– Dừng, dừng hình! Để em tóm tắt đã! – Nguyên nói. – Thế tức là… cái bữa đi chùa dâng hương đó anh có nghe lỏm được bài thơ lạ của một chú tiểu? Ò được rồi biết rồi, “anh nghe thấy” chứ không phải “nghe lỏm”. Rồi anh lần theo, chẳng ngờ chú tiểu ấy biến mất! Lúc ngẩng lên thì anh thấy hai thầy chùa đang chơi cờ dưới hiên nên đã nán lại xem… Mà sao anh lại sà vào chỗ người ta đánh cờ thế? Sao anh không hỏi họ chú tiểu kia đi đâu? Khoan nói để em tóm tắt nốt, sắp tới khúc gay cấn rồi! Ừ ừ, vậy là đương đà xem hăng thì tự nhiên… chùa đổ! Sụp cái rầm! Rồi cũng tự nhiên chùa ấy bình thường lại. Rồi khi anh ra cổng thì trời ơi, đã sang thời đại khác – thời của em, người xe như kiến, nhà cao như núi… – Nói đến đây, Nguyên bĩu môi. – Chuyện hay vậy mà bữa trước anh không kể nốt cho em nghe.
Nguyên ngồi khoanh gối trên cái ghế đá tròn dưới tàng cây già cỗi, tay chân cậu lấm lem bùn đất, hậu quả của một phen hì hục đào và lấp hố (đấy là chưa kể đến hai dấu tay đen thùi do cái thói ưa chùi tay vào quần của Nguyên). Nhưng nào có hề chi! Bởi hồn trí thằng nhỏ đang bị cuốn xoáy vào câu chuyện hoang đường mà bạn ma kể lại. Hai tay Nguyên múa may, khua khoắng, giọng cậu kịch tính như khi thằng Khoa bạn cậu mải nói chuyện kiếm hiệp.
Trái với vẻ tấm tắc của Nguyên, Quý Ly chỉ chốc chốc gật gù. Vẻ tĩnh tại của y khiến Nguyên nghĩ dễ bạn mình đã trăm phen gặp ma nên hóa ra thấy nhàm. Mà nói nào ngay, chính cái sự tồn tại của Quý Ly đã là một truyền kỳ quái sự mà Nguyên đoan nếu viết thành hồi ký thì phải rúng động và tốn giấy mực lắm.
– Vậy là anh chưa chết thật hả?
Câu hỏi này có vẻ không làm Quý Ly đẹp lòng, thành thử y chỉ lom lom nhìn Nguyên chứ không ho he gì. Nhưng thằng bé Nguyên vốn tính lanh lợi, hoạt bát, thế là cậu nhận ra ngay ẩn ý trong ánh mắt Quý Ly. Hẳn là người bạn ma của cậu đang nói: “Thằng ranh này lại hỗn.” Hoặc giả: “Mình đã nói mấy lượt mà nó cứ tưởng mình đùa chơi, chán hết cả người.”
Cái trò giả giọng bạn ma trong đầu khiến Nguyên cứ cười rúc rích mãi. Cậu vươn vai, ngửa cổ nhìn lên tàng cây cao thẳm. Trên ấy lá biếc xanh mướt, cành nhánh chằng chịt đan cài khiến Nguyên có cảm tưởng cả hai đang rúc mình dưới một mái lều xanh. Những hạt nắng lấp lánh như bụi vàng lặng lẽ xuyên qua kẽ lá, rơi li ti trên tóc, trên vai, trên trán cậu thiếu niên, ươm nảy một niềm vui không tên, kín đáo.
Nguyên cười ngây ngô, chừng như đang lẩm bẩm một mình:
– Hóa ra anh không phải ma thật, vậy mà lại chỉ có mình em trông thấy anh, lạ lùng ghê… Giờ anh cũng chưa về được, thế…
Một điều gì đó bỗng vụt qua óc Nguyên, cái điều ấy khiến Nguyên phải ngồi thẳng dậy. Không chỉ thế, điều đó còn khiến thằng bé phải nhìn bạn ma chăm chú, phải tìm tòi và giải mã những cảm xúc hiển hiện hoặc ẩn giấu trên gương mặt bạn, mà giờ, chúng đương bị bóng râm từ đám mây trên đầu làm cho mơ hồ đi. Nhưng không sao. Như đã nói, Nguyên là một thằng bé nhạy bén, cu cậu thấy ngay trên khuôn mặt ấy sự cô quạnh của một kẻ tha hương.
Phải rồi, đây không phải lần đầu tiên Quý Ly nói chắc nịch: “Về, phải về chứ. Thẹn với non sông lắm.” Y yêu mến cuộc sống ở thời hiện đại văn minh, nhưng hơn cả, y đau đáu về cố hương lầm than của mình.
