Đọc to (tiếng Việt) Nhấn phát để bắt đầu
Khắc Ghi Một Lý Tưởng

Chương 3: Khắc ghi

Trăng đã lên đến đọt dừa mà cả nhà vẫn chưa thấy Việt đâu. Vợ chồng Thu lo sốt vó, mỗi người một cây đèn đi khắp làng kiếm cho ra con trai.

 

Dũng cùng Thu đi đến gọi cửa nhà nhóc Nhã. Một người phụ nữ từ trong buồng bước ra, bà gật đầu chào vợ chồng Thu. 

 

“Anh chị sang đây có việc gì không dạ?”

 

“Chào chị, chuyện là thế này, giờ cũng tối lắm rồi mà thằng con của tui vẫn chưa về. Lúc chiều tui thấy nó chơi cùng Nhã nên tui mới định hỏi thử Nhã coi có thấy thằng Việt đi đâu không.”

 

“À, để em gọi thằng Nhã ra nói chuyện với anh chị.” Nói rồi mẹ Nhã trở lại trong buồng, vài giây sau Nhã mới đi ra.

 

Cậu nhóc nói: “Hồi chiều trời gần sụp tối thì mấy cậu ấy đòi chơi bắt trốn, con đã từ chối rồi về trước nên con không rõ các cậu ấy đã đi đâu. Hay dì sang nhà thằng Bảo hỏi xem. Ban chiều nó cũng có chơi cùng Việt đó dì.”

 

Thu nhìn sang chồng, rồi quay lại nói với Nhã: “Vậy dì sang hỏi thử. Cảm ơn con nhe.”

 

“Dạ không có gì đâu dì.” 

 

Hai vợ chồng tiếp tục đi đến nhà Bảo, trong lòng tràn đầy lo sợ, chỉ sợ chuyện xui xẻo ập lên người con. Nhà Bảo cách nhà bà Mộng một mảnh ruộng. Bảo đang ngồi xem vô tuyến ở phòng khách, Thu đứng ngoài cửa hỏi nhóc. Nghe xong, Bảo lắc đầu. 

 

“Ban chiều tụi con có định chơi nhưng cuối cùng quyết định không dì ơi, tụi con ngồi trước sân nói chuyện một chút thôi, xong con cũng về ăn cơm.”

 

Lòng Thu nặng trĩu. “Vậy cảm ơn con.”

 

“Dạ, hay để con đi tìm phụ.”

 

“Thôi con, tối con nít ra đường không tốt.” Thu cùng chồng đi khắp làng kiếm thêm một vòng trong vô vọng. 

 

Bà Mộng đang thắp hương cầu ông Chải cùng chồng phù hộ cháu trai bình an. Bà trèo lên ghế cắm xuống nén hương, khi bước xuống bà vô tình liếc mắt qua cửa buồng, hình ảnh mờ nhạt của cô gái mặc chiếc áo bà ba màu nâu xuất hiện trước mắt bà. Bà chớp mắt nhìn lại lần nữa, hình ảnh ấy càng gần hơn. 

 

“Lành đó à?”

 

“Dạ chị. Chị đến nghĩa trang đón thằng nhóc Việt.” Lành nói xong thì lập tức biến mất.

 

Bà Mộng sững sờ nhìn vào khoảng không. Từ năm Lành mất, bà cảm nhận được cô vẫn luôn theo bà, dù là ở đâu cô gái này vẫn bên bà. Biết cô gái này còn điều chưa thỏa lòng, nhưng bà chẳng thể giúp được gì. Đây là lần thứ hai bà nhìn thấy Lành sau bao nhiêu năm qua. Lần đầu là lúc quay về xóm Trứ sau khi chiến tranh biên giới Tây Nam giành được thắng lợi, cả hai lần đều không nói được gì.

 

Vợ chồng Thu về đến sân đúng lúc thấy bà Mộng đang đi ra. Còn chưa kịp hỏi gì, bà Mộng đã nói trước: 

 

“Đi với má, cùng má đưa thằng nhóc đó về!” 

