Đọc to (tiếng Việt) Nhấn phát để bắt đầu
Thương Hoài Trọng Thanh

Chương 12. Mộng quỷ

Đèn trong phòng đã cháy gần hết mà Trọng Thanh vẫn chưa thêm dầu. Ngọn lửa nhỏ dần, yếu ớt hắt lên bức tường những mảng sáng mỏng manh. Ngoài cửa sổ, ánh trăng bạc ngàn trên sông Tam Bình đã bao phủ lấy mọi đường nét bến bờ.

Trọng Thanh ngồi bên chiếc bàn gỗ, tay đặt hờ lên một phong thư đã ố màu. Bữa cơm tối được bà Phương sai người bưng sang đã nguội từ lâu mà chẳng ai đụng đến. Cậu không đói, cũng chẳng buồn ăn. Có lẽ vì cổ họng nghẹn đắng làm cậu nuốt cơm không trôi.

Phong thư cũ được mở ra lần thứ ba trong đêm. Mép giấy đã mềm nhũn, những nếp gấp gần như rách vì bị mở ra gấp lại quá nhiều lần. Trọng Thanh từ từ trải tờ giấy mỏng ra mặt bàn để những dòng chữ của Vinh Hoài hiện ra dưới ánh đèn dầu.

"Con mèo mướp ngoài bếp mới đẻ một lứa bốn con. Có một con lông đen mun, một mắt xanh một mắt vàng. Bà Sáu nói vậy là quý lắm nên để dành nuôi làm phước. Tôi xin bà cho nó ở lại phòng tôi. Giờ ngày nào nó cũng leo lên thành xe lăn nằm ngủ, phiền lắm nhưng đuổi mãi không đi. Có hôm nó bắt được một con chuột, tha vào phòng để lên giường tôi. Nó ngồi cạnh con chuột, nhìn tôi như đợi được khen. Tôi đành vỗ đầu nó vài cái dù thú thực là tôi cũng thấy ghê…"

"Hôm qua có con chim sẻ bay lạc vào phòng. Nó đập cánh loạn xạ làm đổ cả bình mực rồi bị mèo của tôi chộp được. May tôi tóm con mèo lại kịp…"

Thanh đọc chậm rãi từng dòng, khóe môi không kìm được mà khẽ nhếch lên. Trong thư luôn thích kể lại mấy chuyện vụn vặt đời thường chứ chẳng bao giờ nhắc đến bệnh tật hay những ngày tháng cô quạnh trong căn nhà rộng lớn này. Cứ như thể cậu sợ những điều đó sẽ làm phiền lòng người đọc thư nơi phương xa.

Chỉ có dòng cuối cùng của mỗi lá thư là không bao giờ thay đổi.

"...Anh học hành có vất vả lắm không? Bên đó trời chắc lạnh hơn ở đây nhiều. Anh nhớ giữ ấm. Không biết chừng nào anh mới về?"

Trọng Thanh nhắm mắt lại. Cậu nhớ mình đã trả lời thế nào. Cậu viết rằng học kỳ cuối khá bận, nhưng sang hè sẽ về. Rằng cậu đã tìm được một phòng khám nhỏ để thực tập, mọi thứ đang dần ổn định. Rằng năm sau cậu sẽ về hẳn.

"Anh có nhận được thư của tôi không? Tôi gửi đi gần một tháng rồi mà không thấy anh trả lời."

Đó là bức thư tiếp theo của Vinh Hoài, gửi vào ba tháng sau. Nhưng Thanh không nhận được nó. Bởi lúc đó cậu đã chuyển địa chỉ và người ta không chuyển thư. Còn cậu thì mãi bận rộn với cuồn quay công việc và học tập nên cũng quên bén mất việc viết thư báo địa chỉ mới cho Hoài. Mãi cho tới một năm sau, khi Thanh về nước và đến bưu điện tìm thì họ đưa cho cậu một xấp thư không phát được, lẫn trong đó có ba bức thư tay của Hoài.

Trọng Thanh gấp lá thư lại, định cất vào hộp gỗ, nhưng tay vẫn còn nấn ná chưa buông.

Ngay lúc ấy, cánh cửa phòng bật mở. Thằng Tài vào, tay bưng một mâm đựng ấm trà, chén cháo loãng và hai quả trứng luộc.