Niềm vui trong lòng Nguyên nhạt dần. Cậu xoắn hai tay, lựa lời gợi chuyện:
– Ừm… thế ban nãy anh bảo em đào gốc cây là để tìm cái cục kim loại lạ lùng kia đó hả?
– Phải. Vật ấy lai lịch bất minh. Ta nghĩ có lẽ manh mối nằm ở những dòng khắc trên ấy.
Nghe thế, Nguyên xăm xắn đứng dậy ngay:
– Vậy biết đâu nó lẫn vào chỗ khác, mình thử đào tiếp đi anh.
Quý Ly lắc đầu:
– Em không nhớ lời nhà sư ban nãy ư? Vật đó đã bị người đời đào lên từ nhiều năm trước rồi.
– Ừ nhỉ, đã có đội khảo cổ đến đây khai quật mất… – Nguyên gãi đầu, ỉu xìu. – Ơ nhưng hượm đã… nếu vậy thì món ấy chắc sẽ được đưa về bảo tàng cũng nên.
– “Bảo tàng” là chốn nào? – Quý Ly hỏi.
– Bảo tàng là nơi người ta bày đồ cổ ấy, kiểu gì cũng có thứ anh tìm. Đi thôi anh!
Những đám mây chì nặng nề dần tản lui, như có bàn tay vô hình kéo dạt chúng về phía cuối trời. Từ giữa khoảng xanh mở ra ấy, vầng dương thu mình lại, tỏa một thứ lửa hiền, thứ lửa đã thôi thiêu đốt mà chỉ còn thắp lên một màu hoàng cam trầm ấm. Nắng như tấm mạng mỏng vờn qua màu xanh nõn nà của một ngôi chùa cây cối im lìm, chiếu theo hai bóng người đang hối hả chạy xuống cái dốc thang hun hút.
Trên các bậc đá, những bước chân vội vàng khiến mồ hôi Nguyên vã ra như tắm. Áo xống thằng bé ướt đẫm, dớp vào lưng. Khi trông thấy ông bác xe ôm đậu dưới bóng cổng chùa, mặt mũi Nguyên đã mướt mải, đỏ lựng.
Thấy Nguyên vội, ông bác bèn hỏi thăm:
– Sao thế con trai?
– Bác… bác chở cháu… – Nguyên chống gối, gập lưng thở hổn hển.
Thấy thế, bác xe ôm tốt bụng đưa cho cậu một chai nước khoáng:
– Đi về hả? Uống nước đi rồi bác chở về cho.
Nguyên tu vội vài hớp nước, vừa tu thằng bé vừa xua:
– Không không, cháu muốn đến bảo tàng cơ.”
– Bảo tàng à? – Ông bác tốt bụng vén cổ tay áo, nheo mắt nhìn cái đồng hồ cũ. – Năm giờ kém nhăm, tầm này bảo tàng sắp đóng cửa rồi con trai, chạy qua đó không kịp đâu.
– Mới đó mà đã gần năm giờ rồi ạ? – Nguyên lớn giọng. Thằng bé sửng sốt quá, thế là cứ thừ mặt ra mà nhìn Quý Ly. – Chết rồi, năm giờ xe của đoàn sẽ chạy, mình phải làm sao bây giờ?
– Ta về đó mau còn kịp.
Lời bạn ma khiến Nguyên sực tỉnh, cậu rối rít bảo bác xe ôm:
– Bác cho cháu về chỗ cũ với, cháu sắp muộn rồi!
Thế là chiếc Wave cũ, sau vài tiếng nổ máy phành phạch, bỗng chốc rồ lên rồi lao vút vào con lộ lớn, tung lại phía sau một chùm khói đặc đen ngòm.
Chốn thiền môn sau lưng vẫn vắng lặng tứ bề. Cái chốn ấy chẳng mảy may đổi khác vì chuyến viếng thăm và biến mất chớp nhoáng của một người một ma. Sâu trong ngôi chùa vắng, ông sư già vẫn đứng sau bậc cửa. Hình như ông đang nhìn vào khoảnh sân nhòe nhoẹt trong cái nắng chiều tàn. Ở đó, dưới gốc cổ thụ có một bàn cờ và hai hộp quân đen – trắng. Mới đây thôi bàn cờ hãy trống không, ấy thế mà lúc này, một quân cờ đen đã lẳng lặng nằm im trên nút giao giữa hai đường kẻ.
Sư thầy nheo nheo cặp mắt, quay lưng bỏ vào trong gian điện.



Bình luận
Chưa có bình luận