Quyển I Chương 7. Thư
Quý Sửu, Thuận Thiên năm thứ sáu.
Hiếu Cao Hoàng Đế giáng Quốc Vương Lê Tư Tề thành Quận Vương. Chính thức chọn Lê Nguyên Long là nối dòng.
Nguyên thuở mới khai quốc, vua xưng mình là Duệ Văn Anh Vũ Đại Vương, vì cái nhẽ muốn để yên phương Bắc do cái lý phù Trần đã gieo khi ngoại giao đôi bên, nhì nhằng qua lại mãi, phương Bắc mới chịu công nhận vua là quốc thống Đại Việt.
Lại nói, vì cái chính sự trong nước chưa yên, lo cái họ Trần cũ sinh sự, nên đem cái danh vương đó vào luôn trong chiếu chỉ ban hành. Chẳng rõ từ bao giờ mới đổi lại thành hoàng đế chiếu viết nữa. Nhưng từ những năm thứ nhất Thuận Thiên, khi lên ngôi, xưng trẫm với văn võ bá quan, bách tính cả rồi.
Thế mới rõ cái sự nhập nhèm này thành lệ, bởi thế vào năm Thuận Thiên thứ hai, vua vừa phong cho Tư Tề vốn là con của vợ cả, làm Giám Quốc, khi vua đau ốm mệt mỏi mà quản thay, lại vừa phong cho Nguyên Long, con của vợ thứ, làm hoàng thái tử. Hoàng thái tử danh chính là dòng nỗi dõi, nên sẽ phải cho tham gia dần việc nhiếp chính, quan với quan trường, bồi dưỡng kinh lịch để mai sau làm vua. Vậy mà lại để Tư Tề làm Giám Quốc, có cái lý nào vua dùng tay trái đánh tay phải đâu chứ?
Rồi mãi đến năm nay mới tỉnh ngộ, nên dứt khoát phế trưởng chọn thứ chứ không phải lập thứ nữa chăng? Có lẽ noi theo gương nhà Lý, nhà Trần bỏ trưởng phế thứ chăng?
Cái sự đó dân đen chẳng biết tường tận là mấy.
Tháng Tám nhuận, vua băng. Lê Nguyên Long được tôn lên ngôi, lấy năm sau niên hiệu Thiệu Bình thứ nhất.
Vua lúc này còn nhỏ, quyền lực do Sát và Ngân năm cả. Tính vua ham chơi háo sắc, thường bị Sát kèm nghiêm nên sinh ra khó chịu, bất mãn, về sau dần lấy lại quyền hành, thì kiếm cớ nhỏ bỏ tội to cho cả Sát và Ngân, thế là hai công thần khai quốc cứ thế mà đi tong. Mà kể ra vua cũng giỏi, còn nhỏ tuổi như thế mà thông minh quyết đoán lật được cả người lớn nhứ Sát và Ngân. Chuyện diệt công thần không phải chuyện hiếm gặp, nhưng đâu phải muốn diệt là diệt được ngay đâu. Ấy là cái tài của vua cả.
Kỷ Mùi, Thiệu Bình năm thứ sáu.
Tháng mười, hoàng tử Nghi Dân hạ sinh. Chắc nhân lấy làm chuyện mừng, vua quyết năm sau đổi niên hiệu thành Đại Bảo.
Nhâm Tuất, Đại Bảo năm thứ ba.
Tháng Bảy vua đi tuần miền Đông. Đến tháng Tám ghé chơi vườn Lệ Chi, huyện Gia Bình, là tư gia của Thừ chỉ Nguyễn Trãi. Không ngờ qua đêm lại băng. Chính sử chỉ chép là bệnh ác, nhưng xét trước đó vua chẳng có bệnh gì hành cả, hơn nữa đang còn trai tráng, khí huyết cương phương, sao vô cớ chết được?
Chuyện đồn đại thì nhiều lắm nhưng chính sử chép vậy nên đành tin. Chỉ điều đó là hậu nhân biết được, chứ tiền nhân thời đó ai hay, vua chết ở đâu thì lỗi quan ở đó. Thậm chí cứ cho rằng Lộ hay Trãi thực sự không giết vua đi, thì riêng cái tội để rồng chết ở nhà tôm, đừng nói ba đời, chín đời tôm có khi cũng bị luộc chín ấy chứ.
Thế nên, con của Trung Văn Hoàng Đế là Bang Cơ, vốn đã được sắc làm hoàng thái tử đã được sắc phong từ lâu theo truyền thống bỏ trưởng lập thứ, đương nhiên lên ngôi chí bảo. Khi lên ngôi đổi niên hiệu cùng năm là Thái Hoà.
Quý Dậu, Thái Hoà năm thứ mười một. Vua lấy năm sau niên hiệu Diên Ninh.
Kỷ Mão, Diên Ninh năm thứ sáu. Lạng Giang Vương Lê Nghi Dân dấy binh tạo phản, giết vua ngay trong đêm, thành công đoạt ngôi. Sau đổi tên niên hiệu là Thiên Hưng. Âu là cái nghiệp mà Trung Văn Hoàng Đế phải trả vậy.
Canh Thìn, Thiên Hưng năm thứ hai. Nhân quả báo ứng, Lạng Giang Vương bị các quan thành công đảo chính. Đưa em trai cùng cha khác mẹ với Dân là Tư Thành lên ngôi. Đổi niên hiệu thành Quang Thuận năm nhất.
Nhâm Ngọ, Quang thuận năm thứ ba.
Tại một thư quán cũ trong cung, một nhóm cung nữ, thái giám, quan lại bậc thấp, đang lục tục bê những chồng sách sang một thư quán khác, vì nơi này sắp sửa được tháo gỡ để nhường chỗ cho cung thất mới đang được chuẩn bị xây cất.