"Cậu ơi, nay cậu mệt không ăn nổi cơm thì húp đỡ chén cháo với ăn mấy cái trứng nha cậu. Con bảo bếp pha thêm ấm trà mới, cậu uống cho ấm bụng. Trà này con lấy thử của cậu Vinh Danh mới cho hồi chiều đó, thơm dữ lắm." Tài đặt cháo trước mặt Trọng Thanh, rồi rót cho cậu một chén trà.

Hơi nước bốc lên nghi ngút, thoảng mùi ngọt thanh của trà hoa rừng. Thanh nhấc chén lên, khẽ nhấp một ngụm. Trà thật sự rất thơm, có một vị thanh mát tựa như sương núi.

"Mày đi đâu cả buổi tối mà giờ mới về?"

Tài kéo cái ghế thấp ngồi xuống cạnh bàn, tay bốc một nắm kẹo lạc từ trong túi ra nhai rôm rốp. Mắt nó sáng lên, mặt mày hớn hở: "Kể cậu nghe, con mới nghe được cái chuyện này động trời lắm à nghen. Nhà dưới người ta đồn quá trời, mà toàn thì thầm với nhau thôi, tại họ sợ tới tai nhà trên."

"Chuyện gì?" Trọng Thanh chẳng bận tâm lắm. Cậu vừa ăn cháo vừa đáp cho có lệ.

Tài ghé lại gần hơn, hạ thấp giọng: "Là chuyện của cậu Vinh Hiển. Mấy chị hầu bên dãy trong rỉ tai nhau, nghi cậu Vinh Hiển với con Mận có… có qua lại chi đó với nhau á cậu. Có chị còn nói bắt gặp hai người đứng nói chuyện riêng sau vườn lúc chạng vạng, đứng gần lắm, gần tới mức…"

"Thôi." Thanh ngắt lời, giọng nghiêm lại khác hẳn vẻ mềm mỏng thường ngày. "Chuyện đó mày nghe đâu thì để đó, đừng có đi kể lại cho ai nghe nữa."

Tài sững người, không ngờ Thanh lại phản ứng gay gắt đến vậy. "Con... con chỉ kể cho cậu nghe thôi mà, đâu có đi nói bậy với ai đâu."

"Kể cho tao nghe cũng không nên." Trọng Thanh nhìn thẳng vào mắt nó, giọng mềm mỏng trở lại nhưng vẫn nghiêm túc dạy bảo: "Mày nghĩ coi, chuyện trai gái đồn thổi như vậy, nếu không phải sự thật thì tội cho con Mận biết bao nhiêu. Một lời đồn ác miệng có thể làm hư cả đời một người con gái, mày hiểu không? Mình chưa biết thực hư ra sao, không được phép nói bừa."

Tài cúi đầu, im lặng gật gật, có vẻ đã thấm được phần nào.

Trọng Thanh nói thêm, dặn dò từng chữ một: "Với lại chuyện này tuyệt đối không được để lọt tới tai mợ Hai, nhất là từ miệng người của mình nghe chưa. Mợ đang có mang, nghe được chuyện không hay lỡ động thai thì sao?"

"Dạ, con biết rồi. Con xin lỗi cậu." Tài cúi đầu, ỉu xìu nhận sai.

"Có những chuyện, một khi lời đã ra khỏi miệng thì không rút lại được nữa. Dù sau này có biết là sai cũng chẳng cứu vãn được chi cho người ta."

Thanh thở ra một hơi nhẹ, tựa lưng vào ghế, nhìn thằng hầu có lớn mà chưa có khôn của mình.

"Tài này, mình là khách ở nhờ trong nhà người ta, không phải người trong nhà. Chuyện gia cang của người ta tốt xấu ra sao mình cũng không có quyền xen vào, càng không nên biết quá nhiều. Biết nhiều đôi khi không phải là hay, mà là rước họa vào thân."

"Dạ, con nhớ rồi." Nó ngồi thêm một lúc, không còn vẻ hào hứng như lúc mới vào, rồi đứng dậy, dọn mâm cơm nguội đem đi.