 

Bị mẹ kéo tay, Thu chỉ biết chạy theo bước chân bà, trong lòng vừa mừng vừa lo. Lúc ba người đến nơi, Việt đang bị treo trên nhánh cây mít trồng bên trong nghĩa trang. Cây mít cao khoảng chục mét, tán rộng xòe ra bốn phía, từ khi trồng đến nay vẫn không hoa không quả. Áo Việt móc lên nhánh cây khiến cả người nó lơ lửng giữa không trung, tay chân nó rũ xuống, đến giờ vẫn chưa tỉnh lại. 

 

Ông Dũng lấy cây thang trong nhà ra dựng lên cây rồi trèo lên, dùng lực cả hai tay để nâng người Việt ra khỏi nhánh cây. Nhìn vẻ chật vật khi Dũng đưa Việt xuống và độ cao của thang, bà Mộng chỉ biết thở dài, chắp tay xá xá, miệng lẩm bẩm xin lỗi thay cháu mình. Bất kể vì lý do gì, nhưng Việt vào đây giờ này chính là quấy rầy họ.

 

Về đến nhà, Thu với bà Mộng người thoa dầu, người xoa bóp tay chân cho Việt. Dũng nhanh tay nhúng khăn ấm, bắt đầu lau người cho con trai. Hơn mười phút sau, Việt dần tỉnh lại, nó bật dậy, mắt hoảng loạn ngó khắp nhà như sợ đây lại là mơ. Nó dùng tay tán vào mặt một cái rất mạnh, tiếng bốp giòn tan vang khắp nhà khiến những người đang đứng xung quanh cũng phải giật mình. Gò má Việt lập tức ửng đỏ lên, cảm giác đau rát lại khiến nó trở nên an tâm. 

 

“Con sao vậy Việt?” Thu nhẹ nhàng dùng khăn ấm chườm lên gò má con trai. Rồi quay qua nói với mẹ mình: “Đó má, nó cứ ở mấy nơi như vậy. Tới đây vẫn không yên.”

 

Việt kéo chăn trùm kín cả người chỉ chừa lại bên ngoài hai lỗ mũi và đôi mắt. Giờ đây đầu tóc bù xù, mồ hôi nhễ nhại nhưng Việt không còn để tâm, nó chỉ biết nắm chặt lấy chiếc chăn đang phủ trên người mình. Cả nhà ngồi đối diện nhìn nó chăm chăm, vừa không hiểu nó đã trải qua những gì mà vừa thấy thương cho con cháu mình. Sự lo lắng trong ánh mắt nó vẫn chưa tan đi, lâu lâu lại liếc ra vườn qua ô cửa sổ, miệng chép chép như đang nhẩm câu gì.

 

Bà Mộng đặt ly nước xuống ghế cạnh Việt, đợi nó cầm lên uống hết bà mới hỏi: 

 

“Con gặp cái gì à?”

 

Việt không trả lời câu hỏi của bà Ngoại, mà dứt khoát hỏi sang chuyện nó đang để tâm. “Sao ông Cố với ông Ngoại mất vậy bà?”

 

“Sao lại hỏi chuyện này?”

 

“Con chỉ muốn biết thêm thôi à.” 

 

Cả nhà cùng nhìn nhau, cùng trao đổi suy nghĩ qua ánh mắt trước sự hiếu kỳ của Việt. Một lúc sau, Thu đi đến thoa dầu gió vào hai bên thái dương và trước ngực con trai để giữ ấm, xong xuôi bà Mộng từ tốn kể lại.

