Chương 19. Xứng đáng? Xứng đáng.
“Cưới vợ? Cưới ai chớ?”
Bà Nghĩa cất giọng nửa hỏi nửa đùa, nhưng không có tiếng đáp lời.
Ông Nhơn nằm dài trên bộ ngựa với tư thế chống cao tay để tựa đầu, mắt hơi lim dim tận hưởng bàn tay đang bóp nắn của cậu Hiếu, một lát sau mới nói.
“Trách chi mà bây bỏ công ra mà đấm lưng bóp cẳng cho ông già này, hóa ra bây muốn xin cưới vợ mới tức cười chớ, hử thằng Ba Hiếu.”
Tuy câu chữ vẻ trách, nhưng giọng ông lại tếu táo, thành ra Trung Hiếu cũng hiểu được là lòng ông ngoại không giận, chỉ đợi cậu thuật chuyện rõ ràng cho thông suốt trí óc mà thôi.
“Thưa ngoại, thưa má, ngoại với má cho phép thì con mới dám thuật chuyện đầu đuôi ngọn ngành.”
“Ông cho phép, bây nói đi.” Ông Nhơn vẫn lim dim mắt, nói ậm ờ.
“Thưa, hôm làm tiệc mầng con đậu trường Đại học, hẳn ngoại và má vẫn còn nhớ.”
Cậu Hiếu đợi ông Nhơn gật đầu, cậu lại ngoái đầu sang nhìn bà Nghĩa ngồi bên ghế, thấy bà cũng gục gặc, thì lúc này cậu mới tiếp lời.
“Con gặp một cô con gái trạc chừng tuổi con, bên nội cổ họ Đào gốc Sa Đéc làm nghề trồng buôn hoa kiểng, hẳn ngoại cũng biết. Trò chuyện ban sơ thì biết rằng cô này học chung trường với con, mà sắc diện ngó cũng đẹp. Hai bên mến nhau nên thuận tình qua lại được một thời gian rồi, sẵn đã hạp tánh hạp tình lại thêm hai bên gia đình cũng đồng đều, nên ý con là tính phứt luôn cho rồi. Bởi lấy vợ thì sớm hay muộn, bề gì cũng phải lấy, chi bằng lấy sớm cho có người vun vén để con được thoáng trí rộng lòng, chuyên tâm lo học hành sự nghiệp.”
“Cha chả.” Ông Nhơn tặc lưỡi, nâng tay tỏ ý cậu ngừng bóp chân, rồi ông lừng khừng (1) ngồi dậy tự mình rót trà, uống cho thông giọng.
Cậu Hiếu thấy thế thì hơi ngồi nhích ra bên cạnh, nghiêm chỉnh đợi nghe ông Nhơn nói chuyện. Trong nhà này, Trung Hiếu nể oai ông Nhơn, kính lời ông Trung và ỷ lại bà Nghĩa, thành ra mọi quyết sự đều lấy ông ngoại làm đầu, kế đến là cha rồi cuối cùng mới là má.
“Trai lớn dựng vợ, gái lớn gả chồng, ấy là chuyện đúng đắn xưa rày, ông không cản con, mà nói theo bề làm ông ngoại thì phải mầng chứ chẳng thể nào giận được. Đấy là nói theo bề tình thì thuận, còn về bề lý thì ông cũng có mấy lời luận bàn phải quấy, con ưng nghe hay không?”
“Thưa, áo mặc sao qua khỏi đầu, lời ông ngoại và cha má nói là lời người đi trước, con là bậc dưới đang dò đường kiếm nẻo đúng đắn để đi, lẽ nào dám chối từ không nghe.”
“Vậy thì ông luận cho con như sau. Con tuy đã lớn nhưng chưa trải nhiều sự đời, đường học hành sự nghiệp của con cũng mới chớm nhú. Lấy vợ thì đúng là có đôi bạn cùng chia buồn sớt vui, nhưng lấy sớm quá thì trí con chưa cao, lòng con chưa vững, chắc gì cuộc tóc tơ này xứng đáng?”
“Thưa, con nghĩ rằng cô con gái kia xứng đáng lắm chớ, nhà cổ giàu mà cổ học cũng cao.” Trung Hiếu chen ngang cắt lời.
