Chương 27. Đẹp vàng son, ngon mật mỡ.
Uất Kim biết thổi sáo, đấy cũng là điều lãng mạn nghệ sĩ hiếm hoi với một người vốn khô khan lại còn theo nghiệp kiếm cơm từ chữ nghĩa chuyên về luân lý như cô.
Gốc gác sở thích ấy cũng là từ những ngày quá vãng, không đẹp vàng son cũng chẳng ngon mật mỡ, chỉ như cái bến cái bờ nghèo nàn mà thôi, dẫu vậy tuy hoang sơ nhưng vẫn là nơi neo đậu tránh trú giữa giông tố. Một lão ăn xin ngồi cạnh hai mẹ con, đã dạy Uất Kim thổi cái món sáo trúc đó. Ông ta đẹp lão đến lạ so với một lão ăn xin, tóc lão búi tó củ hành còn râu dài tựa tiên tựa bụt, tất cả đều có màu bạc cước sáng óng ánh dưới nắng. Quần áo lão tuy thô cứng lại còn đắp vá đủ chỗ nhưng luôn sạch sẽ gọn gàng. Lão kiếm cơm bằng cách ca vọng cổ với kéo đờn cò và thổi sáo bên vệ đường.
Bất chấp màu nhạc đờn cò vốn trong trẻo thánh thót, mấy bài lão đờn ra khi nào cũng buồn nẫu ruột bấy gan, nhưng khuôn mặt lão thì chưa bao giờ vơi nụ cười phơi phới như tiên ông. Tuy nhiên, khi lão dạy Uất Kim thổi sáo trúc thì lại toàn mấy bài đồng dao hoặc mang màu vui vẻ, lão bảo rằng trẻ con biết thế nào là sầu là oán, hiểu không thấu sao thổi ra cái hồn mà dạy bài não nề cho thêm rách việc. Giờ đây ngẫm lại, có lẽ lão chỉ muốn truyền đi cho đời những phần tốt đẹp ít ỏi còn sót lại lão đã chắt cóp, dầu cho đời và người đã vùi dập lão sâu xuống bùn sình tới mức ngoi ngóp bẩn thỉu.
Những bài vọng cổ hay câu hò điệu lý lão hát, nhằm sinh động hơn tiếng đờn tiếng sáo để dễ kiếm thêm chút bạc cắc qua ngày, cũng bình dị thương mến vô cùng. Lão bảo phận mình vốn phải là đời thương hồ (1), chỉ tiếc lão rời xa chốn Miệt Thứ quá lâu, ghe mất người xa, lão chỉ còn biết lê lết thân già gần những con kênh đen đúa hôi tanh chốn phồn hoa đô hội, để nhắc nhớ chút kỉ niệm quê nhà. Lão hay lầm bầm hát ca dao, nhưng có hai câu được đặc biệt nhắc đi nhắc lại rất nhiều lần, đến nỗi tận hôm nay Uất Kim vẫn còn nhớ như in:
"Sương khuya ướt đẫm giàn bầu,
Em về miệt thứ bỏ sầu cho ai." (2)
Có lẽ lão nhớ về đời mình, hoặc người lão từng yêu, hoặc nơi lão từng nương náu, hoặc chốn lão vẫn thương.
Ai mà biết được.
Rất lâu rồi Uất Kim chẳng nhớ về lão ăn xin ấy, cũng ít khi nhớ về ông thầy đờn gánh hát Bạc Liêu năm xưa. Kể ra, cuộc đời của những nhành bồ liễu trôi sông, lại chỉ được nâng niu bởi những tâm hồn nghệ sĩ cũng mang danh xướng ca vô loài. Cái tình cái nghĩa ở đời, đôi khi chẳng do quan trên bậc cao ban cho, mà lại do con sâu cái kiến dưới đất bùn chia nhau.
Cây sáo trúc mua lúc chiều bên vệ đường khi đi cùng Phi Thành, đang được Uất Kim dùng ngón cái vuốt ve qua lại, đã hai mươi năm cô chưa chạm tới thứ này, chưa thổi bất cứ một bài nào.
Chẳng biết vì sao hôm nay cô lại quyết định mua nó, chỉ là tự dưng thấy muốn quay lại là con bé nhỏ xíu có má ruột kề bên, có ông lão tốt bụng dạy dỗ, để nhớ rằng cũng từng có ngày tươi đẹp giữa hằng hà bão táp mưa sa đã trải qua.