 

“Năm đó giặc tràn đến xóm Trứ ở làng bên cạnh, chúng bắt sống rồi hành hạ, những gì chúng làm quá đỗi tàn bạo, ác hơn cả quỷ dữ. Dân mình gọi chúng nó là lũ Khmer Đỏ. Nó kéo từ đầu làng đến cuối làng, giết theo từng cụm. Lũ đấy coi phụ nữ và các bé gái như nơi để trút ra dục vọng, thỏa mãn rồi thì nó cũng giết không tha. Còn lại chúng nó chặt tay, chặt chân, mổ bụng kéo ra cả bộ đồ lòng, đến khi dân mình không còn gắng gượng nổi, nằm thoi thóp chúng mới chặt đầu giết chết. Ông Cố và ông Ngoại đang đến xóm đó làm ruộng, cuối cùng lại trở thành chiến đấu với bọn chúng. Nhưng bọn nó đông lắm con à, lúc bà cùng má hay tin tìm đến thì hai ông của con chỉ còn lại cái xác lạnh lẽo với nhiều phần cơ thể không nguyên vẹn.”

 

Năm đó là năm đen tối nhất của cả làng. Thi thể nằm rải rác khắp nơi. Máu chảy nhuộm đỏ cả đám cỏ ven đường. Những cây to gắn bó với làng mấy chục năm lại bị chúng nó dùng làm nơi tra tấn dân lành. Nhớ khi ấy bà run rẩy ôm lấy thi thể đứa trẻ bị xé toạc làm đôi, hai mảnh cơ thể được nối liền tại phần cổ, da thịt tái xanh, hai mắt trợn trừng, hình ảnh đấy vẫn luôn ám ảnh bà mỗi khi nhắc đến, cảm giác đau đớn đến tận bây giờ cứ rõ mồn một như vừa hôm qua. 

 

Những cây gậy gộc của bọn lính Pol Pot để lại trong cơ thể các cô gái vẫn đang chảy dọc từng dòng máu đỏ thẫm. Bà Mộng lấy vạt áo bịt miệng, cố nén bi thương tập trung đi sâu vào làng tìm kiếm người còn sống sót. Gần đến giữa làng, bà may mắn nhìn thấy một bé gái tầm tuổi con bà, đang dùng hai tay bò lê trên con đường mòn. Quần áo cô bé rách rưới và dính đầy bùn đất, cơ thể bầm giập chỗ xanh chỗ tím, trên đỉnh đầu bị mất đi một mảng tóc rối. Bà gấp rút chạy đi báo bộ đội ta đến cứu người, rồi cùng các chú tìm xác cha, chồng và Đậu.

 

“Có phải chú Đậu cũng tham gia không Ngoại?” Việt khẽ hỏi.

 

Cả nhà chợt im lặng, mọi người đưa mắt nhìn nhau với vẻ mặt khó tin. Lát sau bà Mộng như có điều nghi ngờ: “Sao con biết có người tên Đậu?”

 

“Con…” Việt ngập ngừng, không biết có nên kể lại việc vừa xảy ra hay không.

 

Ngẫm nghĩ một lúc lâu, Việt quyết định nói hết mọi chuyện với người bà của mình. Nhà này chỉ có bà Mộng là người có căn âm, những chuyện quái lạ, khó nói về người cõi khác, chỉ cần hỏi bà, ắt có cách giải quyết. Những gì Việt trải qua, bà hẳn là hiểu được.

 

Sự phiền muộn hiện rõ trên khuôn mặt hằn nếp nhăn của bà Mộng, tầm mắt bà hướng ra bàn thờ của hai anh em Lành ở phòng khách. Giọng trầm ấm của bà cất lên đều đều: 

 

“Ma làng này không ai như con kể cả, với những gì con thấy, mọi thứ có thể đều có liên kết với nhau. Ngoại vẫn thắc mắc tại sao họ không cho Ngoại thấy.”

 

Im lặng vài giây, bà thở dài nói tiếp: “Đậu là anh Hai của Lành, hai anh em nương tựa vào nhau mà sống. Nhưng do Ngoại, tại Ngoại nên Lành mới mất. Lành được chôn cất ở nghĩa trang cuối làng. Rồi khi Đậu bị lũ đó giết, xác Đậu đã bị phanh thây mỗi nơi một thứ nên khó mà tìm được. Khi người ta xây nhà Mồ Ba Chúc, xác cậu ấy cũng được đưa về đó.”

