Chương 77: Qua Cơn Bĩ Cực
Ân oán của đời trước, là phận con cháu, chúng tôi không thể nói ai đúng, ai sai được, dầu không nói ra miệng nhưng trong lòng chúng tôi đều hiểu hết thảy. Ông bà mình nói không sai. Mình gieo cái nhân thiện, thì mình nhận được quả lành, mà hễ mình gieo cái nhân ác, thì mình sẽ phải lãnh cái quả ác. Chỉ vậy thôi!
Trong chuyện này, có lẽ người đau khổ nhất là Huỳnh Trung khi phải nhìn từng người thân bên cạnh mình, từng người từng người một rời xa mình, để rồi bẽ bàng nhận ra những điều tốt đẹp về một người chỉ là do chính bản thân vẽ ra, hoàn toàn không có thật.
“Từ ngày má tôi vắng số, bà ta vẫn luôn tận tình chăm sóc cho tôi. Mười mấy năm qua, lúc nào tôi cũng thấy biết ơn bà ta, thậm chí có khi nghĩ lại tôi còn thấy thương bà ta nữa, coi bà ta giống như má ruột của mình vậy. Hồi nhỏ, tôi từng thấy má tôi đối xử với bà ấy không tốt, nên tôi càng thấy thương bà ta hơn. Tôi còn nghĩ, chừng bà ta mãn phần, thì tôi sẽ đứng ra lo nhang khói. Lúc nào bà ta cũng nói coi tôi giống như con ruột của mình, vậy mà bà ta lại có thể nhẫn tâm mướn người muốn hại chết tôi.”
Tôi thở dài: “Thiện hay ác, âu cũng là do sự lựa chọn của dì ấy.”
Tôi biết, bây giờ có nói bao nhiêu lời an ủi cũng không có ích gì hết. Huỳnh Trung coi dì Hai Tốt như một người mẹ, còn người ta đâu có coi anh là con. Tôi nghĩ đã từng có lúc dì Hai Tốt cũng mềm lòng trước sự hiếu thảo của Huỳnh Trung, nhưng thù hận trong lòng lại quá lớn, nó đã sớm che lấp đi sự thiện lương của dì ấy. Bởi lẽ con người ta khi bị dồn đến đường cùng, thì người ta sẽ chẳng còn tỉnh trí để phân định được chuyện gì nữa hết.
“Mình biết chuyện này từ hồi nào?”
Tôi cười, hỏi lại: “Sao khi không mình lại hỏi vậy?”
“Tôi không có ý phiền hay trách mình gì đâu, tại tôi ngó thấy mình biết chuyện mà không ngạc nhiên chút nào nên tôi hỏi vậy thôi.”
“Nói biết thì cũng không đúng. Thú thiệt với mình, đó giờ em không tin dì Hai Tốt, nên em không bất ngờ khi biết chuyện. Chỉ là em không ngờ bà ấy lại là người gây ra cái chết của má.”
Huỳnh Trung ngó ngọn đèn trên bàn thờ, không nói chuyện chi nữa hết, bộ tư lự giống như đang nhớ việc dĩ vãng xa xôi.
Từ ngày dì Hai Tốt bị bắt giam vào khám lớn, Huỳnh Trung cả ngày lao đầu vào làm việc. Đêm nào cũng chong đèn ngồi suy nghĩ, đến gần sáng mới chợp mắt được một chút. Cả người gầy sọp hẳn đi.
Năm ngày, mười ngày rồi nửa tháng trôi qua, thoáng cái đã đến ngày xét xử vụ án của dì Hai Tốt. Má Hai Thắm cứ bịnh rề rề không bớt nên không thể chịu nổi sự dằn xóc trên đường, còn cha chồng tôi thì nhất định không chịu đi, thành ra chỉ có vợ chồng tôi lên tỉnh để nghe tòa xử vụ án của dì Hai Tốt.
Xe hơi xuống tới Tòa Bố thì đã hơn 4 giờ chiều, lúc chúng tôi bước xuống xe thì đã thấy một người đàn ông chừng hơn bốn mươi tuổi đứng chực sẵn ở đó. Ông ta đứng nói chuyện với một người đàn ông trẻ tuổi, ngó dáng vẻ thì tám, chín phần chắc là trạng sư. Chừng thấy vợ chồng tôi, thì người đàn ông trẻ tuổi kia cúi đầu chào, sau đó đi thẳng một mạch vào trong tòa.
Huỳnh Trung quay qua nói nhỏ với tôi: “Đó là cậu Ba Phú, anh Ba của má tôi.”
Tôi nhìn người nọ, đúng là gương mặt có bảy, tám phần giống má Lớn. Vợ chồng tôi đi đến trước mặt cậu Ba Phú, rồi cúi đầu chào: “Dạ, chào cậu Ba.”
