Chương 32. Hỡi thương mến.
Tháng đẩy năm trôi, một cái Tết nữa lại sắp đến.
Ngoài sân, hoa giấy nở hừng hực đủ màu, rực hơn cả nắng.
Mấy anh phu khuân vác đậm người đang khệ nệ bưng từng chậu kiểng từ xe ngựa thồ đậu ngoài cổng đặt vào trong sân. Cây kiểng đủ loại ngồn ngộn từ hiên trước ra tận hiên sau, đây cúc vàng hườm, kia vạn thọ cam hực, nọ mồng gà đỏ chót, xa xa lại thêm thược dược hồng phấn, toàn là những màu bông tươi tắn. Bày xong mớ kiểng chưng ngắn ngày thì cũng vừa kịp lúc xe thồ chở hai chậu mai bự chảng, nụ xanh chi chít, tới nơi. Hai cây mai này trong năm được gửi nhà vườn chăm bón, chỉ tới Tết mới đưa về chưng ngoài sân, hết rằm lại chở ngược về vườn gửi, tốn kém chút đỉnh nhưng cây lúc nào cũng vượng sắc mạnh dáng.
Bà Nghĩa bữa nay bận bà ba lụa màu hường có tay lửng diềm nhún, cổ áo tròn may viền ren xếp lớp kết hợp cùng hàng nút cài đính nơ. Bà đứng chống nạnh trên bậc thềm nhà, đưa tay quơ quơ chỉ dẫn người làm. Bên đây kêu chuẩn bị bộ cò bay ngựa chạy (1) để đưa ông Táo, bên này dặn bầy trẻ gái sên mứt cho mau mắn đều tay kẻo mứt làm xong không kết được đường, bên kia còn phải ngó bọn bồi và phu khuân vác sắp đặt chậu kiểng. Lo trên lo dưới tới mức thở hơi lên mà vẫn chưa thấy đâu vào đâu.
Trong phòng khách, ông Nhơn ngồi trên ghế chống chân rít thuốc, ông Trung im lặng pha trà bên cạnh. Cậu Hiếu nằm bắt chân chữ ngũ trên bộ ngựa, úp cuốn tạp chí che hết khuôn mặt, chẳng rõ là cậu đang ngủ hay đang thức.
Riêng Uất Kim chưa nghỉ mà vẫn đi làm tới sát nút ngày hai bảy Tết, nên không có mặt. Bà Nghĩa chẳng biểu lộ đậm lợt gì về chuyện ấy, cô muốn làm gì tùy ý, miễn sao ít đụng mặt nhau là mọi chuyện đều êm đẹp.
“Cha à, chậu kiểng cha đưa từ Đà Lạt về, con biểu mấy thằng bồi dời vô gần chòi mát nghe cha, để dành chỗ chưng bông Tết nữa chớ.” Bà Nghĩa hơi xoay mặt hướng vào nhà trong, nói với ông Nhơn.
“Ờ, bây kêu sắp nhỏ đào hố rồi trồng xuống cho cha luôn đi, cha đi thăm vườn bách thảo của bọn Pháp gây giống, thấy cây này ngồ ngộ thơm thơm mà chúng nó nói xứ nóng trồng cũng sống được, nên cha đem về trồng thử coi sao.”
Nghe theo lời cha, bà Nghĩa sai người làm luôn.
Chậu bông ông Nhơn đưa về từ lần du ngoạn Đà Lạt ngó thấy ngộ quá chừng, thân thon tán rộng, nụ bông chúi xuống, dáng bông chum chủm loe loe như cái loa máy hát, màu vàng phơn phớt ánh sắc hườm hườm cam lợt, đã vậy ban đêm còn có mùi thơm lạ lùng dù đứng từ xa vẫn ngửi thấy nữa chớ.
Đâu vào đấy, bà Nghĩa phủi lớp bụi vô hình trên vạt áo rồi bước vô nhà, hạ tay nghiêng vai nhận chén trà chồng đưa cho, ngồi xuống mé ghế từ từ nhấm nháp. Chốc lát sau như đã thấy khỏe khoắn người ngợm chút đỉnh, bà vui vẻ kêu lên.