 

“Vậy có phải đây là lý do khiến Việt…” Thu chợt hỏi. Nhưng còn chưa nói hết câu, đã bị bà Mộng đưa tay cản lại. Có một vài chuyện, dù biết cũng không nên nói thẳng ra.

 

“Thôi Việt đi tắm rửa rồi ra ăn cơm.”

 

“Dạ Ngoại.” Việt chào người lớn một tiếng rồi vào phòng lấy đồ. Cả đoạn đường đi qua hai ô cửa sổ, nó đều không muốn nhìn ra ngoài như mọi lần. Hồn ma không đầu không chân vẫn ám ảnh trong trí nhớ chưa phai, giờ đây chỉ sợ khi nhìn ra sẽ tiếp tục thấy thứ đấy một lần nữa.

 

Chuyện ma quỷ như một lối mòn khuất giữa rừng xanh, ai thấy thì tin có thật, ai không thấy thì cứ xem nó là những câu thoại chưa được kiểm chứng. Việt lớn lên cùng với nhiều câu chuyện tâm linh khó nói, từ miệng ông bà đến lời kể bâng quơ của cha mẹ, dù ít hay nhiều trong đầu Việt khi bé vẫn nghĩ oan hồn, ma quỷ có thật. Dù vậy, khi tự bản thân trải qua, Việt cũng phải một phen kinh hồn bạt vía.

***

Giữa lũy tre già, có ngôi nhà nhỏ dựng từ tre nứa, sơn đã phai màu, mái ngói bể nát được che tạm bằng lá dừa chằm. Ông cụ tóc bạc trắng ngồi bên hiên, tay cầm dao cẩn thận vót từng nhánh tre, tỉ mỉ đan thành chiếc giỏ. 

 

Đôi chân bà Mộng và cháu trai giẫm trúng đám lá tre khô dưới đất vang lên âm thanh xào xạc, hỗn loạn. Ông cụ chậm rãi nhìn lên, một màu trắng đục ngầu chắn ngang tầm mắt, khiến ông phải nheo mắt mới có thể nhìn rõ người đứng xa.

 

“Dạ con chào Thầy.” 

 

Nghe ra giọng nói quen thuộc, cụ cười xòa. “Ra là Thu Mộng đến.”

 

“Dạ Thầy, nay con tới nhờ thầy xem giúp thằng cháu nhà con.” Bà Mộng nói xong thì đẩy nhẹ Việt đến trước mặt Thầy.

 

Việt khoanh tay, hơi cúi đầu. “Con thưa Thầy.” 

 

Thầy nhìn Việt từ trên xuống một lượt. Rồi ôn tồn bảo: “Người ta đã xong rồi còn coi cái gì nữa bây giờ?”

 

“Dạ Thầy?” Bà Mộng ngờ vực.

 

“Người đó tìm em gái, giờ tìm được rồi, cũng đến lúc đi đầu thai.” 

 

“Nhưng con không thể thấy được Thầy ơi. Mà cháu con lại gặp họ trong mơ.” 

 

Ông cụ liếc sang bên phải bà Mộng, nơi có hai linh hồn mờ ảo đứng dưới bóng râm của bụi tre. Một cô gái trẻ mặc bộ đồ bà ba rách rưới lấm lem bùn đất, nhưng trên mặt đang nở rộ một nụ cười mãn nguyện. Linh hồn nam cạnh cô ấy lại chẳng trọn vẹn tứ chi.  

 

“Cậu ta lo con sợ, lúc chết thế nào, bây giờ cũng như thế ấy. Còn thằng bé này, con nhà tông không giống lông cũng giống cánh. Đường đời sau này trước khi nói gì phải uốn lưỡi bảy lần. Đến những nơi linh thiêng không nên nói bậy bạ, đôi khi chỉ là một câu bâng quơ vô tình thốt ra, cũng phải gánh lấy hậu quả.” 

 

Ông cụ cầm lấy bó tre vừa vót xong đặt vào chiếc xề bên cạnh, miệng vừa nói: “Vốn dĩ chỉ muốn mượn chân để về quê nhà, nhưng thằng nhỏ lỡ miệng nói gì nên người ta ghẹo.” 

