Chương 1. Nhà Hội Đồng có ma
Cái chợ xế ven sông Tam Bình vào buổi chiều tà muỗi bay như trấu vãi. Trên bờ đất sình lầy, dăm ba cái sạp tre ọp ẹp bày biện vài con cá lóc uể oải ngáp nước, mớ rau muốn héo rũ và mấy nãi chuối xiêm chín rục. Người mua thì thưa thớt mà kẻ bán thì ngồi đuổi muỗi chành chạch. Thế nhưng, cái không khí buồn chán, tẻ nhạt ấy bỗng chộc bị xé toạc bởi một giọng nói bén ngót, hách dịch từ dưới bến sông vọng lên.
"Tránh ra! Tránh cái lối ra cho tao đi xem nào! Đồ đạc trông dởm dáng thế này mà cứ bày chật cả lối, quẹt dơ áo lụa của tao thì bán cả thân tụi bay cũng không đền nổi đâu!"
Người vừa bước lên bờ là bà vú Phương, con ở kề cận của bà Hội đồng. Nói là con ở, nhưng bà ăn vận tươm tất lắm. Áo bà ba lụa mỡ gà, tóc búi cài trâm bạc sáng loáng. Có câu chó cậy gần nhà nên cái tánh bà kiêu ngạo lắm. Xưa nay đi chợ, cái mặt toàn nghếch lên trời, tiền bọc đầy túi mà cứ thích mua hàng trên đầu trên cổ thiên hạ.
Bà Phương đỏng đảnh đi tới cái sạp cá của chị Rổ, dùng cái nón lá quạt phành phạch, dậm chân chửi đổng:
"Con này, con cá lóc bây lớn mà mày đòi những hai cắc bạc à? Cá sông hay cá vàng mà đắt thế? Bán cho nhà ông Hội đồng thì phải biết điều, bớt một cắc, tao lấy hai con mập nhất. Mau lên, trễ tràng công chuyện lớn trong dinh là tao gõ đầu mày đấy!"
Dầu trong lòng chị Rỗ tức điên ruột nhưng nghĩ đến cái uy một tay che trời của ông Hội đồng, chị đành nặn ra nụ cười héo hắt, vừa cân cá vừa khúm núm:
"Dạ… cá này mới vớt dưới ao nên tươi lắm vú, ông Hội ăn ngon thì sau này vú ghé con nhiều nhiều nghen. Mà nay trong dinh có tiệc tùng chi hả vú? Con thấy vú mua quá trời đồ, lại còn hối hả thế kia?"
Bà Phương hếch cái cằm đầy thịt lên, cười khẩy một tiếng: "Nhà Hội đồng có tiệc lớn mà còn cần mua cá phường chợ của chúng mày chắc. Chẳng qua là nay trong dinh có khách quý, vị kia tài học uyên thâm từ tận trên Gia Định xuống chơi, nghe đâu có mối thâm tình chi đấy với ông Hội đồng và cậu Hai từ thuở trước. Nghiệt cái là hải sản bà Hội đặt người ta chưa giao kịp, nên tao mới phải đích thân ra đây tìm đồ tươi ngon về làm cơm thiết đãi. Tụi mày liệu thần hồn mà làm ăn cho tử tế đó đa!"
Nói đoạn, bà Phương giật phắt lấy bọc cá, ném vài đồng bạc cắc xuống sạp tre nghe "cạch" một tiếng rồi nguýt dài, ngoe nguẩy cái mông đi thẳng.
Đợi cho cái bóng bà khuất hẳn sau rặng bình bát, cái chợ xế đang im lìm bỗng dưng rộn ràng hẳn lên. Mấy cái đầu đang cúi gằm giờ ngẩng lên, xích lại gần nhau. Bà Tám bán nước chè xanh dưới gốc cây dừa nhổ toẹt bãi bọt trầu đỏ lòm xuống đất, hứ một tiếng rõ dài:
"Cha chả mả mẹ cái con ở! Chủ sắp chết đến nơi rồi mà con ra cái thói hách dịch đó với ai không biết! Khách quý cái nỗi gì, tao thấy là lại một ông thầy thuốc hay thầy pháp nào đây trên tỉnh được rước về để giữ cái mạng cho mẹ con ông Hội đồng thì có!"
Chị Rổ bấy giờ mới dám thở phào một hơi, vừa vuốt ngực vừa ghé tai bà Tám, hạ giọng tò mò: "Mà kể cũng lạ hén Tám. Nhà ông Hội tiền bạc ăn ba đời không hết, thế mà cái tai ương tự nhiên nó cứ ập xuống kinh hồn."