Cậu Ba Phú nhìn tôi, rồi nói: “Chà, kể ra cũng gần cả năm rồi chứ ít gì. Cậu biểu thằng Trung dắt bây qua chơi, mà nó cứ dụ dự hoài, thành ra tới bữa nay cậu cháu mình mới gặp nhau đó chớ.”
Hồi má Lớn chết, cậu Ba Phú đã thề sẽ không bao giờ bước chân vào nhà họ Huỳnh nữa, thành ra lúc đám cưới của vợ chồng tôi, cậu cũng không đến dự.
“Cậu đừng có trách chồng con. Chuyện này âu cũng là do con không phải. Lẽ ra con phải ghé qua nhà chào hỏi cậu mới phải lẽ.”
“Thôi! Thôi! Lỗi phải gì đâu! Tao nói chơi thôi, chứ có ý trách phiền gì vợ chồng bây đâu.”
“Ai hầu quan Lớn thì vô.” Cai hầu gọi lớn.
Khi vô tòa, cậu Ba Phú cứ nhìn chằm chằm dì Hai Tốt, hết thở dài rồi lại nhìn xa xăm. Còn Huỳnh Trung, anh không nói không rằng, mặt mày dửng dưng như không, phải đến lúc tòa tuyên án, anh mới nặng nề thở ra một hơi. Dì Hai Tốt tuy bị còng, song sắc mặt như thường không lộ ra vẻ gì sợ hãi hết.
Dẫu ngọn nguồn sự việc ra sao, thì tội sát nhân cũng là tội trọng. Tòa xử rất công bình. Dì Hai Tốt bị xử tù chung thân rồi bị đày đi lao động khổ sai.
Tan hầu đã lâu, mà Huỳnh Trung vẫn ngồi bất động ở đó không chịu đứng dậy, phải đến khi cậu Ba Phú trở vô gọi thì anh mới chịu đứng dậy rời đi.
Mọi chuyện đã kết thúc rồi, nhưng không hiểu tại sao trong lòng tôi cứ thấy bất an không yên, giống như có điều gì đó vẫn còn chưa sáng tỏ.
Dạo này tôi thấy trong mình không khỏe, nên năm ngày, mười bữa mới ghé qua tiệm một lần. Trong buồng mở cửa sổ, gió thổi hiu hiu, mát rượi, tôi đang nằm trên giường, tay gác ngang qua trán, mắt nhắm lim dim, còn đang mơ màng thì nghe thấy tiếng sột soạt ở đâu đó nên giật mình. Cứ như vậy mơ màng hồi lâu, tôi mới hoàn toàn tỉnh trí.
Tôi đi lại bàn viết định dọn dẹp mấy quyển sách cũ cho gọn gàng, nhìn qua thấy trên đầu tủ có một cái rương nên bắc ghế đứng lên lấy xuống.
“Xuống! Xuống! Xuống! Xuống! Xuống đây! Lẹ lên!” Một bàn tay to lớn đỡ lấy eo tôi, rồi đỡ tôi bước xuống.
Tôi nhìn vẻ mặt lo lắng của Huỳnh Trung, khó hiểu hỏi: “Có chuyện gì vậy, mình?”
“Chèn ơi, mấy cái chuyện này mình sai bầy trẻ nó mần cho. Mình mới hết bịnh như vậy, mà làm cái gì? Qua đây! Ngồi xuống!”
“Em ngồi không buồn tay buồn chân quá à. Em phải kiếm cái chuyện gì làm đại mới được.”
Huỳnh Trung vịn vai tôi, rồi dắt tôi đến ghế ngồi xuống: “Làm đại cái gì mà làm đại. Mình đó, ngồi yên ở đây nghỉ giùm tôi cái. Mình còn chưa mạnh lại nữa, mình phải nghỉ ngơi nhiều vô thì mới mạnh lại được chớ.”
“Công nhận nằm lâu tay chân nó cứ nhức mỏi hoài, hèn chi mấy cái người mà người ta hổng vận động nhiều, người ta cứ hay bị bịnh hoài là đúng á.”
“Bộ nhức mỏi lắm hả?”
Tôi còn chưa kịp trả lời, thì bàn tay của Huỳnh Trung đã đặt ở vai tôi.
“Mình đang làm cái gì vậy?”
“Thì tôi bóp vai cho mình chớ làm cái gì. Tôi nghe nói đấm bóp tốt dữ lắm đa, giúp máu huyết lưu thông thì người mình mới khỏe được chớ.”
Tôi cười: “Em hổng ngờ là mình còn biết lo lắng, chăm sóc cho người khác luôn đó, em còn tưởng mình chỉ biết lo cho bản thân mình thôi chớ?”