“Ấy, con đừng nghĩ ông nói không xứng đáng là chê con bé kia, ông buôn bán kinh doanh thấy nhiều thím nhiều bà còn giỏi hơn cả ông, ông đâu có khinh đờn bà. Ý mà ông nói không xứng đáng, là chuyện đồng lòng giữa chồng vợ với nhau kìa.”
Ông Nhơn nói đều, luận sâu, chứ không giận chuyện Trung Hiếu cắt lời. Ông thương cậu và muốn dạy cậu nên vai nên vóc, chứ chẳng phải áp đặt như với bà Nghĩa, người nào có cách trị riêng của người đó.
“Thưa, biết bao nhiêu cặp vợ chồng thời ông ngoại, cưới nhau qua sắp đặt mai mối mà vẫn sống đời sống kiếp với nhau đấy thôi.” Trung Hiếu đáp.
“Ông dùng cái thời này mà luận cùng con, con lại ngoặt ngược lại thời trước mà mỉa ông mới hay chớ. Vậy thì ông luận cho con nghe tại sao, đấy là vì còn vướng bận đôi bên họ hàng, đầu dây mối nhợ, người ta không yêu nhưng có nghĩa thì sống bền. Còn bây thì bây lấy nhau chỉ vì yêu, mà yêu qua đi thì còn chi níu lấy? Sao bây học Tây học Tàu, mà bây còn chẳng thông bằng ông già như ông vậy, Ba Hiếu?”
Trung Hiếu hơi cúi thấp đầu.
“Ông nói chuyện tình chuyện nghĩa lâu hay mau, nhưng đấy cũng chỉ là một vế. Còn một vế khác, cũng từ chuyện tình ấy mà luận ra, bây lấy vợ cho sớm rồi bây chìm nghỉm vào má hồng như thằng bợm chìm trong men, thiết chi học hành sự nghiệp nữa mà nói rằng yên tâm phấn đấu.”
Ông ngừng, nhấp thêm ngụm trà rồi nói tiếp.
“Rồi thì vợ bây có nghén, vợ bây nó phải ngừng cái sự học hành của chính nó để chửa đẻ. Còn bây, lẽ nào bây không phải bỏ công ra nuôi dạy con bây nên người, bây mới non mười chín, vậy khác chi đứa con nít nuôi đứa con nít khác? Lỡ dở đâu phải mỗi mình bây, còn cả con gái nhà người ta, người ta bỏ tiền bạc cho nó học nhường ấy thì cũng có tình lý của người ta. Lấy vợ thì ông cho lấy, nhưng chưa phải bây giờ, muốn gì cũng học cho xong lấy được bằng Cử nhơn đã. Đấy là ông luận phải quấy cho bây nghe như vậy.”
“Chớ hồi đó cha cho con lấy chồng, vợ chồng con cũng mới mười tám mười chín, có làm sao đâu mà.” Bà Nghĩa hỏi đùa chen ngang.
Ông Nhơn chỉ nhìn bà chứ không đáp lời, tại biết đáp lời làm sao? Chả nhẽ huỵch toẹt ra trước mặt cậu Hiếu rằng ông đâu có muốn để lại gia tài sự nghiệp cho ông Trung, thì thiết chi chuyện ông Trung học cao hay học thấp, lấy vợ sớm hay muộn. Trung Hiếu lén liếc nhìn ông ngoại, thấy ánh mắt ông lành lạnh nhìn phía má mình sau câu nói kia, phần nào cũng hiểu được chút nguyên do, nên chỉ cúi đầu chứ không nói thêm gì. Quyết sự gì của cha cậu cũng phải nghe theo ông ngoại, đó là lý do tại sao tối nay dù không có ông Trung ở nhà, cậu vẫn bàn về chuyện trăm năm như thường.
“Thì tại tánh ý cha con vốn lanh lợi lại khôn ngoan, riêng con thì còn non nên ông ngoại phải dạy biểu nhiều hơn chớ má.” Trung Hiếu ngắc ngứ nói đỡ.
Bà Nghĩa không để ý lắm, cười cười lôi khay trầu sát gần vào người, tự cắt cau phết vôi cuốn thuốc để nhai.
Ngoài cổng chợt vang lên tiếng chó sủa và cổng sắt cót két, đôi phút sau Uất Kim ôm theo cặp táp cùng máy đánh chữ bước vào phòng khách chào hỏi. Ông Nhơn gật đầu hỏi đã ăn cơm chưa rồi cho phép cô đi về phòng riêng. Bà Nghĩa và Trung Hiếu thì đang châu đầu rù rì, không buồn quan tâm Uất Kim.
