Tôi là kẻ bị quỷ ám.
Trong cơ thể tôi rõ ràng đang tồn tại một thứ mang ý chí khác hẳn với tôi. Thân xác này của tôi giờ đây chẳng qua chỉ là một con rối bị thứ đó thao túng theo ý muốn của nó.
Nó thực sự rất ác ý. Nó thích bày ra những trò nghịch ngợm trẻ con để khiến tôi khiếp sợ bằng đủ mọi cách.
Có một đêm, tôi nhìn thấy một con sò khổng lồ to bằng con bê thò những chiếc xúc tu ra ngoài, để lại vệt chất nhầy trên sàn khi bò ngang qua căn phòng của tôi. Nó lừ lừ xuất hiện từ dưới gầm bàn rồi di chuyển trên nền gỗ với tốc độ chậm chạp đến khó chịu.
Lại có một buổi chiều tà, tại bốn góc phòng tạo bởi ô cửa sổ có chấn song sắt và ở tất cả những góc tối, không một ngoại lệ, góc nào cũng có hai ba con thạch sùng đang chực sẵn. Tất cả những điều này đều là thực tại mà thực thể bên trong bắt tôi phải chứng kiến.
Vào một buổi rạng đông mùa xuân, nó còn khiến tôi lạnh đến mức tưởng như sắp chết cóng. Đó chính là trò tiêu khiển của con quỷ trong tôi. Khi tôi ngày càng mất đi tuổi trẻ và thể lực suy kiệt, thứ bên trong này lại càng bắt đầu lộng hành, phô diễn sức mạnh của nó một cách ngang ngược hơn.
Đúng như Celsus (nhà triết học La Mã cổ) đã chỉ ra, để xua đuổi con quỷ kích động bệnh nhân ra khỏi cơ thể cần phải bắt người bệnh chịu hình phạt chỉ được ăn bánh mì và uống nước lã, đồng thời phải dùng gậy đánh họ.
Trong Phúc âm theo thánh Máccô có chép: "Thưa Thầy, tôi đã đem con trai tôi đến cùng Thầy; cháu bị một quỷ câm ám. Bất cứ ở đâu, hễ quỷ vật nó xuống là nó sùi bọt mép, nghiến răng và cứng đờ người ra. Tôi đã xin các môn đệ Thầy trừ khử tên quỷ đó, nhưng các vị không làm nổi."
Từ thuở nhỏ, để trục xuất con quỷ trong nội tạng này ra ngoài, tôi đã phải tự ép mình chịu đựng biết bao nhiêu đau đớn. Tôi đã nhận ra sự hiện diện của thứ bên trong này từ khi còn là một đứa trẻ.
Trong một cuốn sách có đoạn viết thế này: "Vào thời Trung Cổ, người ta đốt hương mạnh trước mặt người bị quỷ ám; khi kẻ đó lên cơn co giật và ngã xuống, người ta sẽ giật một túm tóc của kẻ đó bỏ vào bình rồi đậy nắp lại. Làm như vậy nghĩa là đã phong ấn được con quỷ vào trong bình, và người bệnh sẽ hồi phục."
Khi bản thân tôi lên cơn, tôi đã từng cầu xin những người xung quanh làm như thế. Nhưng không có ai chịu làm. Vì vậy, tôi tự mình thử làm, nhưng rốt cuộc chỉ có một mình thì không thể nào thực hiện được. Và ngay lập tức, tôi bị đánh giá là kẻ điên. Rồi người ta cố tình giam hãm những hiện tượng xuất hiện ở tôi vào trong một cái tên vô cùng đáng sợ và tầm thường: bệnh kinh phong (động kinh).
Nhưng những ai chưa từng trải qua thì chắc chắn sẽ không thể hiểu được. Nỗi đau ấy đã vượt khỏi phạm vi của hiện tượng sinh lý, vượt qua cả những tầng ý thức nhỏ bé như xấu hổ hay danh dự, và trở thành một thứ như nghi lễ trang nghiêm mà con người bất lực phải quỳ rạp trước nó. Trong khoảnh khắc đó, tôi chìm vào trạng thái mê đắm và nhận ra rằng mọi hành động tồn tại của bản thân trong thế giới này rốt cuộc chỉ là tạm bợ.
Bên trong cơ thể tôi, rõ ràng có một thực thể mang ý chí khác biệt với tôi, một con quỷ đang ký sinh. Nó có dạng hình cầu, có lẽ chính là thứ mà thời Trung Cổ người ta gọi là "khối hysteria" (chứng nghẹn họng do tâm lý).
Bình thường nó nằm yên ở vùng bụng dưới, quanh xương chậu, nhưng đôi khi nó trồi lên, len lỏi qua dạ dày và thực quản để bò lên tận cổ họng. Việc này xảy ra đều đặn mỗi tuần một lần, luôn luôn vào thứ Sáu. Mỗi khi như vậy, như trong những mô tả của Thánh Cyrillus, tôi bị quật ngã xuống đất, lưỡi co rút, môi run rẩy, miệng sùi bọt. Trong khoảnh khắc ấy, tôi nghe thấy tiếng cười lớn kinh hoàng của lũ quỷ ngay bên tai, và cảm nhận được chúng đang dùng búa đóng từng chiếc đinh sắc nhọn găm vào khắp cơ thể mình.
Dòi bọ, rắn rết, và cóc nhái cứ hết con này đến con khác bò ra, xác chết của người và động vật hiện lên khắp phòng. Những loài bò sát bẩn thỉu đó tiến lại sát bên tôi, cắn vào mũi, tai, môi tôi, vừa phát ra những tiếng xì xì như tiếng hơi nước bốc lên, vừa phun ra mùi hôi thối nồng nặc khắp xung quanh. Chính vì vậy, tôi không hề cảm thấy kỳ lạ chút nào khi thấy người ta chuẩn bị rất nhiều loài bò sát cho các buổi tế lễ hay nghi thức ma thuật.
Lại nữa, dạo gần đây, dù không còn sùi bọt mép (gần đây tôi hầu như không còn bị ngã gục nữa), nhưng cứ đến mỗi thứ Sáu, tôi lại cảm thấy thánh tích (vết thương tâm linh) trong lồng ngực mình đang rỉ máu. Theo một nghĩa nào đó, đây là một thử thách còn đau đớn hơn cả việc bị ngã quỵ. Tôi có cảm giác như mình đã trở thành một kẻ cuồng sảng trong trạng thái pháp duyệt (trạng thái hân hoan tột độ khi tiếp xúc với thần linh) giống như nữ tu Catarina Ciarina vào thế kỷ mười bảy, hay Amelia Bitcheri của vùng Versailles vậy.
Đó là do con quỷ trong tôi đang hối thúc. Vô số trò quấy nhiễu nhắm vào tôi cũng chính vì lẽ đó. Tôi phải hành động. Hành động đó là, với sự trợ giúp của ác quỷ, tạo ra trên thế gian này một người đàn bà hoàn hảo đúng như yêu cầu của nó; người đàn bà đó theo một nghĩa nào đó chính là Thần, hay theo cách gọi thông tục thì có thể gọi là một phù thủy có quyền năng tối thượng, toàn tri toàn năng.
Dạo này tôi thường mơ thấy điều đó. Cứ lặp đi lặp lại, tôi mơ thấy cùng một giấc mơ. Giấc mơ chính là nguồn cội của mọi loại ma thuật. Cỏ ma thuật của Plinius (nhà tự nhiên học La Mã cổ đại) cũng tốt, nhưng đối với tôi, việc đốt thịt thằn lằn thành tro, trộn với loại vang thượng hạng rồi bôi lên khắp cơ thể trước khi ngủ cũng mang lại hiệu quả. Giờ đây, khi đã trở thành con rối của quỷ, không, nói đúng hơn là đã hóa thân thành chính con quỷ, tôi lại nhìn thấy hình bóng của người đàn bà mang vẻ đẹp hoàn mỹ được tổng hợp và tạo thành này hiện lên trong những ảo ảnh mỗi đêm.