 

Sau khi nghe Thầy chỉ bảo, bà Mộng cúi đầu nhìn Việt. Dường như nó cũng nhận ra ánh mắt của bà đang ghim vào người mình, nó đứng bất động, lòng chột dạ không dám nhìn bà.

 

“Con đã nói gì vậy Việt?” Bà Mộng nghiêm giọng hỏi.

 

“Con… con… con xin lỗi, con hứa sau này có nói gì, con sẽ suy nghĩ thật kỹ trước khi cất lời.” Việt xoắn xuýt lấy tay áo bà Mộng, sợ sệt không dám nói thành lời. Lần đó, khi cùng cậu bạn đứng trước tủ kính lưu trữ những hộp sọ của nạn nhân chết oan trong vụ thảm sát, vì sự thiếu hiểu biết mà chỉ vào một hộp sọ thiếu mất bốn chiếc răng, buông lời bậy bạ. 

 

Lúc lâu sau, ông cụ thấy Việt ấp úng mãi thì khẽ bật cười, tay ông run run chống gậy đứng lên, chậm rãi đi vào nhà, trước đó ông nói: “Thôi, chuyện cũng xong rồi, con không phải lo. Hai bà cháu khoan hãy về, vào ăn chén cơm đi.”

 

“Dạ con cảm ơn thầy.”

 

Cuối ngày, mặt trời dần lặn xuống sau hàng cây, gia đình Việt thu xếp đồ đạc chất lên xe chuẩn bị lên lại thành phố. Bà Mộng đi đến vỗ vai Việt, căn dặn: 

 

“Về cố gắng học nghen con, có gì thì gọi về cho Ngoại.”

 

“Dạ Ngoại, Ngoại ở đây giữ gìn sức khỏe. Hè con lại về với Ngoại.”

 

“Ừa, cũng trễ rồi, mấy đứa về đi. Chạy xe cẩn thận nhe Dũng.” 

 

Dũng gật đầu: “Dạ, thưa má con về.” 

 

Xe dần đi xa, đến khi không còn thấy gia đình Việt trên đoạn đường làng, bà Mộng mới lủi thủi quay vào nhà. Vừa nằm võng, hình bóng Lành lần nữa hiện ra. Bà Mộng thả hai chân xuống gạch, rồi bật người dậy.

 

“Lành!”

 

“Dạ. Em với anh hai đi đây, cảm ơn chị và gia đình vẫn luôn nhớ đến em. Chị ở lại mạnh khỏe nhen. Đừng có nhớ em mà khóc đó!” 

 

Những câu nói cuối cùng vừa dứt, linh hồn Lành dần hóa thành làn khói trắng, từ từ bay lên trời. Bà Mộng vội vã chạy đến chỗ Lành mới đứng, cố gắng chộp lấy cánh tay cô, cuối cùng trong tay bà cũng chẳng thể nắm được gì. 

 

Năm ấy, Lành chết trong oan ức và tủi nhục, nhưng trước khi ra đi cô đã hoàn thành được tâm nguyện bảo vệ những người gốc rễ làng Ôn của mình. Về sau khi Đậu mất, hồn ở một nơi xa xôi chẳng thể tự mình trở về, trong lòng Lành lại dâng lên một chấp niệm. Dẫu biết có thể mãi chờ đợi trong vô vọng, nhưng tận sâu bên trong Lành luôn có niềm tin, chỉ cần ở yên đây, anh trai tự khắc sẽ về. Ngày đó cũng đến, khi thấy hình bóng Đậu phía sau Việt tại nghĩa trang, cảm xúc của cô rộn ràng như ngày anh từ chiến trường về thăm nhà.