***
Máy đánh chữ tuy cũ, nhưng chỉ là bề mặt lớp kim loại rỉ sét và mòn vẹt các chi tiết trang trí. Các phím gõ vẫn nhạy và chữ đi đều nét, lại còn được độ chế thêm bộ kí tự để bỏ dấu dành cho chữ Quốc Ngữ nữa. Đó cũng là lý do chính, ngoài chuyện hàng cũ thì rẻ hơn, khi Uất Kim chọn mua chiếc máy này.
Lương cố định ở dược đường được ba mươi đồng mỗi tháng, tuy thua lương làm Sở tây nhưng được cái thoải mái giờ giấc, chạy đi chạy lại tòa soạn được. Toà soạn chính đang theo cố định viết bốn bài tuần san mỗi tháng, mỗi bài hai đồng năm mươi xu, vị chi tổng tháng được mười đồng. Thêm những bài viết cho các tờ nhựt trình khác, có bài được đăng có bài không, nên rơi vào khoảng mười bài một tháng, mỗi bài chỉ được có hai mươi xu, cho như thêm được hai đồng đi.
Cái máy đánh chữ cũ này đã ngốn hết của Uất Kim tận một trăm đồng, tính cơ bản một tháng Uất Kim có lương bốn mươi hai đồng, nếu tiêu dè sẻn nhún nhít chỉ gồm ăn sáng uống cà phê loanh quanh mười một đồng, mua sách báo cũ cỡ hai mươi mốt đồng, thì dư ra được mười đồng cất trữ. Dồn hết khoản ấy vào cái máy này, có thể nói là chi tiêu vô cùng lớn, giá trị gần một năm tích cóp của cô.
Vừa ngồi gõ lạch cạch thử mực trên giấy, Uất Kim vừa nhẩm tính sơ sơ như thế, tuy hao thật nhưng không thấy tiếc.
Mà nhắc đến giấy và mực, cô nhìn sang mấy tờ giấy chủ tiệm tặng kèm, lại thở dài tính toán tiếp. Chao ôi giấy trắng đi với mực đen thì đúng là rỗng bóp chứ không giỡn. Giấy thì hai đồng cho một xấp giấy trắng cơ bản gồm trăm tờ, một tờ cho như gõ được một ngàn năm trăm chữ đi. Thêm một băng mực ribbon thì chát hơn, tới tận mười đồng, mà gõ được cao lắm hai mươi ngàn chữ là hết đát. Một tháng Uất Kim viết hơn ba mươi ngàn chữ, vị chi mười lăm đồng cho một băng rưỡi mực, bốn mươi xu cho hai mươi tờ giấy, tổng hết mười lăm đồng bốn mươi xu. Chưa kể, những thứ kèm theo như giấy than và giấy pelure để làm bản lưu, nhưng đấy là phần hao nhỏ nên thôi bỏ qua. Tính tới đây tự dưng Uất Kim ngừng gõ phím luôn.
Một tháng cô làm ra mười hai đồng từ viết lách, mà tiêu những mười lăm đồng bốn mươi xu để duy trì viết lách cơ bản, nếu dùng hoàn toàn máy đánh chữ.
Lại nói đến việc mua sách báo để chính bản thân cô đọc và nghiên cứu. Tuy luôn mua sách báo cũ thật, nhưng một cuốn sách cũ rẻ cũng hai đồng, một tháng cô mua tới mười cuốn, nhựt trình cũ thì hai đến năm xu, tính tròn một đồng cho nhựt trình cũ. Vị chi một tháng ngốn cỡ hai mươi mốt đồng cho việc đọc, nhưng đấy là chi phí cô đã dự trù vào phần tiêu xài hàng tháng, đã có hoạch định sẵn nên cũng không ngán lắm.
Tính một hồi tự nhiên thấy đầu óc quay cuồng mòng mòng.
Đúng là, người nuôi đam mê chứ đam mê chẳng thể nuôi người mà. Bởi lương lậu của cô, nếu chỉ với cái nghề viết thì còn chẳng bằng lương anh sốp-phơ trong nhà ông Nhơn, chứ nói chi đến lương của những người thầy cãi hoặc bác vật (2) hay đốc-tờ, lương họ có phải đến gấp mười hoặc gấp hai mươi lần cái nghề kiếm cơm từ con chữ này.