Nàng mang một vẻ đẹp tựa như một giấc mơ, có sức nặng tinh thần, có quyền năng và có một sự chuẩn mực về mặt hình thể mà một cây cọ như của tôi tuyệt đối không thể nào tái hiện nổi lên bức bạt canvas. Giờ đây, tôi đã không thể kìm nén nổi một khát vọng điên cuồng, còn hơn cả một lời cầu nguyện, rằng tôi muốn được chiêm ngưỡng dung nham ấy dù chỉ một lần, muốn được nhìn thấy rồi có chết cũng cam lòng.
Người đàn bà ấy chính là “Azoth”. Hòn đá của các nhà triết học. Tôi đã quyết định gọi người phụ nữ này là Azoth. Chính Azoth này là người đàn bà lý tưởng, là giấc mơ mà tôi đã đuổi theo trên những bức bạt canvas suốt hơn ba mươi năm qua.
Tôi hiểu cơ thể con người được chia thành sáu phần: đầu, ngực, bụng, hông, đùi và bàn chân.
Trong chiêm tinh học phương Tây, bản thân cơ thể người; một dạng vật thể có hình túi chính là sự phản chiếu của vũ trụ, là một dạng thu nhỏ, vì thế đối với mỗi phần trong sáu phần này đều có các hành tinh hộ mệnh tồn tại một cách nghiêm ngặt.
Phần đầu chịu sự chi phối của cung Bạch Dương và hành tinh bảo hộ là sao ♂ (Sao Hỏa). Nghĩa là, một góc của vũ trụ mang hình thể con người, tức phần đầu, thuộc phạm vi thống trị của Bạch Dương, và vì Bạch Dương được sao ♂ bảo hộ nên có thể nói phần đầu được tiếp sức bởi sao ♂.
Phần ngực vừa là vùng của chòm sao Song Tử, đồng thời cũng là vùng của chòm sao Sư Tử. Do đó, nó được bảo hộ bởi hành tinh hộ mệnh của chòm sao Song Tử là ☿ (Thủy tinh), hoặc của chòm sao Sư Tử là ☉ (Mặt Trời). Hoặc giả, nếu ở trường hợp phụ nữ, người ta có thể coi phần ngực này là vùng của bầu ngực, và nếu vậy thì đây là vùng chi phối của chòm sao Cự Giải, nên cũng có thể nói là thuộc phạm vi bảo hộ của ☽ (Mặt Trăng) thuộc chòm sao Cự Giải.
Phần bụng tương ứng với chòm sao Xử Nữ, nên do hành tinh hộ mệnh của chòm sao Xử Nữ là ☿ (Thủy tinh) thống trị.
Phần hông là chòm sao Thiên Bình, nên do hành tinh hộ mệnh của chòm sao Thiên Bình là ♀ (Kim tinh) cai quản. Tuy nhiên, nếu đây cũng là trường hợp của phụ nữ, thì có thể coi là tử cung, tức là phần có chức năng sinh sản, và nếu vậy thì đây sẽ trở thành vùng thống trị của chòm sao Thần Nông (Thiên Yết). Nói cách khác, cũng có thể bảo rằng hành tinh hộ mệnh của chòm sao Thần Nông là ♇ (Minh Vương tinh) đang thống trị nơi này.
Phần đùi thuộc phạm vi của Nhân Mã, do đó chịu sự chi phối của hành tinh bảo hộ là sao Mộc.
Phần bàn chân thuộc cung Bảo Bình, vì vậy nằm dưới sự thống trị của hành tinh bảo hộ là Thiên Vương.
Cơ thể con người, theo cách như vậy, luôn có một bộ phận được tăng cường bởi một hành tinh nào đó. Ví dụ, người sinh dưới cung Bạch Dương sẽ có phần đầu được tăng cường, còn người thuộc cung Thiên Bình sẽ có phần hông được các vì sao tăng cường sức mạnh. Vị trí này được quyết định bởi vị trí của Mặt Trời vào thời khắc họ sinh ra. Nhưng nếu nói theo cách ngược lại, chính việc mỗi người chỉ có một bộ phận được tăng cường như vậy đã khiến con người mãi mãi chỉ là con người. Lý do con người trong suốt cuộc đời không thể vượt lên trên cái gọi là “sự tầm thường của con người” chính là vì trong cơ thể họ chỉ có đúng một điểm duy nhất nhận được sự ban phúc của các vì sao.
Người thì được tăng cường phần đầu, người thì được tăng cường phần bụng, cứ như thế, vô số con người sống rải rác trên thế gian này, mỗi người mang trên cơ thể duy nhất một bộ phận được tăng cường sức mạnh khác nhau. Từ trong số những người đó, nếu ta tập hợp sáu người có các bộ phận được tăng cường sức mạnh khác nhau; phần đầu của người được tăng cường phần đầu, phần ngực của người được tăng cường phần ngực, phần bụng của người được tăng cường phần bụng, v.v. rồi lấy ra chỉ những phần được tăng cường từ mỗi người và tổng hợp lại thành một cơ thể duy nhất, thì sẽ ra sao!?
Một cơ thể hoàn hảo với mọi bộ phận đều nhận được sự ban phước của các hành tinh, một vũ công của ánh sáng sẽ được sinh ra ngay tại đây. Đây nếu không gọi là một thực thể siêu việt hơn con người thì còn là gì nữa!?
Những gì được ban sức mạnh, về cơ bản cũng sẽ hội tụ cả vẻ đẹp. Nếu như cơ thể ánh sáng này được tạo tác từ sáu người trinh nữ, thì nó hẳn sẽ trở thành một "người phụ nữ" sở hữu vẻ đẹp hoàn mỹ. Là một kẻ đã không ngừng theo đuổi vẻ đẹp hoàn thiện của người phụ nữ trên những bức bạt canvas, đối diện với vẻ đẹp hoàn mỹ chắc chắn sẽ xuất hiện này, tôi không thể kìm nén được niềm khao khát hệt như một sự kính sợ.
Thật may mắn làm sao, gần ngay trước mắt tôi lại có sáu trinh nữ. Gần đây tôi nhận ra điều đó.
Hay nói chính xác hơn, chính việc tôi phát hiện ra rằng sáu cô gái đang sống trong dinh thự của tôi một cách tình cờ lại thuộc về sáu cung hoàng đạo khác nhau, và mỗi người mang trong cơ thể một phần được các hành tinh ban phúc, đã trở thành nguồn cảm hứng cho việc tạo ra Azoth một linh cảm mang tính nghệ thuật.
Điều đáng kinh ngạc theo lẽ thường của thế gian là tôi là cha của năm cô con gái.
Theo thứ tự từ lớn đến bé là Kazue, Tomoko, Akiko, Tokiko, và Yukiko; thế nhưng từ Kazue, Tomoko đến Akiko đều là con riêng của Masako, người vợ thứ hai của tôi. Yukiko là con gái do tôi và Masako sinh ra, còn Tokiko là con gái do tôi và người vợ trước, Tae, sinh ra. Hai đứa trẻ Yukiko và Tokiko này, tình cờ thay lại bằng tuổi nhau.
Masako vốn là một vũ công ba lê, dạy múa và dương cầm cho các con gái tôi, cả Rieko và Nobuyo cũng tham gia học. Đây là hai đứa cháu gái đang sống cùng chúng tôi, con của Yoshio em trai tôi.
Kazue (cung Ma Kết, sinh năm 1904) sống một mình ở nhà riêng của nó từ khi ly hôn, nên trong nhà tôi chỉ còn sáu phụ nữ: Tomoko (Bảo Bình, sinh năm 1910), Akiko (Thiên Yết, sinh năm 1911), Yukiko (Cự Giải, sinh năm 1913), Tokiko (Bạch Dương, sinh năm 1913), Reiko, cháu họ tôi (Xử Nữ, cũng sinh năm 1913) và Nobuyo, em gái Reiko (Nhân Mã, sinh năm 1915).