***

Đông qua Xuân đến rồi lại Đông, thoắt cái đã ba năm trôi đi. Bước qua tuổi 53, sức khỏe bà Mộng yếu đi rõ rệt. Trong năm này bà ốm đau không dứt, đến vài tháng nay bà hoàn toàn không thể tự đi đứng như trước. Hai chị em Thu lần lượt thay phiên nhau về chăm mẹ, tới mấy tuần gần đây công việc của Thu trở nên bận rộn, Lan thấy vậy quyết định về hẳn nhà mẹ dưỡng thai, tiện lo cho bà để chị hai an tâm xử lý công việc.

 

Đến sáng hôm qua, Lan bắt đầu có dấu hiệu chuyển dạ, Thu lập tức bỏ việc về nhà với mẹ. Chồng Lan đưa cô ấy đến viện, cả thời gian đó bà Mộng đều ngồi ngoài hiên ngóng ra đầu làng, lòng lo lắng không yên. 

 

Xế chiều, điện thoại của chồng Lan gọi về, báo mẹ con họ đã bình an. Khi nghe được tin này, bà Mộng mới thôi căng thẳng. Cô con gái út nhỏ hơn cô chị hai tuổi, khi đến ngày sinh Lan bà nhận được tin cha bị thương nặng nơi chiến trường, khiến tinh thần không ổn định dẫn đến việc sinh nở diễn ra khó khăn. Bà chỉ sợ hai đứa con bà cũng sẽ giống bà, nhưng rồi tất cả đều đã ổn. 

 

Mọi ước mong đều đã hoàn thành, cũng không còn sức ôm chặt nỗi nhớ nhung thêm. Bà Mộng thều thào gọi tên con gái. “Thu à.”

 

Thu qua loa lau tay vài cái, rồi chạy đến cạnh bà. “Dạ má gọi con?”

 

“Má mệt quá Thu ơi.”

 

“Má thấy trong người sao? Để con gọi anh Dũng qua cùng đưa má đi viện.” 

 

Bà Mộng nằm viện suốt một tuần liền, vì sợ tốn tiền con gái nên đầu tuần bà đã đòi về. Bà biết rõ sức khỏe mình ra sao, giờ đây đắp thuốc cũng chỉ tiêu tiền vô ích. Lo lắng con gái út vừa sinh xong lại nghe tin bà rồi ảnh hưởng sức khỏe, bà Mộng cố gắng gượng đến khi con Lan đầy tháng.

 

Màn đêm phủ xuống một vùng trời, đèn đường soi rọi con đường làng. Lúc Việt đến bên bà Mộng, bà đã được Thu dìu lên giường nằm nghỉ. Chỉ mới mấy tháng không gặp, người bà thân thương của nó giờ đây đã hốc hác, ốm đi rất nhiều, không ngờ sức khỏe của bà lại suy yếu nhanh đến vậy. 

 

Việt ngồi bên giường, đặt giấy báo trúng tuyển đại học vào tay bà Mộng, đôi mắt đỏ hoe. “Ngoại, con nhớ Ngoại nhiều lắm. Ngoại nhìn nè, thấy con giỏi không?”

 

Bà Mộng khẽ cười. “Ừm, Việt của Ngoại giỏi quá.”

 

Nhìn con cháu mình một lượt, bà rầu rĩ gác tay lên trán: 

 

“Giờ trong mình thế nào má cũng chẳng cảm nhận được nữa con à, cơ thể cứ như không còn là của má. Má biết mình sắp đi rồi, nên muốn gặp các con lần cuối. Thấy con cháu bình an, má mới yên tâm nhắm mắt xuôi tay. Mà giờ này Út Lan với chồng con nó chưa tới nữa.”

 

Thu ngồi bên cạnh lên tiếng đáp: “Gia đình em Lan sắp qua tới rồi, má đợi gặp tụi nhỏ nhen. Má cũng đừng nói vậy, má phải ăn Tết với tụi con thêm nhiều năm nữa chứ.” 

 

Nay đã là cuối tháng 11 âm lịch, gió Đông tràn vào làng Ôn, ban đêm sương xuống càng khiến bầu không khí trở nên lạnh lẽo. Chỉ cần chịu qua cái lạnh sẽ hưởng được nắng Xuân ấm áp, đón một cái Tết đoàn viên, nhưng bà Mộng lắc đầu. 

