy được những làn khói đen phủ quanh thứ ấy. Mùi hôi thối càng bốc lên nồng nặc, chắc chắn mùi xuất phát từ trên bóng ma này. Dù không có đầu, không thể thấy nét mặt của thứ này, nhưng chỉ cần nghe tiếng khằng khặc Việt cũng đoán được nó đang khoái chí đến mức nào. 

 

Việt sợ hãi nhắm tịt mắt, mếu máo gọi cha gọi mẹ. “Ba ơi, má ơi, cứu con với. Bà Ngoại ơi!” 

 

“Má ơi!”

 

“Ba ơi!”

 

Gào khản cả cổ mà chẳng ai đáp lời, bên tai vẫn văng vẳng tiếng cười của thứ quỷ dị kia. Việt càng kêu lớn, thứ ấy càng thích thú, lượn lờ trêu ghẹo cậu nhóc đứng một mình giữa vườn nhà. Mắt nhắm nghiền khiến những giác quan còn lại càng thêm nhạy bén, hít mùi hôi thối một lúc nó bắt đầu cảm thấy khó thở, bụng cuồn cuộn muốn trào ra hết những thứ đã ăn ban chiều. Bất lực chịu trận lúc lâu, nó quyết định đánh liều mở mắt, nhưng vừa hé mở đã bị bóng đen lúc nãy dí sát vào mặt, hù cho một phen hú vía. 

 

Ngay lúc Việt gần như tuyệt vọng, giọng nói hiền hòa của ông Cố lại vang lên. Ông Chải cùng ông Hòa đứng cạnh Việt, vầng sáng trắng tỏa ra từ hai người bao bọc lấy cơ thể Việt, bản vệ nó khỏi những mùi hôi thối và tiếng cười vọng từ cõi âm của bóng ma kia. 

 

“Con cứ chạy về phía trước, tập trung chạy thẳng.” Ông Chải vừa dứt lời, ông Hòa liền dùng tay đẩy Việt về hướng nhà bà Mộng. 

 

Việt nhận ra cơ thể đã trở lại bình thường, nó lập tức chạy theo lời ông Cố đã nói. Cắm mặt chạy thẳng về ánh đèn sau nhà bà Ngoại.

 

Chú thích: 

[1] Mình mẩy: Toàn bộ thân thể.

[2] Nghen: Nhé.

[3] Má: Mẹ.

[4] Hổm rày: Dạo này, thời gian gần đây.

[5] Nhà mồ Ba Chúc: Di tích lịch sử cấp quốc gia tại An Giang là chứng tích về cuộc thảm sát người dân vô tội do Pol Pot gây ra. Được xây dựng vào năm 1979.

[6] Tía: Cha

Bình luận đoạn văn

Bình luận

Trả lời bình luận

Chỉnh sửa bình luận

Thiết lập văn bản

Xem trước

Nội dung sẽ hiển thị như thế này

Chọn font chữ

Cỡ chữ

12px 30px