Do đó, tôi nhận ra số phận mình đã được định sẵn. Con quỷ xúi giục tôi hi sinh những thiếu nữ này. Kazue (31 tuổi) lớn hơn hẳn những người khác, vì vậy tôi loại nó ra khỏi nhóm. Tôi sẽ phải dùng đầu của Tokiko, ngực của Yukiko, bụng của Reiko, hông của Akiko, đùi của Nobuyo và chân của Tomoko để tạo thành một phụ nữ. Sẽ gợi cảm hơn nếu như hông là của Thiên Bình và bộ ngực là của một trinh nữ Song Tử, nhưng không thể quá tham lam và cầu toàn như vậy được. Azoth là nữ nên ngực của nàng có thể được thể hiện bằng bầu vú và hông có thể được thay bằng tử cung. Bởi con quỷ rất rộng lượng nên tôi biết việc thay thế hai bộ phận này có thể chấp nhận được!
Tuy nhiên để thành công, tôi sẽ phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy tắc của thuật giả kim để tạo ra cuộc sống vĩnh cửu. Sáu trinh nữ sẽ là những nguyên tố kim loại để tôi luyện thành vàng. Khi mọi việc hoàn tất, bầu trời trong xanh sẽ xua tôin mây đen u ám, tôi sẽ được giải thoát khỏi tra tấn và đau đớn cực độ.
Ôi chao, người tôi run lên! Tôi muốn biết Azoth trông như thế nào! Tôi muốn thấy ba mươi năm nỗ lực của tôi đơm hoa kết trái. Đây sẽ là tác phẩm nghệ thuật của phân xưởng ma quỷ! Trong lịch sử, chưa ai có ý tưởng giống tôi về một nghi lễ hắc ám, một hòn đá phù thủy, và mọi tác phẩm điêu khắc tôn vinh vẻ đẹp của người phụ nữ trước đây đều trở nên nhạt nhòa trước Azoth.
Tất nhiên, cả sáu thiếu nữ sẽ phải chết. Cơ thể của chúng sẽ bị cắt làm ba mảnh (với Tokiko và Tomoko thì cắt làm hai). Azoth sẽ hình thành từ những bộ phận được chọn, phần còn lại sẽ được xử lý đúng cách. Các thiếu nữ chết đi nhưng một phần cơ thể chúng thì bất tử với Azoth. Giả sử chúng biết lý do phải chết thì tôi chắc chúng cũng vui lòng với số phận của mình.
Tôi sẽ tuân thủ nguyên tắc của thuật giả kim:
- Công việc được tiến hành khi Mặt Trời nằm trong cung Bạch Dương. Tokiko, người thuộc cung Bạch Dương, sẽ dâng hiến cái đầu. Vì vậy nó sẽ bị giết bằng ♂ ứng với Hỏa Tinh và cũng đại diện cho sắt trong thuật giả kim.
- Yukiko thuộc cung Cự Giải sẽ dâng hiến bộ ngực. Vì vậy, nó sẽ bị giết bởi ☽ ứng với Mặt Trăng và đại diện cho bạc trong thuật giả kim.
- Reiko thuộc cung Xử Nữ sẽ dâng hiến phần bụng. Vì vậy nó cần nuốt ☿ để chết. Biểu tượng này ứng với Thủy Tinh và đại diện cho thủy ngân trong thuật giả kim.
- Akiko thuộc cung Thiên Yết sẽ dâng hiến phần hông. Bảo hộ cho nó là ♇, tức là Diêm Vương Tinh hiện nay. Nhưng tôi muốn làm theo truyền thống Trung cổ, vì vậy sẽ cần ♂ cho cái chết của nó.
- Nobuyo thuộc cung Nhân Mã sẽ dâng hiến phần đùi. Vì thế nó sẽ chết bằng ♃, biểu tượng ứng với Mộc Tinh và đại diện cho thiếc trong thuật giả kim.
- Tomoko thuộc cung Bảo Bình sẽ dâng hiến đôi chân, được Thiên Vương Tinh bảo hộ. Tuy nhiên ở thời Trung cổ, Thiên Vương Tinh chưa được phát hiện, vì vậy người tôi dùng ♅. Do đó, Tomoko có thể chết bằng ♄,biểu tượng cho Thổ Tinh và đại diện cho chì trong thuật giả kim.
Tôi sẽ pha tro vào rượu để thanh tẩy cơ thể của cả tôi và chúng trước khi tiến hành. Sau khi được cưa ra khỏi cơ thể, các bộ phận sẽ được ghép cẩn thận vào khuôn trên cây thập tự gỗ – nơi tôi tạo ra Azoth. Lẽ ra có thể dùng đinh để cố định Azoth – giống như Đức Ki Tô – nhưng tôi lại sợ những chiếc đinh gây hư hại cho nàng. Tôi sẽ trang điểm Azoth bằng những con thằn lằn nhỏ như Hecate từng nhắc đến trong lời sấm của mình. Sau đó, tôi sẽ chuẩn bị “Ẩn hỏa”, một loại lửa thực thụ theo lý thuyết của Hontanus và nhiều nhà giả kim khác, nhưng thực tế thì không phải “Ẩn hỏa” (hay lửa cháy mà không có lửa) chỉ là hỗn hợp gồm muối ⊖và hương. Hỗn hợp này còn được thêm thịt cừu, bò, trẻ sơ sinh, cua, sư tử, trinh nữ, bọ cạp, dê, cá – những biểu tượng chiêm tinh. Cuối cùng thêm vào đó cả ếch và thằn lằn. Tất cả hỗn hợp sẽ được đưa vào lò luyện mà các nhà giả kim gọi là “Athanor” (lò tháp).
Tôi sẽ đọc câu thần chú viết trong cuốn cổ thư “Philosophumena” về Origen của Thánh Hippolytus:
Viens, infernal terrestre et céleste Bombô,
déesse des grands chemins, des carrefours,
toi qui apportes la lumière, qui marches la nuit,
ennemie de la lumière, amie et compagne de la nuit,
toi que réjouissent l"aboiement des chiens et le sang versé,
qui erres au milieu des ombres à travers les tombeaux,
toi qui désires le sang et qui apportes la terreur aux mortels,
Gorgo, Mormo, lune aux milles formes,
assiste d"un œil propice à nos sacrifices.
(Hãy tới đây, hạ giới và vòm trời Bombô,
Nữ thần của những đại lộ và ngã tư,
Chính là người mang đi ánh sáng, chính là người đi trong màn đêm,
Kẻ thù của ánh sáng, bạn bè và người đồng hành của bóng đêm,
Chính là người khuấy động cho chó sủa và cho máu phải đổ xuống,
Chính là người lang thang trong bóng tối và lướt qua những ngôi mộ,
Chính là người đam mê máu và mang đến nỗi sợ hãi cho loài người,
Gorgo, Morno và mặt trăng dưới các dạng hình,
Hãy phù trợ cho lễ hiến tế của chúng tôi.)
Sau khi luyện xong, hỗn hợp được đưa vào “Quả trứng Phù thủy”, ấp cho đến khi trở thành một thứ thần dược dùng để gắn từng phần của những cơ thể trước kia thành một cơ thể mới hoàn chỉnh với một cuộc sống bất tử. Khi người phụ nữ hoàn hảo đó bước ra với đời, tôi sẽ trở thành nhà giả kim vĩ đại.
Đây chính là “kiệt tác” của cái gọi là “giả kim thuật” mà người tôi thường coi như là công việc của phù thủy, mặc dù không thể phủ nhận rằng giả kim thuật đóng góp đáng kể cho sự tiến bộ của môn hóa học, giống như thuật tử vi là nền tảng của chiêm tinh. Thật ngu xuẩn nếu chối bỏ truyền thống của tổ tiên. Mục đích của thuật chiêm tinh thâm sâu hơn người tôi tưởng: nó thể hiện bản chất đích thực của sự vật, chẳng hạn như “sắc đẹp tối thượng” hay “tình yêu tối thượng”. Ý thức của chúng tôi có xu hướng bị trần tục hóa bởi cuộc sống thường nhật. Nhưng thông qua quá trình giả kim, chúng tôi có thể thanh lọc tâm hồn mình và vượt lên trên mọi thứ trần tục. Ở phương Đông, Thiền được coi là tương ứng với giả kim thuật của phương Tây. Mục đích thực sự của giả kim là sáng tạo ra một “vòng tròn vĩnh cửu” hoặc sự cứu rỗi toàn cầu.