Kể ra thì ngán, nhưng cô vẫn không tiếc, chẳng phải vì còn tiền cô đang gửi nhà băng nên an tâm đâu, mà quả thực cô thấy không tiếc khi lý tưởng và trái tim mình được sống, được nói, qua những con chữ kia.
Đấy là sự hao hụt xứng đáng.
Bậc thông hiểu đi trước để lại nhiều lý lẽ cho kẻ bước sau, có đôi ba câu trong Ấu học ngũ ngôn thi, Uất Kim luôn tâm đắc như sau.
“Để cho con hòm ngọc,
Không bằng để hòm sách,
Trong sách tự có ngọc.”(3)
Đấy, càng ngẫm càng xứng đáng.
Tuy xứng đáng là thật nhưng ngán tiền cũng là thật, nên thôi chỉ đành tiếp tục chép tay xen kẻ với gõ máy, chứ không thì chịu chết không đào đâu ra bạc mà mua mực với giấy được.
Uất Kim thở hắt ra, tự nhiên lúc này bụng chợt réo òn ọt, cô vuốt lên xuống phần bụng chốc lát rồi tìm một tấm khăn mỏng đậy lên trên bề mặt máy đánh chữ, cất gọn máy vào góc bàn. Xong xuôi đâu đấy cô vặn cao đèn măng-xông, lục tìm gói bánh Phi Thành dúi vào tay lúc chia tay hồi đầu giờ tối, tay còn lại nâng mấy chồng sách cũng do Phi Thành tặng lên chọn lựa, tìm một cuốn đúng tác giả cô thích rồi cẩn thận lật từng trang, tránh cho nhăn giấy gãy gáy.
Vừa đọc vừa cắn bánh, cảm giác ngon miệng kì lạ khiến cô chợt vu vơ nghĩ xem nên đáp lễ lại thứ chi cho cậu Thành, bởi cứ nhận liên tục mà im im không đáp lại thì hóa ra người quấy. Nhưng quả thực khó và kẹt lắm, khó ở chỗ sao cho đủ lòng mà không vồ vập, kẹt ở điểm tiền bạc cậu đầy rẫy còn cô lại xác xơ. Biết thức chi cho người ta đẹp lòng mát dạ mà không khiến bản thân rỗng bóp meo ruột? Cổ nhân kết nghĩa vườn đào rạch máu ăn thề, cũng cần đôi chung trà nguội vài cây nhang xoàng, chứ huống chi giữa thời đại này.
Tiếng thở dài thoát ra từ mũi cùng lúc với tiếng lật trang giấy.
Bên ngoài sân dế kêu rỉ rả liên hồi, chốc lát sau có tiếng cổng sắt ken két và động cơ xế hộp tành tạch vọng từ nhà trên xuống đây, cô nghiêng đầu nghĩ rằng áng chừng là ông Trung vừa về.
Lại nói đến ông Trung, thời gian qua lu bu công chuyện khiến cô quên béng đi sự suy đoán và thắc mắc ban đầu của mình, có lẽ ngày mai nên hỏi lại ông chủ Tống thật cặn kẽ về những hột đu đủ kia.
Ánh đèn măng-xông đổ từng vùng sáng tối lên khuôn mặt Uất Kim, khiến những đường nét vốn đã lạnh lùng càng trở nên sắc cạnh. Cô cúi đầu xuống trang giấy thơm in đầy chữ, từng con chữ nhảy múa lung tung vì dòng suy nghĩ quá bộn bề của chính cô.
Uất Kim gập sách lại, thở dài tắt đèn, nhưng cô chỉ để bóng tối trùm lấy mình chứ không nhắm mắt càng không đi nằm.
_
*Chú thích:
Lương và giá được nêu ra chỉ mang tính tương đối, nhằm phục vụ nội dung trong phạm vi tác phẩm này.
(1) Lừng khừng: Phương ngữ. Thiếu tích cực, uể oải.
(2) Bác vật: Một chức danh của công chức thời kì trước. Tương đương kỹ sư hoặc người làm về kỹ thuật hiện nay. Tham khảo Tự vị tiếng nói miền Nam, Vương Hồng Sển, nhà xuất bản Trẻ.
(3) Trích trang 423, Văn minh vật chất của người Việt, Phan Cẩm Thượng, nhà xuất bản Tri Thức 2011.