Huỳnh Trung nghe tôi nói vậy thì vẻ mặt xị xuống, ngó bộ chắc là đang cảm thấy oan ức: “Bộ ngày thường tôi tệ với mình dữ lắm hả?”
“Đâu có. Tại bình thường em thấy công chuyện trong nhà này mình có động tay động chân vô cái gì đâu.”
Bàn tay đang đặt trên vai tôi của Huỳnh Trung dừng lại, anh cúi đầu xuống, nói nhỏ: “Thì công chuyện trong nhà này có người ăn kẻ ở trong nhà mần hết rồi, có tới lượt tôi mần đâu.”
“Mình thấy sao?”
“Rất tốt.”
Dì Hai Tốt bị bắt vô khám được chừng nửa tháng thì người ta cho hay, có một đêm bà ta bị đau nặng, tới sáng thì không còn tỉnh trí nữa, buộc phải đưa vào nhà thương điên. Huỳnh Trung hay tin thì không nói gì, nhưng cả đêm cứ nằm dàu dàu hoài.
Sau ngần ấy chuyện đã xảy ra, có người vẫn tin vào cái tiếng nhân đức của ông bà Hội đồng, nhưng người ta cũng đã bắt đầu đàm luận gia đạo của nhà ông bà Hội đồng.
Cách ít bữa, tôi thấy trong người đã mạnh rồi nên ghé qua tiệm gạo phụ việc sổ sách cho Huỳnh Trung. Tới đầu giờ chiều thì vợ chồng tôi xuống nhà máy xay gạo để kiểm tra, xe vừa tắt máy thì chúng tôi đã nhìn thấy thầy ký Nghiệp đang lăng xăng đi tới đi lui để chỉ việc cho thợ.
Huỳnh Trung bước xuống xe, gọi lớn: “Thầy Nghiệp!”
Thầy ký Nghiệp giật mình, khúm núm đi lại gần: “Dạ chào cậu Ba. Chào mợ Ba.”
“Anh thấy trong mình sao rồi? Hồi hổm tôi nghe thằng Lượm nói anh bị rắn cắn, sao không ở nhà nghỉ ngơi thêm ít bữa nữa, thủng thẳng rồi hẵng đi làm?”
“Cảm ơn cậu. Tôi đã khỏe lại rồi.”
“À, mà mai mốt anh không cần lo chuyện ở kho lúa nữa. Lát nữa anh lấy hết sổ sách ở kho lúa giao cho thằng Lượm đi.”
Thầy ký Nghiệp nghe vậy thì chưng hửng: “Dạ thưa cậu, có phải tôi làm việc không tốt hay không? Nếu tôi làm không tốt, cậu cứ nói thẳng đặng tôi biết mà sửa.”
“Anh đừng có nghĩ nhiều. Không phải anh làm việc không tốt, mà là tôi có chuyện khác muốn giao cho anh làm thôi. Sau này anh cứ đi theo tôi bàn chuyện làm ăn.”
“Dạ, cảm ơn cậu.”
Đợi thầy ký Nghiệp đi ra ngoài, tôi mới đi lại hỏi Huỳnh Trung: “Em tưởng mình vẫn đang dè chừng thầy ký?”
“Chính vì dè chừng, nên mới phải để anh ta ở bên cạnh.”
“Em hiểu mình muốn giữ anh ta ở bên cạnh để dễ bề quan sát. Ngặt nỗi, con người này tâm xà khẩu Phật, diện mạo thì cung kính mà ánh mắt cứ láo liên không định. Em sợ mình đem hắn theo bên mình, chẳng khác nào tự rước lấy cái họa sát thân mà mình không hay không biết.”
“Mình nói phải. Tôi đưa anh ta theo bên cạnh, một là đưa anh ta ra khỏi kho lúa, nơi anh ta có thể một tay che trời, hai là tôi muốn xem thử, cái gan của anh ta lớn đến mức nào.”
“Thầy ký Nghiệp không đơn giản là kẻ ham tiền tài. Người ta nói “oan gia nghiệp chướng”, tôi chỉ sợ cái gốc gác của hắn có điều uẩn khúc mà bấy lâu nay mình không hề hay biết.”
Huỳnh Trung nghe tôi nói thì ánh mắt thoáng trầm xuống, anh nắm lấy tay tôi, nói bằng giọng quả biết: “Mình cứ yên tâm. Từ rày về sau, hễ tôi đi đâu với hắn, tôi sẽ dặn thằng Lượm đi theo phía sau. Còn mình ở nhà, mọi chuyện phải hết sức cẩn thận, người ta ở trong tối, còn mình ở ngoài sáng. Mọi chuyện vô chừng lắm, không biết được đâu.”
Dẫu lời hứa hẹn và sự tính toán của Huỳnh Trung vừa có lý, vừa có tình, nhưng cái nhìn láo liên, đầy uẩn khúc của thầy ký Nghiệp cứ ám ảnh tâm trí của tôi, giống như một vệt dầu loang trên mặt nước, không tài nào gột sạch được.