Một số người đã cố gắng tạo ra vàng bằng thuật giả kim, nhưng thực sự việc này chỉ là một trò bịp bợm không hơn. Nhiều người tìm kiếm “nguyên tố đầu tiên” trong các hầm mỏ dưới lòng đất, nhưng nguyên tố đâu nhất thiết cứ phải là kim loại hay khoáng vật. Paracelsus nói: “Anh có thể thấy nó ở mọi nơi và trẻ con vẫn chơi thứ đó.” Riêng tôi tin rằng nó nằm bên trong cơ thể phụ nữ. Nó có thể ở đâu được chứ?
Tôi biết rất rõ mình mang tiếng là một kẻ điên khùng. Tôi có thể khác mọi người, chính điều đó khiến tôi trở thành nghệ sĩ. Nghệ thuật không phải là sự sao chép tác phẩm của người khác, nghệ thuật thực sự chỉ tồn tại trong sự khác biệt. Tôi sẽ không bao giờ đi theo vết chân của người khác, mặc dù việc đó có thể dễ dàng hơn. Tôi thích sáng tạo con đường của riêng mình! Tôi không phải là một kẻ hung tợn khát máu, nhưng tôi thừa nhận mình phấn khích thái quá ngay từ lần đầu tiên chứng kiến quá trình giải phẫu cơ thể người. Tôi bị cuốn hút một cách không thể lý giải được trước những xác người dị dạng. Tôi thích nhìn một cánh tay trật khớp và sự biến đổi trên bắp thịt một người đang hấp hối. Tôi ước gì mình có cơ hội để vẽ lại những thứ như vậy. Tôi dám chắc nhiều họa sĩ khác cũng có mong muốn như ta.
Bây giờ tôi muốn kể về quá khứ của mình. Tôi khám phá ra những điều kỳ diệu của thuật tử vi từ khi còn niên thiếu. Thời đó tử vi chưa phổ biến ở Nhật Bản, người giới thiệu tôi đến với bộ môn này chính là nhà chiêm tinh đầu tiên của Nhật Bản. Mẹ tôi đã biết tiếng ngài và khao khát học hỏi kiến thức uyên thâm đó. Tôi chẳng muốn đến nhưng vẫn phải đi cùng với mẹ, để rồi kinh ngạc khi chứng kiến bậc thầy chiêm tinh hành nghề. Ngài có thể nhìn thấu quá khứ cũng như tương lai của một người! Tôi bị mê hoặc về điều đó và trở thành học trò của thầy. Về nguồn gốc, thầy tôi là một nhà truyền giáo đến từ Hà Lan, nhưng đã bị trục xuất khỏi giáo đoàn vì sao nhãng sứ mệnh truyền giáo. Từ đó trở đi, tiên đoán vận mệnh trở thành công việc duy nhất của thầy.
Tôi sinh ra tại Tokyo vào lúc 7 giờ 31 phút chiều 26 tháng Giêng năm 1886. Theo chiêm tinh học, Cung Mặt Trời[2] của tôi là Bảo Bình và Cung Mọc[3] của tôi là Xử Nữ với hành tinh chủ là Thổ Tinh. Vì vậy, Thổ Tinh là biểu tượng của cuộc đời ta, nắm giữ số mệnh ta. Chính Thổ Tinh hướng ta
đến với thuật giả kim. Thổ Tinh biểu hiện qua chì, một trong những nguyên tố hóa học cơ bản. Hiểu ra điều này đã khiến tôi tin rằng thuật giả kim sẽ trau dồi nghề nghiệp của ta. Thổ Tinh hàm chứa những thách thức và tính kiên trì. Thầy tôi tiên đoán rằng tôi sẽ phải đấu tranh với mặc cảm tự ti trong suốt cuộc đời, và rằng sức khỏe tôi rất kém, đặc biệt là khi còn nhỏ. Tôi được khuyên là phải cẩn thận nếu không sẽ bị bỏng. Lời cảnh báo đã trở thành sự thực khi tôi sao nhãng. Ở trường tiểu học, tôi đã bị ngã vào một cái lò than và bị bỏng nặng cẳng chân phải. Vết sẹo từ vụ tai nạn vẫn theo tôi đến tận bây giờ.
Thầy cũng dự đoán chuyện tình yêu tôi không được thuận lợi. Trên thực tế, tôi có hai đứa con gái do hai bà mẹ sinh ra trong cùng một năm. Ông ấy cũng dự đoán về những rắc rối trong hôn nhân của ta: mặc dù Kim Tinh nằm ở cung Song Ngư nên tôi bị cuốn hút đến với những phụ nữ Song Ngư một cách rất tự nhiên, nhưng trên thực tế tôi lại kết hôn với một người thuộc cung Sư Tử, và năm 28 tuổi gánh nặng trách nhiệm gia đình của tôi sẽ tăng lên gấp bội. Trên thực tế, Tae – người vợ đầu của ta, đúng là người thuộc cung Song Ngư. Trong thời gian vẽ vũ công ba lê theo phong cách Degas, tôi gặp Masako, một người mẫu đã có chồng. Hoàn toàn thụ động và gần như bị cưỡng ép, tôi đã làm tình với Masako. Chúng tôi tiếp tục mối quan hệ bất chính cho đến khi Yukiko ra đời cùng năm với con gái của Tae, thì tôi ly dị với Tae và giành quyền nuôi Tokiko. Sau đó tôi kết hôn với Masako. Tất cả những việc này đều xảy ra vào năm tôi 28 tuổi.
Hiện nay, Tae bán thuốc lá tại căn nhà tôi mua cho bà ấy ở Hoya. Lúc ly hôn, tôi rất lo cho Tokiko, không biết nó sẽ sống thế nào với những đứa con gái khác dưới cùng một mái nhà. Nhưng xem ra nó vẫn hòa thuận với chúng mà không có bất cứ vấn đề gì. Hai mươi năm đã qua kể từ khi ly hôn, tôi vẫn cảm thấy có lỗi với Tae. Nếu Azoth trở thành kiệt tác của đời ta, tôi có ý định dành hết tài sản kiếm được cho Tae để chuộc lỗi với bà ấy.
Lá số tử vi của ta, theo như lời thầy số nói, cho thấy tôi có xu hướng kín đáo và cô độc, và có khả năng sẽ bị giam trong bệnh viện hay một cơ sở từ thiện – nói cách khác, tôi sẽ sống một cuộc đời xa cách những người khác. Thực tế hiện giờ, tôi hiếm khi gặp gia đình mình, họ sống bên nhà chính, còn tôi thường xuyên ở xưởng vẽ, vốn là nhà kho cũ ở sân sau được tôi cải tạo lại.
Theo lá số tử vi, tôi được chiếu mệnh bởi hai hành tinh – Hải Vương Tinh và Diêm Vương Tinh nằm trong nhà thứ chín – một trường hợp rất hiếm gặp. Các hành tinh ở nhà thứ chín có ảnh hưởng lớn hơn hành tinh ở những nhà khác. Hậu vận của tôi bị chi phối bởi những hành tinh này. Nhà thứ chín hàm chứa sức mạnh thần bí và niềm đam mê đối với tà giáo. Thầy nói tôi sẽ dính vào thuật phù thủy và phải lang bạt qua nhiều nước. Ông nói rằng, căn cứ theo chuyển động của Mặt Trăng, tôi sẽ rời Nhật Bản vào năm 19 hoặc 20 tuổi và chuyến đi này sẽ đánh dấu một bước ngoặt trong cuộc đời ta. Kết quả là năm 19 tuổi tôi đã đặt chân lên nước Pháp, và chính ở nơi đây tôi đã đến với chủ nghĩa thần bí.