 

“Má mệt rồi… năm nay má theo tía bây ăn Tết. Mấy ngày gần đây đêm nào má cũng thấy tía mấy đứa về thăm má, ổng vẫn ở đó… vẫn dõi theo má từng ngày. Vì vậy sau này má cũng sẽ nhìn các con từ trên cao. Tụi bây nhớ về thắp nhang cho má thường xuyên, má sẽ phù hộ các con. Còn thằng Việt, cố mà nên người, con mà có ý bậy bạ Ngoại về Ngoại kéo dò[7] con đấy!”

 

Nụ cười hiền hòa nở trên môi bà Mộng sau những câu nói như đùa. Người có mặt ở đây ai cũng rõ lời bà nói như câu trăng trối khi cuối đời. Thật lòng chẳng muốn bà rời đi, nhưng nhìn nét mặt tươi cười trong sự mệt mỏi, tất cả đành ngậm ngùi im lặng.

 

Việt rưng rưng nước mắt, cố gắng mỉm cười với bà. “Con nhớ mà, con có làm gì không phải thì Ngoại cứ gõ đầu thẳng tay cho con tỉnh người.” 

 

“Ừ, ừ. Ngoại đây nhớ hết mấy lời này đấy.”

 

Tiếng cười đùa vang khắp nhà, nhưng lòng ai cũng nặng trĩu.

 

Khoảng 7 giờ hơn, cuối cùng gia đình Lan cũng đã đến. Con trai Lan năm nay vừa tròn một tháng hai ngày, là con cầu con khấn của vợ chồng Lan. Bà Mộng đặt cho nó cái tên Bình, một mảnh ghép của hai từ hòa bình, cũng là Bình trong bình an. Ngày đứa cháu này chào đời, bà Mộng mới thật sự buông bỏ được việc hồng trần. Đến bây giờ, bà cũng chỉ còn đợi mỗi đứa cháu này.

 

Lan bế con trai đến cạnh bà Mộng, để bà thấy rõ khuôn mặt bụ bẫm của nhóc Bình. Lan khẽ nói: 

 

“Bình thưa Ngoại.”

 

“Bình ngoan.” Bà Mộng run run xoa đầu cậu bé, miệng cười tươi không ngừng.

 

Đêm nay không ai dám bỏ bà để đi ngủ. Đại gia đình ngồi quanh phòng khách, mắt hướng về phía bà Mộng nằm trên bộ ván ngựa. Khuôn mặt xanh xao, hốc hác, hơi thở chậm rãi và yếu ớt nhưng trên môi bà vẫn không dứt đi nụ cười ấm áp ấy. Đến gần nửa đêm, bà chỉ có thể thều thào gọi tên từng đứa con, đứa cháu trong nhà, mỗi một cái tên phát ra như rút cạn sức lực cuối cùng của bà.

 

Việt ngồi bên cạnh, tay nắm lấy tay bà Mộng, nó im lặng nhìn bà chăm chăm, như muốn khắc ghi từng đường nét trên khuôn mặt của bà Ngoại. Chỉ vừa biết cách dành tình thương cho bà từ năm ấy, lại nhận ra rằng thời gian bên bà chẳng còn bao nhiêu, để rồi từ nay chỉ có thể ôm nỗi tiếc nuối trong lòng theo năm tháng. 

 

Gọi hết từng cái tên trong nhà, Việt chợt thấy bà Mộng nhìn về phía bàn thờ ông Hòa, nó theo phản xạ quay đầu về hướng đó. Hình ảnh ông Ngoại hiện rõ trước mắt Việt, ông nhìn nó, rồi lại nhìn qua bà Mộng bên cạnh, sau một cái gật đầu từ ông Hòa, bàn tay đang nắm chặt của bà Mộng theo đó mà buông lỏng. 

 

Việt chỉ biết chộp lấy tay bà Mộng, lắc mạnh người bà mà không nghĩ được gì khác. 