“Ba Hiếu, ngồi dậy thưa chuyện ra năm cưới hỏi đi con! Dậy!”
Trung Hiếu lập tức bật người như tôm búng, hí hứng bước tới bàn ngồi cạnh má mình.
Chuyện là, sau thời gian qua lại tìm hiểu, hai bên gia đình cũng ưng bụng cho Trung Hiếu và Hạnh Mai kết đôi bạn trăm năm. Ban đầu ông Nhơn phân tích chuyện học hành, Trung Hiếu nói với Hạnh Mai, nàng cười xòa bảo rằng hai nhà đều có điều kiện chứ chẳng túng thiếu chi cả, lấy nhau về trước tiên cứ học hành cho xong rồi hãy nghĩ chuyện sanh con đẻ cái sau, lo làm gì. Dẫu sao Hạnh Mai cũng định mướn hộ sanh cùng bà vú chăm lo chuyện bú mớm tã bỉm sau này, nàng bảo rằng buổi kim thời thì tánh toán theo lối kim thời cho nhàn thân thoáng trí, chứ đi theo đường cũ lối xưa hoài sao được. Nàng vừa cười duyên vừa vừa luận cùng cậu như thế. Nghe xong, Trung Hiếu thấy cũng xuôi tai thuận ý, cười cười gật đầu liên hồi. Mấy đứa bạn Pháp có câu ngạn ngữ hay nhắc đi nhắc lại cùng cậu, rằng “Ce que femme veut, dieu le veut”, dịch thoang thoáng nghĩa là ý đờn bà là ý ông trời. Hồi chưa nếm ngọt bùi ái tình thì cậu chàng nghe cái câu ấy thấy chướng, nhưng yêu vào rồi thì ngẫm nghĩ đúng là người đi trước dù tây hay ta cùng đều nói ra những chân lý chí phải, thế nên Trung Hiếu nghe theo Hạnh Mai là vô cùng hạp tình hạp lý rồi còn chi nữa.
Đôi bên quyết tâm nhất trí đâu vào đấy là cậu thưa chuyện với cha má cùng ông ngoại ngay, cả nhà nghe cậu thuyết phục một hồi mới mới xuôi lòng cho phép đôi bên qua lại tìm hiểu kĩ lưỡng hơn.
Lớn nhỏ ngồi quây quần bên bàn lớn, bàn chuyện vui nên lòng người cũng vui theo. Ông Nhơn tủm tỉm vuốt râu mép, ngó quanh rồi nhấp ngụm trà. Bà Nghĩa cưng nựng vuốt tóc con trai. Ông Trung lật một trang tuần báo, khóe miệng thả lỏng.
Mùi chậu bông ông mang từ Đà Lạt về bay thoang thoảng vào tới tận phòng khách, hòa chung với mùi nhang, ướp đẫm một bầu không khí mụ mị lâng lâng lạ kì quanh mọi người.
***
Nắng ấm những ngày đầu xuân dường như khiến người ta trở nên năng nổ hơn, nhiệt tình hơn. Xóm ngụ cư gần Tống Gia Dược Đường bỗng chốc chật ních người xe cùng những tiếng mời chào kì kèo mua bán.
Con đường ngày bình thường rộng thênh thang ấy vậy mà lúc này chật ních, tràn ngập toàn là hàng hóa, dàn kín tới mức nếu cùng lúc hai người đi song song thì phải nghiêng thân luồn lách mới được. Phi Thành đành đỗ xe ở đầu đường rồi tự đi bộ vào trong, trên đường đi cậu thấy con mèo trắng, à mèo cháo lòng, mà Uất Kim từng vuốt ve đang ngồi vắt vẻo trên đầu tường gạch thì tiện tay xách nó đi theo luôn. Cậu dùng một tay nắm hờ quanh cái bụng mềm mại đầy lông của nó, khẽ đung đưa như cầm một cái áo khoác, con mèo cũng phối hợp mềm oặt người ra tiện cho cậu xách đi.
Ngoài đường đông thì tất nhiên trong tiệm cũng đông, ai cũng tranh thủ mua cất trữ chút thuốc cấp thiết, tránh ngày đầu năm không có chỗ nào mở cửa mà trở đau bất chợt thì chết dở.