Tôi không phải tín đồ cuồng nhiệt của thuật chiêm tinh, nhưng tất cả những lời tiên tri của thầy đều lần lượt trở thành sự thật, bất chấp mọi kháng cự của ta. Định mệnh cũng không buông tha các thành viên trong gia đình Umezawa, đặc biệt là phụ nữ, họ đều lận đận trong tình yêu và hôn nhân. Tae đã ly hôn và giờ đây tôi lại chọn tự sát nên Masako sẽ thành góa bụa. Mẹ tôi thất bại trong hôn nhân, giống bà nội ta. Kazue, con gái lớn của Masako, cũng mới ly dị gần đây.
Tomoko năm nay 26 tuổi, và Akiko 24 tuổi. Chúng sống với mẹ trong ngôi nhà chính rộng rãi. Chúng tự kiếm sống bằng cách dạy đàn dương cầm và dạy múa ba lê nên chúng lựa chọn cuộc sống độc thân. Do căng thẳng lên cao giữa Nhật Bản và Trung Quốc, thanh niên sớm muộn sẽ phải nhập ngũ, Masako lại không thích lính tráng nên đây là cớ để bà ấy biện minh cho việc các con gái của mình vẫn chưa lập gia đình.
Mọi thứ dường như đều suôn sẻ, nhưng rồi Masako và đám con gái của bà ấy bắt đầu nung nấu một mục đích nào đó với mảnh ruộng rộng 2.400 mét vuông của gia đình. Họ liên tục mò vào xưởng vẽ của tôi, thúc bách tôi xây một khu chung cư. “Các người có thể làm bất cứ chuyện gì sau khi tôi chết,” tôi bảo họ như vậy.
Thật sự không công bằng cho lắm đối với em trai tôi, Yoshio, khi tôi là người kiểm soát đất đai của gia đình Umezawa chỉ bởi vì tôi là con trai trưởng. Vợ chồng chú ấy luôn luôn được hoan nghênh tới sống trong ngôi nhà chính, nhưng họ nhã nhặn từ chối lời mời của tôi, mặc dù đã cho các con gái chuyển tới đó. Có thể giữa Masako và Ayako, vợ của Yoshio, có sự xung khắc. Tuy nhiên, nếu như một chung cư được xây lên sau khi tôi chết thì Yoshio và Ayako sẽ vui vẻ đến sống ở đó, tiết kiệm được khoản tiền thuê nhà hàng tháng. Thế nhưng tôi vẫn là người duy nhất phản đối kế hoạch này. Masako, người đứng đầu cả nhóm, và đám con gái đều tỏ ra cực kì chán nản. Tôi lo rằng nếu tình trạng này kéo dài, họ sẽ tìm cách làm hại tôi; có khả năng họ sẽ đầu độc tôi mất. Gần đây, tôi đã nghĩ rất nhiều về Tae. Bà ấy là một phụ nữ thùy mị và biết vâng lời; tuy chẳng làm tôi hứng thú nhưng so với Masako thì bà ấy đúng là thiên thần.
Tôi bác bỏ đề nghị của họ là do tình yêu đối với xưởng vẽ nằm ở góc tây bắc sân nhà. Sau khi thừa kế từ cha mẹ tài sản ở Ohara, khu Meguro, Tokyo, tôi đã cải tạo nhà kho cũ và biến nó thành xưởng vẽ. Tôi dành hầu hết thời gian ở đây. Xưởng có cây cối bao quanh tạo cho tôi một không gian riêng tư thực sự. Nếu xây chung cư, xưởng vẽ vẫn có thể được giữ lại nhưng sẽ phải chặt hết cây cối xung quanh. Xưởng vẽ lộ thiên thì còn gì là biệt khu của tôi nữa. Làm thế nào tôi tập trung làm việc được khi dân chung cư suốt ngày lượn như đèn cù xung quanh? Không thể được.
Từ khi còn nhỏ, tôi đã rất thích vẻ ảm đạm của nhà kho này và chọn đó là địa điểm vui chơi của mình. Sở thích đối với không gian khép kín của tôi không hề thay đổi mãi cho tới gần đây. Để có thêm ánh sáng cho xưởng vẽ, tôi buộc phải trổ hai cửa trời thật lớn, bên dưới lắp khung sắt bảo vệ. Các cửa sổ tầng trệt cũng được lắp khung sắt. Tôi thích mấy ô cửa trời. Vào những buổi chiều thu, tôi có thể nhìn thấy những chiếc lá rơi trên kính. Song sắt và lá rơi in bóng xuống nền xưởng vẽ giống như những nốt nhạc. Chúng đẹp đến nỗi khiến tôi có cảm xúc ngân nga những bài hát yêu thích, Đảo Capri và Phong lan dưới ánh trăng. Tôi cũng bố trí luôn một phòng tắm và bếp tại đây. Tôi ngủ một mình trên chiếc giường quân sự có bánh xe, vì vậy có thể đẩy đi bất cứ chỗ nào trong phòng mà tôi muốn.
Tôi bỏ tầng hai để nâng gấp đôi chiều cao trần nhà, nền xưởng vẽ trông rất rộng rãi. Nhờ không gian thoáng đãng, giờ đây tôi có thể cất giữ những bức tranh khổ lớn hoặc chiêm ngưỡng những tác phẩm nghệ thuật của mình từ xa. Tôi cho bịt hai cửa sổ ở mạn bắc và tây xưởng vẽ vì chúng đối diện với bức tường đá nên hơi thiếu sáng. Tôi dựa những bức vẽ vào tường, tổng cộng là mười một bức khổ lớn. Chúng là một phần trong bộ sưu tập tranh với tên gọi “Mười hai cung Hoàng đạo” của tôi. Phác thảo cho bức tranh thứ 12 có tên Bạch Dương, gần như đã hoàn thiện. Tôi sẽ sớm bắt tôiy tạo ra Azoth. Khi hoàn thành, tôi sẽ rời bỏ thế giới này mãi mãi.
Tôi đến Paris năm 1906, lúc còn trẻ và năng động. Hồi ấy tôi chưa thạo tiếng Pháp, lại chẳng gặp được bao nhiêu du khách Nhật nên thấy rất cô đơn, thường có cảm giác mình là người duy nhất trên cõi đời này mỗi khi đi dạo dưới trăng. Rồi khả năng ngôn ngữ được cải thiện dần, tôi bớt cô đơn và cảm thấy thoải mái hơn. Tôi bắt đầu đến khu La-tinh. Mùa thu ở Paris thật tuyệt vời. Tôi thích tiếng xào xạc của lá khi cuốn theo gió và độ tương phản tuyệt đẹp chúng tạo ra khi đáp xuống nền nhà xám. Những tấm rèm rủ quanh trái tim từ từ kéo lên, để tôi cảm nhận trọn vẹn khung cảnh ấn tượng của Paris.
Tại đây tôi phát hiện ra những tác phẩm của Gustave Moreau. Tôi còn nhớ như in tấm biển vàng có khắc số “14” ở nhà ông ấy tại Đại lộ Rochefoucauld. Gustave Moreau có ảnh hưởng rất lớn đến phong cách nghệ thuật của tôi, đó thực sự là một trong những nghệ sĩ vĩ đại nhất, có thể sánh ngang cùng Van Gogh.
Vào một ngày cuối thu tại La Fontaine de Médicis, địa điểm yêu thích của tôi, tôi gặp một phụ nữ trẻ. Trong không khí lạnh lẽo, cây cối vươn những cành khẳng khiu trụi lá dưới bầu trời u ám làm tôi liên tưởng tới mạch máu của người già. Mùa đông đã bắt đầu len lỏi trên từng góc phố. Điều tôi không nhận ra là mùa xuân cũng đang ở ngay trước mắt tôi, tựa mình vào lan can kim loại và đắm trong suy tưởng. Nhận ra nàng cũng là người châu Á, tôi bèn đi tới chỗ nàng. Trông nàng có vẻ hơi nhút nhát. Tôi cảm nhận được vẻ e thẹn đặc trưng của các thiếu nữ Nhật Bản, nhưng tôi không dám chắc nàng có phải người Nhật hay không. Nàng có thể là người Trung Quốc lắm chứ. Tuy nhiên, nàng có vẻ bớt căng thẳng khi nhìn thấy tôi. Chớp cơ hội, tôi nói bằng tiếng Pháp rằng dường như mùa đông đang tới rất gần: “On dirait que l’hiver arrive.” Ở Nhật Bản, hiếm khi người tôi tiếp cận người lạ theo cách này, nhưng nói bằng ngoại ngữ khiến tôi thấy bạo dạn hơn. Dường như nàng không hiểu. Nàng lắc đầu và bắt đầu bỏ đi với dáng điệu buồn bã. Tôi quyết định hỏi xem có phải nàng là người Nhật không: “Kimi wa nihonjin desu ka?” (Em có phải là người Nhật Bản không?). Nàng dừng bước và quay lại, vẻ rầu rĩ biến thành một nụ cười tuyệt đẹp. Chúng tôi yêu nhau ngay từ cái nhìn đầu tiên. Tên nàng là Yasue Tomita.
