Trùng Sơn Quốc dưới đời vua thứ chín, Thiên Nhạn Đế đổi quốc hiệu thành Khánh Sơn Quốc, lấy niên hiệu là Tuệ Can. Năm Tuệ Can thứ hai, triều đình đã chìm trong phong ba bão táp, quần thần kéo bè kết phái, giặc phương bắc lại nhiều lần cử sứ thần sang ép Thiên Nhạn Đế quy phục.
Trước tình thế loạn trong giặc ngoài, Thiên Nhạn Đế nổi trận tam bành, dứt khoát hạ chiếu thư tuyên chiến với phương Bắc. Đối nội, ông ra tay thanh trừng hơn hai mươi gia tộc lớn nhỏ, bắt giam hơn hai mươi quan lại từ các cấp.
Chiến thư vừa ban ra, Thiên Nhạn Đế lập tức cho mời Mạc Liễn về triều. Người này mưu lược vừa đủ, lại là bạn nối khố mà ông hết mực tin yêu. Chẳng chút hoài nghi, Thiên Nhạn Đế trao binh ấn, giao phó ba vạn quân tinh nhuệ, lệnh Mạc Liễn trấn giữ nơi biên ải phương Bắc.
Năm Tuệ Can thứ năm, tình hình trong nước có nhiều chuyển biến tích cực, niềm hy vọng le lói trở lại. Nhưng vào ngày Tết Nguyên tiêu năm ấy, chờ đợi Thiên Nhạn Đế không phải là niềm vui đoàn viên, mà là một cái chết đau đớn và nhục nhã nhất.
Mạc Liễn đã phản bội. Kế hoạch tiếm quyền đã được ngấm ngầm thai nghén từ nhiều năm trước. Suốt hơn ba năm giữ binh ấn, hắn liên tục gửi tin giả về triều, đồng thời bí mật cấu kết với ngoại bang. Giữa ngày Tết Nguyên tiêu, tuyết rơi trắng trời, trong tiếng reo hò cuồng nhiệt của người dân mừng đại quân khải hoàn, Thiên Nhạn Đế gục xuống khi thanh kiếm phản trắc xuyên tim, chết không nhắm mắt.
Mạc Liễn soán ngôi thành công, nhưng hắn phải trả một cái giá đê hèn: hắn đã cắt ba thành trì trọng yếu dâng cho phương Bắc để đổi lấy ngôi báu. Hành động ấy đã đoạn tuyệt vận mệnh tự chủ, khiến Khánh Sơn Quốc chính thức trở thành nước lệ thuộc, kết thúc ngàn năm thịnh trị rực rỡ.
Giữa tiếng kèn đồng bi ai của sự sụp đổ, Tuyên Vương Mạc Liễn lên ngôi, ban bố niên hiệu Thắng Nguyên, quốc hiệu cũng đổi thành Khâu Quốc. Chỉ trong chớp mắt, hắn đã phát động cuộc đại thanh trừng đẫm máu, dùng bàn tay sắt lạnh để bóp nát mọi mối liên hệ, mọi tàn dư của triều đại cũ, khẳng định uy quyền tuyệt đối của vương triều mới.
Mạc Liễn cai trị hai mươi sáu năm thì nhường ngôi lại cho Mạc Uyển. Người này trí dũng song tài, kế thừa sự hiếu thắng của cha mình, nhưng so với người cha bất lương kia, hắn có nhiều điểm khác biệt. Mạc Liễn có năm người con trai, hai người con gái, trong chiến loạn đã mất hơn nửa, con gái lớn nhất đã sang phương bắc cầu thân, chỉ còn lại Mạc Uyển và em trai mười hai tuổi.
Dù biết nội tình và sự không cam lòng của cha, nhưng Mạc Uyển không đồng ý với việc làm khi xưa. Hắn mang theo sự chế nhạo và khinh thường của ngoại bang, sự thất vọng và phẫn nộ của dân chúng bước lên ngai vàng. Vốn nghĩ đời này hắn phải chấp nhận buông xuôi, nhìn Khâu Quốc dần dần suy tàn, để mặc cho ngoại bang thâu tóm.
Nhưng vào cái đêm định mệnh ấy đã thay đổi tất cả. Đất nước này lại một lần nữa thấp lên hy vọng.



Bình luận
Chưa có bình luận