Từ nhà trên vọng xuống tiếng đờn kìm của ông Trung, lại là một buổi sum họp gia đình quen thuộc, nơi không có vị trí cho cô chen vào.
Uất Kim lặng lẽ quấn cây sáo trúc vào tấm khăn mùi soa rồi đặt lên kệ sách, cạnh bên cuốn Đại Nam Quấc Âm Tự Vị (3) luôn cần dùng thường xuyên, để mỗi lần lấy sách thì cô có thể liếc qua cây sáo trúc đôi chút.
Hôm nay chưa phải là thời điểm thử lại, có lẽ là một ngày khác. Hơn nữa, còn bản thảo cần làm cho xong để nộp đúng hạn.
***
Gã chủ bút đập tập bản thảo xuống bàn, mấy tờ giấy vốn đang gọn gàng bỗng chốc xòe ra tán loạn trên mặt bàn như cảnh tượng dân đỏ đen xòe bài tứ sắc.
“Không, tôi sẽ không duyệt bài này của cô!”
Gã quát oang oang bằng tông giọng the thé lành lạnh rắn độc của mình.
“Tôi chỉ có một yêu cầu hết mực đơn giản, là cô hãy viết về tình yêu giữa đờn ông và đờn bà. Khi đưa chủ đề đấy, tôi mường tượng về sự yêu rất đỗi diễm tình mùi mẫn hoặc như sự chạm rất mực nồng nàn cháy bỏng, chớ không phải cái kiểu phê phán đờn ông xong rồi chê trách đờn bà trong tình yêu kiểu thế này đâu, Uất Kim tiểu thơ.”
Câu kết “tiểu thơ” gã ta nhấn giọng xuống, gần như là gằn mỉa.
Văn Thái vẫn luôn đội kiểu nón bê-rê lúp xúp quen thuộc chỉ là khác màu vào tùy ngày, Uất Kim ngờ rằng gã phải có một bộ sưu tập đồ sộ cái món này, bởi cũng hiếm khi cô thấy mấy cái nón trùng lặp nhau. Và dù đang ngồi giữa văn phòng với bốn bức tường kín mít thiếu ánh nắng tự nhiên tới mức phải bật đèn mới đủ sáng giữa ban ngày, thì gã cũng chẳng bao giờ cởi nón ra cả. Chẳng rõ đấy là sở thích cá nhân hay để che quầng hói bóng loáng trắng phếu giữa đỉnh đầu ở độ tuổi mới non ba lăm của mình, có lẽ là vế sau, vì Uất Kim trong một sự vô tình rất lâu về trước từng thấy gã ta luồn tay vào nón để gãi ngứa, lộ ra phần đầu trọc bóng loáng hơn cả sư sãi.
Uất Kim thẳng lưng ngang vai, cụp mắt xuống viết sột soạt lên giấy, chưa xong thì gã chủ bút đã vung tay rồi bải hải (4) nói tiếp.
“Khỏi giải thích, về viết lại! Chớ chi tôi không tạo điều kiện thì chẳng nói mà làm gì, đằng này đợt trước tôi đã đưa ra một hướng vừa hút khách mà cô còn sẵn nguồn, thì cô chê ỏng chê eo. Còn lần này, tôi đưa đề cô gật đầu ưng viết, tôi nghĩ cô biết suy tính thiệt hơn rồi, ai nào có dè lại viết ra mấy cái thứ luân lý chống đối đạo đời như vầy.”
Gã dừng một chút, nhếch mép nửa cười nửa thở, tiếng phì phì phun ra từ hai lỗ mũi.
“Làm báo cũng là cái nghề kiếm cơm thôi cô Kim, cũng cần chiều lòng đón ý người cho mình cơm ăn chớ. Thanh cao chả phải lúc. Hừ!”
Uất Kim ngẩng phắt lên, nghiến răng siết hàm, những lúc như thế này cảm giác căm phẫn vì bản thân không có tiếng nói, cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng, luôn hừng hực đốt tim thiêu phổi cô. Cổ họng chỉ ngứa ngáy mỗi hôm mưa gió trở trời lúc này bỗng rát đau rần rần.