Sau đó, chúng tôi gặp nhau hàng ngày và sự cô đơn biến thành hạnh phúc thực sự. Vào mùa đông, thường có những người bán hạt dẻ rang gần đài phun nước. Họ rao “Nóng giòn, nóng giòn, hạt dẻ nóng và giòn đê!” Yasue và tôi thường xuyên mua một ít hạt dẻ về và cố bắt chước giọng rao của người bán, rồi ôm lấy nhau mà cười lăn lộn như hai kẻ say.
Yasue sinh vào cuối tháng Mười một, cùng năm sinh với tôi, nhưng vì tôi sinh vào tháng Giêng nên thực tế nàng trẻ hơn tôi gần một tuổi. Nàng cũng đến Paris để học nghệ thuật, vì vậy chắc chắn nàng phải xuất thân từ một gia đình giàu có giống như tôi. Chúng tôi cùng trở lại Nhật Bản vài năm trước khi châu Âu chìm vào Chiến tranh Thế giới lần thứ nhất. Lúc đó tôi 22 tuổi. Chúng tôi dự định sẽ kết hôn, nhưng kế hoạch không thành hiện thực. Cuộc sống ở Tokyo không giống như những ngày tháng lãng mạn ở Paris. Tối ngày Yasue bận bù khú, tụ tập với đám bạn bè và cuối cùng sự quan tâm của cô gái hiện đại này không còn dành cho tôi nữa. Chúng tôi không gặp nhau một thời gian. Sau đó tôi nghe nói nàng đã lấy chồng.
Khi tôi 26 tuổi, Yoshio giới thiệu tôi với Tae và chúng tôi kết hôn. Chú ấy học ở Đại học Tokyo và tình cờ biết Tae vì bà ấy làm ở một cửa hàng kimono gần đó. Mặc dù buổi ra mắt không có gì trịnh trọng nhưng tôi quyết định ngay là sẽ cưới Tae: thực sự tôi đã quá cô đơn sau cái chết của mẹ tôi. Mẹ đã để lại cho tôi một gia sản đáng kể, vì vậy có vẻ như tôi là một “món hời” đối với Tae, mặc dù phụ nữ thời đó không bao giờ nói ra những chuyện như vậy.
Trớ trêu thay, vài tháng sau khi cưới Tae, tôi gặp Yasue đang dắt tôiy con trai ở Ginza. Nàng nói với tôi là đã ly hôn và đang làm chủ một phòng tranh kiêm quán cà phê ở Ginza. “Anh thử đoán xem!” nàng nói với một nụ cười rạng rỡ “Nó được đặt theo tên một nơi đáng nhớ.” “Đài phun nước de Médicis?” tôi nói ngay lập tức. “Vâng!” Cả hai chúng tôi cùng mỉm cười. Sau đó, Yasue trở thành người duy nhất kinh doanh tranh của tôi. Các tác phẩm của tôi không nhiều nhưng Yasue luôn khuyến khích tôi sử dụng quán của nàng để làm triển lãm. Tôi đã thực hiện vài buổi ở đó nhưng kết quả không được tốt. Tôi nghĩ đó là vì tôi đã không tham gia vào các cuộc thi và trong lý lịch của tôi có ít giải thưởng, tôi cũng không phải là một doanh nhân năng động. Tôi vẽ Yasue bất cứ khi nào nàng đến thăm xưởng vẽ và tôi luôn gộp cả những bức tranh vẽ nàng mỗi khi triển lãm ở de Médicis. Yasue thuộc cung Nhân Mã, sinh ngày 27 tháng Mười một năm 1886. Heitaro, con trai nàng, thuộc cung Kim Ngưu, sinh năm 1909. Đôi khi, Yasue nửa đùa nửa thật rằng tôi chính là cha thằng bé. Có thể nàng chỉ nói đùa cho vui nhưng cũng có thể đó là sự thật. Trên thực tế, nàng lấy chính chữ “hei” ở tên tôi để đặt cho thằng bé. Nếu Heitaro thực sự là con trai tôi thì có lẽ đó là sự an bài của số phận!
Phong cách nghệ thuật của tôi khá bảo thủ. Những họa sĩ trừu tượng như Picasso và Miro không bao giờ có sức lôi cuốn đặc biệt với tôi. Nhưng tôi thích Van Gogh và Gustave Moreau. Tôi biết phong cách của tôi khá cổ lỗ sĩ, nhưng tôi thích nghệ thuật phải sinh động một cách trực tiếp. Nếu một bức tranh không sống động thì tôi cảm thấy nó chỉ như một tấm toan bị dính sơn. Với quan điểm như vây, tôi phải thừa nhận một số tác phẩm của Picasso thực sự sinh động và đáng được ngưỡng mộ. Tôi cũng nghĩ rằng Fugaku Sumie, họa sĩ nổi tiếng với việc tự khắc họa chân dung, cũng khá ổn. Tuy nhiên, tôi tin rằng để sáng tạo bất kỳ tác phẩm nghệ thuật có chất lượng nào cũng đều phải tuân thủ một số kỹ thuật nhất định. Nếu chỉ ném bùn lên tường và gọi đó là nghệ thuật thì tôi cam đoan rằng một đứa con nít còn làm tốt hơn.
Với tôi, cái gọi là nghệ thuật tiên phong quá ư tầm thường so với những gì chúng tôi nhìn thấy trong cuộc sống thực. Thay vì nhìn thấy một vụ tôii nạn giao thông, tôi lại thấy bừng lên sự sinh động qua từng vết trượt của bánh xe và vệt máu vương vãi trên đường. Những vạch phấn trắng mỏng manh quả là một sự đối lập với toàn bộ cảnh tượng dữ dội đó.
Tôi thích điêu khắc nhưng tôi không ưa nổi điêu khắc trừu tượng. Tôi muốn điêu khắc phải trông như thật. Đó là lý do tại sao tôi thấy những con búp bê có sức cuốn hút hơn là các tác phẩm điêu khắc hiện đại. Thời trẻ, tôi đã gặp một người phụ nữ rất hấp dẫn. Thực ra đó không phải là con người mà là một ma-nơ-canh trong tủ kính một cửa hàng gần Đại học Tokyo. Tôi say mê nàng như điếu đổ. Tôi đến ngắm nàng hàng ngày, có khi năm hoặc sáu lần một ngày. Khi đi vào thị trấn, tôi luôn cố tình đi đường vòng chỉ để được nhìn thấy nàng. Chuyện này kéo dài suốt một năm. Mỗi mùa thay đổi, tôi lại được ngắm nàng khi thì trong bộ váy mùa hè, rồi áo khoác mùa đông, lúc thì choàng áo cánh mùa xuân. Tôi muốn đề nghị người chủ cửa hàng cho tôi mua nàng nhưng tính tình nhút nhát đã không cho phép tôi làm như vậy.