Còn lại một mình, Thanh ngồi tựa lưng vào ghế, quay đầu nhìn ra cửa sổ. Khung cửa phòng Vinh Hoài phía bên kia sân vẫn chìm trong bóng tối im lìm. Cậu ngồi nhìn mãi cho đến khi mí mắt trĩu nặng, chén trà trên bàn đã nguội lạnh tự bao giờ, chỉ còn lại một lớp cặn mỏng đọng dưới đáy chén, sẫm màu như máu khô.

 .

Ba năm.

Có người đã đợi đủ ba năm. Đợi đến khi thân xác đã hóa thành tro bụi dưới ba tất đất. Đợi đến khi linh hồn phải vất vưởng nương náu lại chốn dương gian này, người ấy mới quay lại. Vẫn ân cần như thuở nào, mà ta đã chẳng còn là người có thể nắm lấy bàn tay ấy được nữa.

Trọng Hoài ngồi lặng, bàn tay trắng bệch bấu chặt thành xe lăn. Nổi hờn tủi âm ỉ bấy lâu, cứ ngỡ đang nguội lạnh theo tháng năm giờ bỗng dưng cháy bùng lên dữ dội…

.

Bà Lớn nằm đó, trên chiếc giường gỗ chạm trỗ cầu kỳ. Thân thể vẫn đầy đặng, hồng hào chẳng có lấy chút yếu ớt nào của người bệnh. Chỉ có hơi thở khi có khi không như ngọn đèn trước gió là đang tố cáo bệnh tật của bà.

Người nhà đã quen với cảnh ấy, chỉ còn biết thay phiên nhau túc trực bên cạnh, chờ một phép màu chẳng biết bao giờ mới đến. Có kẻ độc miệng trong nhà còn thầm bảo nhau rằng bà cứ nằm đó lần lữa hết ngày này qua tháng nọ, sống chẳng ra sống mà chết cũng không ra chết, âu cái khổ cũng chẳng kém chi kẻ khuất bóng.

Ấy vậy mà phép màu đã xuất hiện vào một đêm không trăng.

Bà Lớn cựa mình, cổ họng khát khô đánh thức bà khỏi giấc mộng dài. Bà thấy mình khỏe khoắn lạ thường, không còn cái cảm giác nặng nề đè lên tứ chi suốt mấy tháng ròng nữa. Bà tự ngồi dậy, hai chân đặt xuống nền gạch mát lạnh rồi bà tự đứng lên mà chẳng cần ai đỡ. Trong lòng bà mừng rỡ khôn xiết, toan cất tiếng gọi người. Nhưng lạ thay, tiếng gọi vừa ra khỏi cổ họng như đã bị nuốt chửng chẳng vọng đi được xa. Bà xoa cổ họng, cố cất tiếng thêm mấy lần nhưng không có lấy một âm thanh nào phát ra khỏi cuống họng.

Bà đành ra khỏi phòng, bà muốn đi tìm đứa con trai yêu dấu của mình. Hành lang dài hun hút, đèn lồng treo dọc hai bên hắt lên vách tường những cái bóng chập chờn quỷ dị. Bà rảo bước mà lòng càng lúc càng bất an. Nhà cửa sao nay vắng teo không có lấy một đứa ở nào trực đêm. Chẳng có âm thanh nào khác ngoài tiếng bước chân của bà và tiếng gió thỉnh thoảng rít lên từng hồi than vãn.

Đi được một quãng, bà chợt nghe thấy văng vẳng đâu đó tiếng bánh xe lăn nghiến trên nền gạch.

Lộc cộc…

Lộc cộc…

Nó đều đặn… Chậm Rãi… Mỗi lúc một gần.

Bà Lớn đứng khựng lại giữa hành lang, tim đập thình thịch. Bà không hiểu vì sao chỉ vừa nghe tiếng động ấy thôi mà bà thấy cả người lạnh toát.

"Đứa… đứa nào đó bây?" Bà cất tiếng. Lạ thay, lần này bà nói được. Giọng bà nhỏ xíu, run rẩy vọng vào khoảng không tĩnh lặng mà chẳng có ai đáp lại.

Chỉ có tiếng bánh xe là ngày càng gần, gần đến mức bà có thể cảm nhận được một luồng hơi lạnh buốt lan tỏa từ phía cuối hành lang, nói bóng tối đen đặc không có lấy ánh đèn nào dám rọi tới.