Sáng bữa sau, Huỳnh Trung thức dậy từ sớm, vội vàng thay quần áo để ra tiệm gạo đốc thúc bầy trẻ làm việc. Tôi ngủ không được, nên chừng Huỳnh Trung ra khỏi nhà thì tôi cũng thức dậy theo. Quanh quẩn trong nhà phụ việc lặt vặt xong, đang lúc định tìm mấy quyển sổ sách cũ ra xem, thì ngoài cổng có tiếng kèn xe hơi. Tôi ngó ra, lúc đầu tôi còn tưởng là Huỳnh Trung về nhà, ai dè ngó ra thì thấy không phải. Người đàn ông bước xuống xe hơi, thong thả bước vào. Tôi vừa nhìn là nhận ra ngay, người nọ là đốc tờ Vĩnh Xuân.
Thấy tôi đang đứng ở nhà trên, anh mỉm cười, giọng sốt sắng: “Cô Bình!”
“Mời anh ngồi chơi.”
Vĩnh Xuân giở nón bước vô nhà, rồi ngồi xuống ghế. Tôi cười, rót trà mời khách: “Thiệt rủi quá! Chồng em đi ra nhà máy xay gạo chắc tới chiều mới về, hay anh ngồi đây chơi rồi tôi biểu bầy trẻ ra đó gọi ảnh về nghen.”
“Thôi khỏi, cô kêu ảnh về chi cho mắc công. Lát nữa tôi ra đó gặp ảnh sau.”
“Chị Ba, chị coi em thêu vầy có được…”
Cô Út Trinh từ nhà sau chạy lên, thấy đốc tờ Vĩnh Xuân đang ngồi đó thì cô khựng lại.
Thấy cô Út Trinh có vẻ bối rối, tôi vội vàng lên tiếng giải vây: “Nhà đang có khách. Người này em cũng biết đó đa.”
Cô Út Trinh thấy người nọ thì cô mắc cỡ, nhưng vẫn lịch sự cúi chào: “Anh Xuân mới qua chơi.”
Vĩnh Xuân gật đầu chào lại.
Tôi ngó thấy ánh mắt hai người họ nhìn nhau có gì đó không bình thường, sẵn dịp cả hai đang ở đây nên định dò hỏi thử: “Em vô đây ngồi nói chuyện chơi.”
Cô Út Trinh lắc đầu: “Dạ thôi. Em quên hồi nãy má biểu em đi pha trà, giờ em phải đi liền. Chị Ba với anh Xuân cứ ngồi đây nói chuyện nghen.”
Nói xong thì cô Út Trinh chạy đi liền. Tôi thấy cô ấy như vậy thì bật cười, xem ra cái ý nghĩ của tôi là đúng rồi.
“Mà tôi thấy cô với cô Út Trinh thân nhau quá, y chang như chị em ruột chứ không giống chị dâu em chồng chút nào hết.”
“Thì tại vì tánh nết cô Út hạp với tôi.”
Tôi đứng dậy rót trà mời khách: “Mời anh uống nước.”
“Cảm ơn cô.”
“Ví như mà tôi nói, tôi muốn cưới cổ làm vợ. Cô nghĩ thử coi, cổ có ưng hay không?”
“Anh thương Út Trinh hay sao?” Tôi hỏi lại.
Vĩnh Xuân bối rối mân mê ly trà trong tay, thẳng thắn nói: “Thương! Thương lắm! Không biết tại làm sao, từ hồi gặp cổ cho tới giờ, tôi cứ nhớ cổ hoài à.”
“Sao anh không thử tỏ thiệt lòng mình với cổ?”
“Thì… tôi có cậy chồng cô nói giùm vài lần, mà ảnh nói cô Út Trinh cứ gạt ngang à.”
Tôi nghe vậy thì suýt nữa bị sặc nước: “Bộ anh hết người nhờ rồi hay sao, mà lại đi nhờ ảnh? Chồng tôi đó giờ nói năng cộc cằn, đâu có rành mấy chuyện này đâu mà anh nhờ.”
“Thì tôi thấy ảnh khéo ăn nói hơn, nên tôi tính cậy ảnh nói giùm coi thử ý cô Út thế nào.”
Thấy người nọ có vẻ mắc cỡ, tôi nói giỡn: “Vậy sao anh không cậy tôi nói giùm?”
“Vậy cô giúp tôi đi. Tôi đội ơn cô lung lắm.”
“Tôi nói giỡn chơi với anh thôi, chứ chuyện này làm sao mà tôi giúp được. Anh phải tự mình nói với cô Út mới phải chớ.”
Vĩnh Xuân nghe tôi nói vậy thì bối rối.