Viết theo kiểu diễm tình mà Văn Thái vừa nói kia, nghĩa là viết về những bí mật chốn tình trường hoặc những trò mèo vờn chuột nơi khuê phòng. Kiểu như ông quan trộng tuổi nào đó, tranh giành với một cậu học sanh râu còn chưa mọc nào đó, hòng đoạt lấy vai trò làm người hộ tống cho một cô đào nhuận sắc mơn mởn nào đó. Hoặc ví như các đấng mày râu đã đốt bao nhiêu bạc tiền của nả, phô bày bao nhiêu trò kịch kệch cỡm, chỉ hòng đổi lấy một nụ cười của mỹ nhơn.
Viết những việc ấy không xấu, bởi có cầu tất sẽ có cung mà thôi, hơn thế trong tòa soạn từ trước tới nay càng không thiếu những đồng nghiệp chuyên làm đề tài ấy. Chẳng qua đó không phải sở trường cũng như phong cách viết của Uất Kim xưa rày. Đây cũng chẳng phải lần đầu cô bày tỏ phản kháng rồi lại bị phủ nhận bác bỏ. Hình như trong cái tư duy kì lạ của gã chủ bút, việc làm khó Uất Kim không chỉ là một thú tiêu khiển đốt thời gian, mà còn là thứ men say khiến gã sướng vui khoan khoái cái lòng hư vinh kẻ cả của mình, bởi vậy gã cứ thế mà làm đến quen thói thôi.
Uất Kim cắn răng gật đầu, chầm chậm gom lại từng tờ bản thảo bị quăng quật lung tung trên mặt bàn. Cô vuốt nhẹ lên mặt giấy hãy còn thơm mùi mực với những con chữ vuông vắn ngay ngắn. Thế là toi công gõ phím và tốn tiền giấy mực cho mớ bản thảo này rồi, tiếc là tiếc như thế mà thôi, bởi dù sửa lại như nào chăng nữa thì cô vẫn sẽ không đi theo ý gã chủ bút đâu, thế là chắc chắn Văn Thái sẽ diễn lại màn chửi bới đe nẹt này thêm lần nữa.
Trong hợp đồng giao kèo của cô và tòa soạn có ghi rõ ràng những chủ đề sẽ viết cùng nhuận bút mỗi bài, và dĩ nhiên là không có kiểu viết gã chủ bút đang yêu cầu kia. Tuy nhiên lúc này tranh cãi chỉ tổ tốn thời gian, chứ chắc chắn gã chẳng thèm nghe. Biết bao nhiêu lần rồi, khi cuối cùng nhì nhằng đủ lâu, thỏa lòng mua vui tàn ác của gã rồi, thì gã sẽ để yên cho cô làm đúng phận sự của cô. Văn Thái biết không thể thúc ép vì còn có hợp đồng ràng buộc, nhưng gã có quyền kéo dài không duyệt bản thảo, bằng cách bắt lỗi chỗ này hay chỉnh lý chỗ kia, đẩy đưa qua lại tới sát rạt hạn chót thì người chịu thiệt luôn là cô mà thôi. Gã biết mà cô cũng biết những điều ấy.
Còn nếu cùng đường hoặc quá lôi thôi tốn thời gian, cô có thể lôi hợp đồng ra thúc ép hoặc cứ thế gửi trực tiếp lên Tổng biên tập, ông ấy ưa chuộng loại bản thảo kiểu cô viết nên ban đầu mới chấp nhận thuê người non kinh nghiệm như Uất Kim. Đấy là cô nghĩ thầm trong đầu như vậy, coi điều ấy là chiếc phao cứu cánh dự phòng lúc khẩn cấp, vì việc này chỉ là chút khó khăn nho nhỏ chưa đáng để làm rùm beng lên.
Văn Thái chính là điển hình của loại đờn ông có đầu óc, nhưng lại ưa dùng chút ít vốn liếng ấy vào việc suy nghĩ mấy thứ trái khoáy rởm đời thay vì làm công to chuyện lớn. Với người như gã, Uất Kim không thể quá nguyên tắc mà cần dùng rất nhiều cách lắt léo cùng nhiều sự mềm nắn rắn buông, dầu cho cô vẫn chưa thực hành đủ nhuần nhuyễn vì bằng chứng chính là cuộc tranh luận này, nhưng cô tin rồi sẽ có lúc cô trở nên điệu nghệ. Và bởi tất cả những điều ấy, thú thật thì ngoài ghét cay ghét đắng gã thì cô vẫn có phần nào thấy biết ơn cái công “dạy dỗ” từ Văn Thái, nhờ những “bài học” ấy mà cô biết cách bình tĩnh hơn trước loài thú dữ cay độc.