Tôi gọi nàng là Tokie, bởi vì nàng rất giống một nữ nghệ sĩ mà tôi hâm hộ cũng có tên như vậy. Tôi bị Tokie ám ảnh. Tôi làm thơ tặng nàng. Khuôn mặt nàng luôn ám ảnh tâm trí tôi. Tôi vẽ chân dung nàng dựa theo trí nhớ. Có thể coi đó là khởi đầu cho cuộc đời họa sĩ của tôi. Tôi thường đứng bên hông cửa sổ cửa hàng và vờ như đang xem người tôi dỡ lụa thô ở cửa hàng bán buôn bên cạnh. Dĩ nhiên, tôi bí mật nhìn đăm đăm vào đám ma-nơ-canh. Nàng có mái tóc nâu uốn thành búp, những ngón tôiy mảnh dẻ và đôi chân thon dài dưới lớp váy. Khuôn mặt nàng toát lên vẻ duyên dáng. Ngay cả bây giờ, tôi vẫn nhớ như in vẻ đẹp của nàng.
Một hôm, tôi tình cờ nhìn thấy Tokie khỏa thân khi chủ cửa hàng thay quần áo cho nàng. Hai đầu gối tôi run lên và tôi gần như đã ngất xỉu. Chưa có người phụ nữ nào từng khiến tôi có cảm giác như vậy. Sự kiện đó tác động ghê gớm đến bản năng tình dục của tôi. Những cái âm hộ mượt lông giờ chẳng còn hấp dẫn tôi nữa. Tôi bắt đầu thích những người phụ nữ có lông xoăn và thô dày. Công nhận là tôi cũng có hứng thú bệnh hoạn đối với những cô gái câm và các xác chết phụ nữ.
Nhưng mối tình của tôi dành cho Tokie đột ngột kết thúc. Một sáng xuân ấm áp, khi tôi tới cửa hàng, nàng đã biến mất khỏi ô cửa sổ. Cảm giác của tôi không sao có thể nói thành lời. Trái tim tôi tôin vỡ. Đó là ngày 21 tháng Ba, thời điểm hoa anh đào sắp nở.
Tôi vốn không thích những hộp đêm ồn ào đầy khói thuốc, nhưng gần đây tôi bắt đầu tới một quán rượu có tên gọi “Kakinoki” – Cây Hồng. Tôi thích trò chuyện với một khách hàng thường xuyên ở đó: ông chủ một nhà máy sản xuất ma-nơ-canh. Một hôm, sau khi uống vài chén, tôi đã kể cho ông ấy nghe về mối tình của tôi với Tokie, ông vui vẻ mời tôi đến thăm nhà máy. Nhưng ở đó không tìm thấy ma-nơ-canh nào giống Tokie cả.
Có lẽ chẳng ai hiểu được những cảm xúc của tôi đối với Tokie. Nàng thực sự đặc biệt và không một ma-nơ-canh nào khác có thể sánh được. Nàng giống như một viên ngọc quý trong khi tất cả những ma-nơ-canh khác chỉ là hạt cát.
Con gái đầu lòng của tôi chào đời vào ngày 21 tháng Ba, cũng là ngày Tokie biến mất. Vì vậy mà tôi gọi con bé là Tokiko. Hẳn đó là định mệnh: Tokie đã đầu thai thành một con người có tên Tokiko. Tôi tin chắc rằng Tokiko sẽ ngày càng giống ma-nơ-canh đó khi nó lớn lên. Tuy nhiên, sức khỏe của con bé lại không được tốt.
Khi tôi viết những dòng này, tôi rất ngạc nhiên về nơi xuất phát những ý tưởng của tôi. Tokiko là đứa con cưng của tôi. Tôi muốn con bé có một cơ thể hoàn hảo, vì thế tiềm thức của tôi gợi ý tôi tạo ra Azoth. Có lẽ tình yêu thương của tôi dành cho Tokiko là gì đó hơn cả tình yêu của một người cha thông thường. Những người sinh ra ứng với cung Bạch Dương thường có xu hướng vui vẻ và sôi nổi, nhưng ngày sinh của Tokiko lại gần với điểm giao thoa của Bạch Dương và Song Ngư. Tôi nghĩ đó chính là lý do khiến tính tình con bé bất thường. Nhìn thấy con bé mệt mỏi, tôi biết tim nó có vấn đề và do vậy tôi càng thương đứa con bé bỏng tội nghiệp này hơn.
Tôi thường lấy các con gái làm mẫu, phác họa chúng ở tình trạng bán khỏa thân. Tokiko quả thật là gầy và có một cái bớt ở bên sườn phải. Lần đầu tiên tôi nhận ra con bé gầy đến thế, thực sự đáng tiếc khi con bé không có một cơ thể hoàn hảo tương xứng với khuôn mặt rất xinh đẹp của nó. Tôi không có ý rằng cơ thể của con bé kém – thực tế thì Tomoko, Reiko và Nobuyo thậm chí còn gầy hơn con bé. Nhưng vì Tokiko – cùng với Yukiko – là con gái ruột của tôi, nên tôi luôn luôn muốn con bé thật hoàn hảo.
Cách đây vài năm, tôi trở lại thăm châu Âu. Tôi không còn thấy Bảo tàng Louvre thú vị nữa, cho nên tôi đến Amsterdam để xem một cuộc triển lãm các tác phẩm của Andre Milhaud. Tôi bị choáng ngợp bởi tác phẩm của ông ấy đến mức mất một thời gian tôi mới quay lại được với công việc của mình. Có thể gọi phong cách ấy là “Nghệ thuật của tử thần”. Trong một tòa nhà bỏ hoang từng có một bể cá cảnh, ông ấy dàn dựng một vài bố cục sinh động. Trong số đó có xác chết của người đàn ông treo trên chiếc cột, và xác chết của người mẹ cùng con gái bị bỏ lại trên đường phố. Xác của họ đang thối rữa và bốc mùi thật kinh khủng. Tất nhiên những xác chết đều là giả nhưng tôi không nhận ra điều đó suốt cả một năm trời. Khuôn mặt họ méo mó vì khiếp sợ, cơ bắp bị vặn vẹo do đau đớn khi chết. Tác phẩm trưng bày gây sốc nhất là một người đàn ông chết đuối. Tay anh tôi bị còng lại phía sau trong khi một người đàn ông khác dìm đầu anh tôi xuống nước, làm bong bóng nhỏ đùn đầy nơi miệng. Cảnh này diễn ra trong một hộp kính, chiếu sáng từ bên trong.
Tôi nghĩ không gì có thể sánh được với những tác phẩm của Milhaud, nói gì vượt qua. Sau khi mất một năm không làm được việc gì, tôi quyết tâm tạo ra Azoth. Tôi xác định rằng không gì ngoài Azoth có thể thay thế được tác phẩm của người nghệ sĩ vĩ đại này.
Không một ai biết nơi tôi tạo ra Azoth, nhưng tôi phải đề phòng lũ chó. Chúng có thể nghe được tiếng gào thét của người hấp hối. Con người không thể nghe được âm thanh có tần số vượt quá 20.000 lần mỗi giây, nhưng chó thì có thể. Trong bể cá cảnh ở triển lãm của Milhaud, tôi đã nhìn thấy một quý bà ôm con chó sục Yorkshire trên tôiy. Tai nó rung lên khi nghe thấy những âm thanh của cái chết.
Nơi để sáng tạo và lắp ráp Azoth sẽ được xác định bằng phương pháp toán học. Tất nhiên tôi có thể làm việc này trong xưởng vẽ của mình nhưng việc cả sáu người phụ nữ đột nhiên biến mất sẽ rất đáng ngờ. Xưởng vẽ rõ ràng sẽ bị điều tra. Ngay cả khi cảnh sát không nghi ngờ tôi thì Masako cũng sẽ mò đến xưởng vẽ. Do đó, tôi phải tìm một nơi khác để làm việc này, một nơi có thể lưu giữ sáng tạo của tôi. Cho nên tôi đã mua một ngôi nhà ở quê với giá rất hời. Tuy nhiên, vì tài liệu này có thể bị phát hiện trước khi tôi chết, nên tôi không dám đề cập đến vị trí chính xác. Tôi chỉ nói đó là một nơi thuộc tỉnh Niigata.