Lộc cộc…

Lộc cộc…

Bóng tối quánh đặc bắt đầu bò trườn trên nền gạch tàu. Mùi hoa ngọc lan nồng nặc xông vào mũi. Nó không thơm ngát dễ chịu như ban chiều, mà nồng nặc quyện với mùi da thịt thối rửa và mùi vôi nồng u uất của những nấm mồ mới đắp.

Ngọn đèn lồng trên đầu bà Lớn bắt đầu chao đảo mạnh mẽ dù không hề có gió, ánh lửa lập lòe rồi chuyển sang màu xanh lét quỷ dị. Mỗi lần ngọn đèn lụi đi rồi bùng lên, chiếc xe lăn lại tiến thêm một thước. Và trong một khoảnh khắc ánh sáng xanh lét đó bùng lên, một bóng người hiện hình rõ mồn một.

Thiếu niên ngồi trên chiếc xe lăn cũ, khoác trên mình bộ áo dài màu ngà đã sờn cũ. Mái tóc đen dài rũ rượi phủ xuống hai bên vai, che gần hết gương mặt nhợt nhạt. Bà Lớn nhìn kỹ, trái tim già nua đánh thịch một cái. Bà ôm lấy ngực, từ từ ngồi thụp xuống nền gạch trơn lạnh.

"Thằng… thằng Út Hoài?" Bà lắp bắp, cả người run lẩy bẩy.

Thiếu niên không đáp. Đôi mắt trong veo năm nào giờ đã hóa thành hai hố sâu đen kịt. Sâu trong đó là hận ý lạnh lẽo, là oán độc ngút ngàn. Giờ nó đang nhìn thẳng vào bà không rời nửa khắc.

"Bà còn nhớ tôi?" Giọng nói cất lên, lạnh lẽo cấu vào trái tim yếu ớt của người đàn bà tội nghiệp. "Vậy bà còn nhớ vì sao tôi phải chết không?"

Bà Lớn run rẩy, cố lê lết lùi lại. "Tao… tao không biết cái chi hết. Ta chả làm chi cả!" Bà kêu lên, giọng đã vỡ ra thành tiếng nấc.

"Không biết."

Thiếu niên bật cười, nụ cười lạnh lẽo và cay nghiệt đến rợn người. Cậu đứng lên, rời khỏi chiếc xe lăn đã chống đỡ mình suốt nhiều năm tháng, bước đến trước mặt kẻ đã từng đạp mình xuống bùn nhơ. Bàn tay lạnh ngắt chạm lên trên cổ bà Lớn, ngón tay miết nhẹ cảm nhận mạch đập đều đặn dưới lớp da thịt mỏng manh.

"Hơi thở bà đang mượn tạm bấy lâu nay từ đâu? Bà nghĩ, cái mạng sống dây dưa này tự nhiên mà có được sao?"

Bà Lớn không hiểu hết những lời ấy có nghĩa gì, chỉ cảm nhận được ngón tay trên cổ đang bấu vào da thịt như muốn moi ra đường mạch máu nhỏ bé dưới cổ mình.

"Tha… tha cho tao…" Bà lắp bắp, hai tay chắp lại run rẩy khấn vái. "Tao già rồi, tao có tội tình chi đâu chớ…"

"Hừ" Lại một tiếng cười lạnh.

Đèn lồng dọc hành lang đồng loạt phụt tắt. Bóng tối nuốt chửng lấy tất cả.

Bà Lớn chẳng biết lấy đâu ra sức lực mà vùng lên, ba chân bốn cẳng cắm đầu chạy. Trong bóng tối, bà chẳng còn phân biết nổi phương hướng, chỉ có chạy và chạy. Chạy mãi, chạy cho đến khi dưới chân không còn là nền gạch cứng, mà hóa thành đất mềm rồi cỏ ướt. Và rồi… bước hụt một bước, bà rơi xuống...

Nước sông lạnh buốt bấu chặt lấy đôi chân bà, kéo tuột bà xuống, nhấn chìm bà vào lòng sông...

"Già rồi thì đi chết đi."

Bình luận đoạn văn

Bình luận

Trả lời bình luận

Chỉnh sửa bình luận

Thiết lập văn bản

Xem trước

Nội dung sẽ hiển thị như thế này

Chọn font chữ

Cỡ chữ

12px 30px