Chẳng là nửa năm trước, bà Lớn - tức mẹ đẻ ông Hội - vốn là người xưa nay có tiếng lớn tuổi mà khỏe mạnh. Dù tuổi đã cao, tóc đã pha sương nhưng hằng ngày bà vẫn chống gậy mun đi phăn phăn khắp các dãy nhà. Miệng chửi gia nhân đầy tớ chem chẻm, tiếng thét ra lửa, quyền uy lẫm liệt không kém gì ông Hội. Ấy thế mà đùng một cái, vào một buổi chiều tà âm u, trời không một gợn gió, bà Lớn đương ngồi uống trà bên hiên bỗng dưng lăn đùng ra đất.
Khi đám người ở rầm rập chạy đến bồng bà lên, thì ôi thôi, miệng bà đã méo xẹo sang một bên, đôi mắt trợn trừng bất động, tay chân co quắp không còn cử động được nữa.
Bà Lớn trúng gió!
Một trận gió độc không biết từ đâu thổi đến, vô hình vô ảnh mà đánh gục ngay người đàn bà quyền lực nhất cái dinh cơ ấy. Bắt bà phải nằm liệt giường liệt chiếu, ăn uống tiêu tiểu một chỗ, chỉ còn biết ú ớ những tiếng vô nghĩa trong cổ họng.
Ông Hội đồng vốn là bậc chí hiếu, thấy mẹ lâm nạn thì lòng dạ như tơ vò. Mấy việc sổ sách, thu thuế điền nợ ngoài dinh, ông dẹp phắt lại hết, giao cả cho con trai trưởng. Ngày cũng như đêm, ông túc trực bên giường bệnh của mẹ, tự tay bón từng thìa cháo, thổi từng chén thuốc. Người ta thấy cái bóng của ông Hội đồng hao gầy đi trông thấy dưới ánh đèn dầu lạc.
Nhưng cái sự hiếu thảo ấy dường như cũng chẳng thấu được cái mệnh trời nghiệt ngã. Săm sóc mẹ chưa đầy nửa tháng, ông Hội cũng đổ bệnh theo. Trận ốm của ông đến mới thật kỳ lạ. Ông không ho, không sốt, nhưng cứ đến chập tối là người ngợm lại lạnh toát như người chết vớt dưới sông lên, hai hàm răng đánh vào nhau lập cập, gương mặt chữ điền uy nghi thường ngày giờ xám ngoét như chàm đổ. Đến khi mặt trời mọc, ông lại mệt lả, nằm bẹp dí trên phản, thở ra mà không hít vào nổi.
Trong nhà có hai người trụ cột cùng lúc ngã quỵ, gia cảnh nhà ông Hội đồng bỗng chốc rơi vào cảnh hỗn loạn, u ám như rắn mất đầu. Tiền bạc nhà ông có thiếu gì đâu. Lúa gạo chứa đầy mấy gian kho ăn ba đời không hết, vàng thỏi xếp chặt trong rương sắt. Mà có tiền thì phải cầu mạng sống. Thế là, chiếc xe bóng lưỡng của nhà ông hội cứ dăm ba ngày lại rồ máy chạy ngược chạy xuôi, loáng cái đã thấy đón thầy thuốc khắp nơi về dinh.
Mấy người đi chợ thấy chuyện hay cũng bu lại, một chị gánh rau chen vào: "Tôi nói thật, bệnh tật cái chi mà lạ thế! Tôi thấy là cái huông ma quỷ ở cái phòng phía Tây nhà ông Hộ nó tràn ra thì có. Cái đất đấy có ma, chòm xóm đồn đãi năm nay đâu có sai!"
Bà Tám hớp một ngụm nước chè, ánh mắt long lên đầy vẻ bí hiểm, giọng bà trầm hẳn xuống làm mấy người xung quanh phải nín thở mà nghe: "Tụi bây còn trẻ, biết thế nào được cái gốc rễ oan khuất ở cái phòng ấy. Năm xưa đó là phòng bà vợ thứ Năm của ông Hội, cái bà đẹp như tiên giáng trần ấy. Rồi một ngày, bà tự nhiên mất tích. Người nhà đó nói bà bỏ nhà theo trai. Rồi mấy ngày sau, con hầu thân cận của bả cũng treo cổ tự tử, cái xác lủng lẳng trên cành ngọc lan kế phòng, lưỡi thè ra dài cả tấc, mắt trợn trừng nhìn trân trân vào căn phòng."