Tôi sẽ để bản ghi chép này cạnh Azoth. Sau khi sáng tạo ra Azoth, những phần cơ thể không được sử dụng của các cô gái cần được chuyển tới những địa điểm khác nhau có liên quan đến cung hoàng đạo tương ứng của từng người. Lý tưởng nhất là nơi có mỏ kim loại tương ứng. Ví dụ, vàng liên quan đến Sư Tử, sắt liên quan đến cung Bạch Dương và Thiên Yết, bạc liên quan đến cung Cự Giải, thiếc liên quan đến cung Nhân Mã và Song Ngư. Vì vậy, những phần cơ thể còn lại sẽ được phân bố như sau
- Tokiko (Bạch Dương) ở nơi khai thác sắt
- Yukiko (Cự Giải) ở nơi khai thác bạc
- Reiko (Xử Nữ) ở nơi khai thác thủy ngân
- Akiko (Thiên Yết) ở nơi khai thác sắt
- Nobuyo (Nhân Mã) ở nơi khai thác thiếc
- Tomoko (Bảo Bình) ở nơi khai thác chì
Một khi các thi thể được hoàn trả về đúng nơi của chúng, Azoth sẽ hiện ra với sức mạnh tối cao. Và kiệt tác hoàn thành!
Tôi sáng tạo ra Azoth không phải chỉ cho riêng mình, mà còn vì lợi ích của Đế quốc Nhật Bản. Đất nước đã đi theo con đường sai lầm, lịch sử của chúng tôi bị hoen ố bởi những sự kiện bi thảm. Cuối cùng nước Nhật bị tàn phá. Chúng tôi phải nhận lấy trách nhiệm mà tổ tiên giao phó. Ngày ấy đang đến gần. Azoth sẽ chỉ dẫn cho chúng tôi. Azoth sẽ cứu dân tộc tôi.
Vào thời Cổ đại, nữ thần Himiko trị vì đất nước chúng tôi. Vương quốc Yamatai dưới thời bà phát triển thật rực rỡ. Về mặt chiêm tinh học, các đảo của Nhật Bản ứng với chòm sao Thiên Bình, nơi mọi người có xu hướng thích các cuộc tụ họp xã hội. Người Nhật tin vào thần thánh và thích tiệc tùng, lễ hội. Tuy nhiên, khi quân Triều Tiên đô hộ Nhật Bản và Khổng giáo được du nhập từ Trung Quốc thì người dân đã thay đổi. Linh hồn của họ bị mất tự do và họ tự chế ngự bản thân mình. Phật giáo được du nhập từ Trung Quốc nhưng tôn giáo này không thực sự cắm rễ sâu nơi đây. Những gì người Nhật tiếp thu không phải là Phật giáo thực sự mà là Phật giáo đã bị người Trung Quốc cải biên sai. Chúng tôi nên trở lại với bản sắc nguyên thủy của đất nước này – một đế chế do một nữ thần cai trị.
Vì lý do đó, Azoth phải được đặt ở trung tâm của Nhật Bản, để nàng có thể đảm nhiệm sứ mệnh của nữ thần Himiko. Ngày nay, thời gian chuẩn của chúng tôi được xác định bằng Đài quan sát Akashi ở kinh độ 135° Đông nhưng tôi nghĩ thế là sai. Trung tâm thực sự của đế chế Nhật Bản là kinh độ 138°48’ Đông. Quần đảo Nhật Bản có hình cánh cung rất ấn tượng, nhưng không dễ gì xác định biên giới phía bắc và phía nam của đất nước. Theo quan điểm của tôi, thích hợp hơn cả nếu lấy biên giới đông bắc là quần đảo Chishima hoặc Kurils, tọa lạc kế bên bán đảo Kamchatka. Biên giới phía nam phải là Iwo Jima, nằm ở phía nam quần đảo Ogasawara. Mặc dù đảo Hateruma, thuộc quần đảo Sakishima ở Okinawa, nằm ở vĩ độ thấp hơn nhưng Iwo Jima phù hợp hơn vì nó có hình dạng của đầu mũi tên.
Địa lý tự nhiên của Nhật Bản có vẻ đẹp đặc trưng. Điều đó thuyết phục tôi rằng hành tinh cai trị đất nước là Kim Tinh, thuộc cung Thiên Bình. Không một nơi nào trên trái đất này có được vẻ đẹp địa lý tuyệt vời đến vậy. Quần đảo Nhật Bản khiến tôi liên tưởng đến một nhân vật nữ có hình thể cân đối. Rồi còn có khu vực núi lửa Phú Sĩ giống như một mũi tên đã lên dây cung. Iwo Jima, như tôi đã nói, trông giống đầu mũi tên. Một ngày nào đó, người Nhật sẽ nhận ra rằng hòn đảo này có đóng góp thế nào cho lịch sử đất nước. Mũi tên đã từng được bắn đi. Nó bay qua Australia và Mũi Sừng (Cape Horn), bắn trúng Brazil, nơi có số dân di cư Nhật Bản cư trú đông nhất thế giới.
Tôi có thể xác định chính xác vị trí điểm cực đông bắc của quần đảo Nhật Bản. Phần lớn quần đảo Kuril được xem như là một phần của Nhật Bản. Nhiều người cho rằng các đảo Paramushir và Onekotan thuộc về Nhật Bản, nhưng tôi nghĩ nên loại bỏ chúng. Chúng quá lớn và gần với bán đảo Kamchatka, chúng thuộc về đại lục thì đúng hơn. Trung tâm của Kuril chính là nơi tọa lạc Rasshua và Ketoi, nhưng tôi tin rằng Nhật Bản có thể còn vươn xa hơn nữa và lãnh thổ của nó bao gồm cả Kharimkotan và các đảo phía nam Kuril.
Những hòn đảo nhỏ này nằm rải rác ở tít phía bắc và nam, đan xe với các đảo chính của Nhật Bản làm cho đất nước trông như một cánh cung khổng lồ treo vào lục địa với những dải tua rua. Điểm cực đông của đảo Kharimkotan ở kinh độ 154°36’ Đông và điểm cực bắc ở vĩ độ 49°11’ Bắc.
Tiếp theo là điểm trung tâm của trục đông bắc-tây nam. Điểm cực tây của Nhật Bản là đảo Yonaguni, nằm ở kinh độ 123° Đông. Điểm cực nam của Nhật Bản, tôi nhắc lại, nên là Iwo Jima. Điểm cực nam của đảo Hateruma, nằm ở đông nam Yonaguni, ở kinh độ 24°3’ Bắc trong khi điểm cực nam của Iwo Jima nằm ở vĩ độ 24°43’ Bắc. Tuy nhiên, trung điểm giữa đảo Kharimkotan và Yonaguni lại nằm ở kinh độ 138°48’ Bắc. Đường này chính là trục trung tâm của Nhật Bản, bắt đầu từ mép bán đảo Izu và chạy lên tới tận đồng bằng Niigata, nơi lãnh thổ kéo dài về phía bắc. Một phần của núi Phú Sĩ cũng nằm trên con đường trục này. Do đó, đường trục này phải giữ một vai trò quan trọng trong lịch sử Nhật Bản. Tôi tiên đoán rằng nó vẫn sẽ tiếp tục giữ vai trò đó.
Đường kinh tuyến 138°43’ Đông có rất nhiều ý nghĩa. Núi Yahiko ở cực bắc của đường này. Đó là nơi có Đền Yahiko. Đây chính là chìa khóa của huyền thoại. Tương truyền nơi đây có một hòn đá thiêng. Núi Yahiko chính là rốn của Nhật Bản với sức mạnh huyền bí, trung tâm thực sự của cả nước. Không ai có thể bỏ qua thánh địa này; tương lai của Nhật Bản phụ thuộc vào nó. Tôi muốn đi thăm nơi ấy trước khi chết. Tôi phải làm việc đó, và tôi sẽ làm! Nếu như tôi chết mà chưa làm được thì tôi muốn các con tôi đến thăm Yahiko thay cho tôi. Đỉnh 4, 6 và 3 là những con số nằm trên đường trung tuyến của Nhật Bản. Ba số này cộng lại bằng 13, là con số ưa thích của quỷ dữ. Azoth sẽ được đặt ở trung tâm của 13…