Phi Thành chuyển từ nắm bụng sang để con mèo nằm vắt quanh cổ như khăn choàng, mặc kệ lớp lông lem nhem của nó làm bẩn bộ quần áo đắt tiền mình đang mặc, cậu dựa vào vách tường, mỉm cười nghiêng đầu nhìn Uất Kim chạy tới chạy lui tính tiền rồi đưa thuốc cho khách. Chốc lát sau cậu đặt con mèo xuống đất để nó tự đi chơi, xắn tay áo lên rồi lao vào phụ mấy người làm bưng bê sắp xếp. Ông An thấy vậy cũng chỉ liếc mắt một cái rồi thôi, vẫn cười tủm tỉm bốc thuốc tánh tiền cho khách như thường.
Dược đường đông đúc ồn ào tận quá giờ nghỉ trưa, tới khoảng hai giờ chiều mới bớt khách đôi chút, nhưng vẫn còn đông nên ông An đành chia tốp đi nghỉ, lần lượt tốp này đi ăn thì một tốp khác làm việc. Khách tiếp tục vào ra tới khoảng năm giờ chiều thì bắt đầu ít lại.
Hoàng hôn đổ loang từng mảng màu đỏ ối xen cùng tím khói, một kiểu pha trộn đầy mê đắm nồng nàn, tràn từ cây cối xuống tới nhà cửa con người rồi cuối cùng đọng lại thành vũng trên mặt đường.
Uất Kim xoa tay quanh vùng cổ nhức mỏi, gật đầu chào ông An rồi một tay bưng thùng giấy cỡ vừa còn một tay xách cặp táp. Đi ngang qua Phi Thành đang dựa vào quầy lễ tân nói chuyện với ông An, nàng khẽ dùng phần vai huých nhẹ cánh tay chàng xong lại nghiêng mặt hất đầu ra phía ngoài đường. Phi Thành dịu dàng quay đầu sang nhìn nàng, cất giọng còn ngọt hơn cả mật.
“Em ra hiên đứng đợi một lát, anh nói chuyện xong thì ra với em ngay, xong tụi mình đi ăn nghe.”
Uất Kim gật đầu, nâng mấy thứ đang ôm lên cao hơn chút, bước thẳng ra ngoài cửa.
Khoảng đôi ba phút sau Phi Thành đã bước ra, nhưng chàng không lập tức tiến lại, mà để bản thân được phép ngắm nghía, được quyền ghi nhớ mọi điều về nàng lúc này. Bờ lưng gầy nổi cả xương nhưng đầu vai lại tròn và hơi xuôi xuống, tất cả được bao bọc vừa khít bởi lớp vải áo dài dày dặn. Suối tóc đen bóng bới gọn sau ót, vài sợi tóc ương bướng không vào nếp khẽ bay lất phất trong làn gió xuân se se. Lớp lông tơ ngược sáng hiện lên như màng bụi mịn, tạo một vành đai lấp lánh lung linh, âu yếm viền từ vừng trán cao tới sống mũi thẳng cùng bờ môi cong và cái cằm nhọn.
Trong ánh sáng và sự lặng im, nàng hiện ra ngời ngời với vẻ đẹp dịu dàng khác hẳn bình thường.
Dường như có sự tương thông, Uất Kim xoay đầu ngoái nhìn chàng, đôi mắt đen sâu thẳm của nàng trở nên trong vắt bởi được ráng chiều hắt thẳng vào, lấp lánh hơn tất thảy mọi viên hột xoàng chàng từng thấy trong đời. Phi Thành nhếch miệng cười rồi bước nhanh tới gần, tự nhiên cúi người xuống, tay trái đỡ lấy thùng giấy nàng đang ôm còn tay phải đặt sau lưng dẫn lối nàng ra đường.
Cả hai chầm chậm bước đi giữa ráng chiều nồng nàn. Hai chiếc bóng đơn lẻ kéo dài rồi dần dần quyện lấy nhau, cuối cùng chẳng phân rõ bóng ai.
_
*Chú thích:
(1) Cò bay ngựa chạy: Tập tục cúng Táo quân tại Nam Bộ, thay vì dùng cá chép thì cò và ngựa này sẽ là phương tiện di chuyển của Táo quân khi lên trời.