Bà Tám dừng lại một nhịp, liếc nhìn ra xung quanh như sợ có tai vách mạch rừng, rồi mới nói tiếp: "Sau cái dạo ấy, căn phòng đó bỏ hoang một thời gian. Rồi cậu Út nhà Hội đồng dọn vào đó ở. Cậu út nhà đó mệnh mỏng, từ ngày vào đó là bệnh tật liên miên, thuốc bắc thuốc nam sắc uống thay cơm mà người cứ rộc đi như bộ xương khô. Rồi đùng một cái, cậu cũng chết trẻ, nghe đâu lúc đó cậu mới tròn mười tám chớ mấy..."
Chị gánh rau nghe đến đấy thì rùng mình, nổi cả da gà da vịt, đưa mắt nhìn về phía rặng tre già xa xa nơi thấp thoáng mái ngói bề thế nhưng âm u của nhà Hội đồng Lâm đang chìm dần vào bóng tối chập choạng của buổi hoàng hôn.
Ở cái đất Tam Bình này, phàm là người có tai có mắt, chẳng ai lại không biết đến cái dinh cơ đồ sộ của nhà ông Hội đồng Thời. Giàu thì giàu nứt đố đổ vách, ruộng đất thẳng cánh cò bay, lúa trong kho chất đầy chật đến mối mọt cũng chẳng ăn hết. Thế nhưng, người ta kính cái uy thế của ông Hội đồng một, thì lại sợ cái sự bí ẩn của nhà ông mười. Người dân quanh vùng, từ gã chèo đò đêm cho đến bà hàng nước dưới gốc đa đầu làng, ai ai cũng rầm rì rỉ tai nhau một câu rằng: "Nhà Hội đồng có ma!"
Cái lời đồn đại ấy chẳng phải chuyện ngày một ngày hai, nó đã tồn tại, bén rễ sâu hoắm vào tâm trí người dân nơi đây ngót nghét ngần ấy năm trời. Người ta sợ nó, nhưng người ta lại cứ thích bàn tán về nó, như một thứ gia vị kích thích cho cuộc sống nghèo khổ, tẻ nhạt bên những mái chòi lụp xụp.
Nhưng ngặt một nỗi, cái sự linh thiêng, ma quái ở cái nhà ấy nó lại chẳng theo một bài bản nào cả. Mỗi người kể một kiểu, mỗi người vẽ ra một chuyện, thành thử ra chẳng ai biết đâu là thực, đâu là hư.
Có gã phu xe cứ quả quyết với đám bạn nhậu rằng, mỗi khi trời đổ mưa giông tầm tã, sấm chớp rạch ngang trời, thì phía dãy phòng Tây nhà ông Hội đồng lại vẳng ra tiếng ho khan rũ rượi. Tiếng ho nghe đặc quánh, nghẹn ứ nơi cổ họng nghe mà da gà da vịt cứ dựng ngược cả lên.
Ấy thế mà mụ bán nước kế bên lại bĩu môi, thề thốt bằng cả danh dự của một người đàn bà góa bụa rằng mụ chẳng nghe thấy tiếng ho nào suất. Mụ chỉ thấy, vào những đêm trăng tròn canh khuya tịch mịch, thường có một bóng áo trắng muốt, thướt tha đứng bất động dưới gốc cây ngọc lan cổ thụ kế bên căn phòng phía Tây. Cái bóng ấy cứ đứng trơ trọi, mặt hướng về phía dòng sông đen thẳm, tóc xõa dài bay trong gió lạnh.
Lại có ông lão đánh cá trên sông Tam Bình kể, một đêm nọ khi neo ghe gần bờ rào đá xanh nhà Hội đồng, thì nghe thấy một âm thanh kỳ quái lúc canh ba. Giữa cái tĩnh mịch của đêm trường, tiếng "lộc cộc... lộc cộc" đều đặn vang lên. Đó là tiếng bánh xe lăn gằn từng vệt dài trên nền gạch tàu ngoài hành lang dãy phòng Tây. Tiếng động ấy cứ đều đặn chậm rãi như một bóng ma vô hình đang kiên nhẫn dạo chơi trong đêm tối.
Chung quy lại, trăm đường đổ về một lối, mọi đầu mối của những lời dị nghị đều hướng về căn thủy tạ cuối cùng nằm khuất nẻo phía Tây dinh thự. Nơi ấy, nước sông Tam Bình vỗ vào chân cột đá quanh năm suốt tháng, tạo nên những thanh âm rì rầm như tiếng oán than.