“Cô Uất Kim, xin mời cô lên lầu, Tổng biên tập cần gặp cô trong văn phòng.” Chất giọng ngọt nhẹ ngân rung như tiếng vàng oanh, rặt kiểu con gái xứ dừa của cô nàng thư ký, vang lên sau lưng Uất Kim.
Nàng ta nói xong cũng chẳng chờ ai đáp lời mà cứ thế quay ngoắt bước ngược trở lên lầu, tiếng đế giày cao gót vang lên lộp cộp đều đặn rồi nhanh chóng biến mất chẳng còn tăm hơi.
Mới nghĩ tới ông Tổng biên tập phút trước thì phút sau đã bị réo lên văn phòng ngay được, nếu nhắc tiền nhắc bạc mà linh như nhắc người, thì có khi Uất Kim đã thành một cự phú không chừng.
“Cô đi đi.” Gã chủ bút dựa lưng ra ghế, lấy ngón trỏ nâng mũi nón bê-rê lên một chút, nhếch mép cười đểu. “Chắc ông Tổng biên cũng sẽ khiển trách cô như tôi thôi.”
Uất Kim nhíu mày, cúi chào lần nữa rồi mới ôm bản thảo tự mình bước lên lầu.
Tòa soạn báo Bá Vân đặt văn phòng chánh tại một biệt thự rộng thênh thang, có sân và rào bao quanh, mặt tiền ngó phía đường lớn, các ô cửa sổ chính đều có ban công nhô hẳn ra bên ngoài với viền lan can sắt uốn, tường trát sơn màu vàng thị chín và đắp nổi hoa văn màu trắng ngà. Phía trong xây kiểu trụ dọc với mái vòm tròn, cầu thang dạng xoắn tròn thông lên các tầng, dưới sàn dùng gạch bông kỉ hà làm nền. Tầng trệt dùng làm quầy tiếp tân và đón khách, ba lầu còn lại thì hai lầu dành cho các phòng ban cơ bản, còn một lầu cao nhất đặt phòng họp và văn phòng Tổng biên tập. Từ trong ra ngoài đều rặt phong cách Đông Dương.
Uất Kim một tay ôm cặp táp cùng bản thảo còn một tay vén tà áo dài để tiện bước lên, đi từ lầu một lên lầu ba cũng tốn kha khá thời gian, lúc đến nơi đã thấy cô nàng thư ký ban nãy đang ngồi sau bàn đặt ở phần sảnh hành lang gõ phím chữ lạch cạch. Nàng ta ngẩng đầu lên, nhíu mày gằn giọng, mà kì thật với chất giọng ngọt ngào như kia thì dù có hung dữ cỡ nào cũng chẳng tài nào gây khó chịu cho người nghe nổi.
“Vui lòng nhanh chơn lên, thưa cô. Tổng biên tập công lên chuyện xuống rất nhiều.”
Cô nàng thư ký đứng dậy sau bàn, vuốt hai lần lên chiếc váy dáng suông đang mặc rồi thẳng lưng bước dài tới trước cửa phòng Tổng biên tập, gõ nhẹ ba lần.
“Vô đi!”
Từ trong căn phòng đóng kín vọng ra giọng một người đờn ông, nhẹ nhưng có uy.
Cô nàng thư ký xoay nắm cửa, mở ra rồi quay sang gật đầu với Uất Kim lần nữa.
“Mời cô vô trong, có việc chi thì gọi tôi, tôi ngồi ngay kia thôi.”
Uất Kim gật đầu tỏ ý cảm ơn xong mới bước vào bên trong, đóng cửa.
_
*Chú thích:
(1) Đời thương hồ: Thương là buôn bán, hồ là chỉ sông nước. Cách gọi những người nghèo gắn bó cả cuộc đời với ghe thuyền và sống chủ yếu bằng nghề buôn bán trên sông nước.
(2) Ca dao Nam Bộ sưu tầm.
(3) Đại Nam Quấc Âm Tự Vị: Cuốn từ điển tiếng Việt đầu tiên của Việt Nam, tác giả Huỳnh Tịnh Của, có khi còn gọi là Huình Tịnh Của hoặc Huình Tịnh Paulus Của hay Huỳnh Tịnh Paulus Của. Cuốn sách được chính quyền Pháp ở Nam Kỳ cho phép xuất bản và phát hành rộng rãi, ngày nay vẫn có nhiều đơn vị tái bản lại liên tục.
(4) Bải hải: Phương ngữ, nghĩa là la to, thất thanh.