 

“Ngoại! Ngoại ơi!”

 

Nghe tiếng gọi thất thanh của nó, bốn người lớn còn lại lập tức vây quanh bà Mộng. Thấy mẹ nhắm nghiền mắt, dù tự hiểu được kết quả nhưng Thu vẫn đưa tay lên mũi mẹ kiểm tra. Sau cùng, tất cả chỉ còn nghe những tiếng gọi “má ơi” não nề.

 

Căn nhà cuối làng Ôn, nơi có bà cụ ở làng này từ những năm khói lửa, nay đã vang lên tiếng kèn tiếng trống đầy ảm đạm. Dân làng xót thương không thôi,  nhưng dẫu sao bà cũng ra đi trong vòng tay của con cháu, với những khát khao và ước vọng đã hoàn thành. Ai cũng nói bà đi gặp chồng của mình, cùng ông ấy viết tiếp bài thơ màu hạnh phúc ở nơi xa xôi.

***

Sau khi làm xong đám cho bà Mộng, gia đình Việt lại về nhà tiếp tục những việc còn dang dở. Lần thấy ông Ngoại trước khi bà mất, nó biết ông về đón bà, nhiều năm sau mỗi khi Thu nhớ mẹ, nó luôn nói với cô rằng, ông và bà đã hạnh phúc ở nơi đó. Trên con đường trưởng thành của mình, Việt cảm nhận được ông bà luôn bên cạnh, dõi theo từng bước chân, từng hành động của nó. Vì thế, mỗi đoạn đường đi qua, Việt đều dành hết lòng bày tỏ lòng biết ơn đối với sự bảo bọc của tổ tiên nơi ấy.

 

Thế hệ ông bà đã kết thúc, dẫu vậy, giá trị và bài học mà họ để lại vẫn mãi hiện hữu trong lòng con cháu sau này. Việt luôn nhìn vào đó mà ghi nhớ, nhớ công lao và lý tưởng cao đẹp của những chiến sĩ đã hi sinh vì hòa bình đất nước như cách mà làng Ôn đã đồng lòng theo đuổi cái lý tưởng ấy.

 

Khi tốt nghiệp trường Đại Học An Ninh Nhân Dân, Việt trở về làng Ôn thăm ông bà sau thời gian dài tất bật với việc học. Đêm đó, Việt một mình ở lại ngôi nhà đã không còn hơi ấm của bà từ lâu, ngủ trên chiếc giường mà năm đó bà đích thân mua cho. Việt mong một lần nữa mơ thấy hình ảnh của ông bà như giấc mộng xưa, nhưng hôm nay chẳng thể nào được như ý nguyện. Dù vậy, tinh thần cậu vẫn được tiếp thêm năng lượng để quay lại thành phố, bắt đầu hành trình “phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân” theo con đường mà cậu đã chọn.

 

Đất nước đã không còn tiếng súng, nhưng nhiệt huyết bảo vệ non sông vẫn mãi trường tồn. Yêu quê hương, yêu đất nước, yêu cả máu xương nằm sâu nơi lòng đất. Lưu giữ, bảo vệ và truyền tải là nhiệm vụ để những trang ký ức lịch sử hào hùng của dân tộc không bao giờ bị trôi vào quên lãng. 

Hết

• Chú thích: [7] Dò: Chân

• Tư liệu tham khảo:

https://nhandan.vn/chien-thang-chien-tranh-bao-ve-to-quoc-o-bien-gioi-tay-nam-bai-hoc-cho-cong-cuoc-bao-ve-chu-quyen-dat-nuoc-post790960.html

Ngoài ra còn tham khảo thêm từ lời kể của các cụ, những người từng chứng kiến ở thời điểm diễn ra sự kiện.

Bình luận đoạn văn

Bình luận

Trả lời bình luận

Chỉnh sửa bình luận

Thiết lập văn bản

Xem trước

Nội dung sẽ hiển thị như thế này

Chọn font chữ

Cỡ chữ

12px 30px