Đương trong góc gian phòng, vài người mỗi bên di dịch kệ sách, bỗng có con gián không biết từ đâu bò qua bò lại, khiến cho bọn cung nữ tá hoả hét lên, đám quan viên nhảy nhô nhảy nhách nhưng toàn đạp hụt. Riêng có kẻ thái giám không tiếc sách vở, cầm lấy ném mạnh một cái làm cho con gián đó bẹp dí ngay trên tường.
Mọi người ai nấy thở phào nhẹ nhõm.
Lúc này, gã thái giám đó cầm khăn bước tới muốn ném con gián ra chỗ khác, nào ngờ chỗ tường nơi con gián đó chết chợt vỡ ra, sụp xuống thành lỗ nhỏ. Nếu là bình thường, gã thái giám hẳn phải ăn mấy cái tội làm hư hỏng của công, nhưng hiện tại, đằng nào xây mới nên hắn cũng chẳng bận tâm mà chùm khăn ném con gián ra ngoài.
Tuy nhiên, một viên quan trẻ tên Nhân, đang đi kiểm kê sách, đi ngang qua chỗ này, cúi xuống lấy cuộn sách đang rơi vãi, phát hiện ra lỗ thổng, liền thấy sự bất thường vì rõ ràng phần này của tường được làm rỗng. Nhân ngồi xổm người, lấy bũa gõ oang oang vào phát, đục lỗ ra lớn hơn hơn, nhòm vào bên trong hoá ra thấy một cuốn sách cũ mèm.
Nhân lấy cuốn sách này ra, bề mặt phủ đầy bụi, bìa sách nhăn nheo như mới được ráo nước. khi mới lật mở, mùi hanh, hôi, hắc bốc lên khiến Nhân phải bịt mũi. Sau khi quen dần với mùi sách, lúc này Nhân mới mở sách ra xem, nào ngờ càng đọc càng kinh hãi. Bởi vậy, Nhân vội vàng yêu cầu một quan viên khác báo cho cấp trên sự tình, bản thân anh ta ôm khư khư cuốn sách nhất định không muốn cho ai khác được biết, mặt mày nhợt nhạt, căng thẳng.
Một lát sau, quan trên của Nhân đi tới nơi, bảo bọn thái giám, cung nữ lui ra ngoài. Nhân trình sách lên, bản thân người đó cũng phải rùng mình lật vội từng trang sách, hỏi nguyên cớ tìm được thế nào. Nhân thật thà thuật lại, còn nói có bọn cung nữ và thái giám làm chứng.
Quan trên của Nhân tên Đức, đưa tay sờ bề mặt giấy, nói với Nhân rằng: "Sách được nhúng một loại sáp đặc biệt, đến một thời gian nhất định sáp tự bong, lúc này mới mở ra xem được. Hơn nữa, sách được giấu kín trong tường, không phải hình thức niêm phong chính thống."
Nhân hỏi nguyên cớ làm sao phải làm vậy, Đức đáp: "Ta đoán, người này sợ những điều trong sách công bố ra thời đó không phù hợp, lại sợ có kẻ khác huỷ hoại, nên mới phải giấu. Còn phải dùng thủ pháp niêm phong đặc biệt, chắc phòng ngừa có kẻ tìm được đi chăng nữa cũng không thể biết, lại vì tò mò chưa biết nội dung ra sao sẽ không nỡ huỷ. Phải chờ thời điểm thích hợp mới biết được. Mà đến lúc đó nội dung có công bố đi chăng nữa, cũng không có tác động nhiều."
Nhân thốt: "Nếu không phải vua cho người tháo dỡ thư quán này thì đến bao giờ mọi chuyện mới tỏ ra bên ngoài?"
Đức nhìn cổ thư bằng ánh mắt lạnh lùng nhưng không trả lời, lại dẫn dẫn theo Nhân đến quan trên hơn là Tâm. Tâm đọc xong thì cũng như Đức và Nhân, vội vàng kéo nhau đi xin gặp vua.
Lê Tư Thành ban đầu thoáng ngạc nhiên khi thấy ba người Nhân, Đức, Tâm dẫn nhau đến. Tâm trực tiếp dâng lên cho vua xem cuốn sách cũ rồi thuật lại sự tình.
Tư Thành đọc xong giật mình, cả kinh, lại kéo ba người Nhân, Đức, Tâm cùng đi tới xem hiện trường xem xét.
Cầm cuốn sách cũ trên tay, Lê Tư Thành đăm chiêu suy nghĩ.
Cuốn sách này được soạn bởi một cố quan Nguyễn Đức Lâm làm quan dưới đời Hiếu Cao Hoàng Đế và Trung Văn Hoàng Đế. Đây là bản khám nghiệm cái chết của Trung Văn Hoàng Đế tại Lệ Chi Viên.
Nhắc tới Lệ Chi Viên khiến Lê Tư Thành thở dài.
Lúc Trung Văn Hoàng Đế qua đời, khi ấy mình vừa mới sinh, chẳng biết sự tình thế nào, chỉ biết mẹ mình là Tiệp dư Ngô Thị Ngọc Dao đem đi trốn. Nhờ đó mà không bị cuốn vào cuộc chiến vương quyền của hai anh trai là Bang Cơ và Nghi Dân. Mà Bang Cơ lúc đó cũng vẫn còn nhỏ, nên toàn người lớn nhiếp chính. Nghi Dân thì ở tận đẩu tận đâu, đương nhiên cũng chẳng hay. Cho nên tình hình lúc bấy giờ cả ba anh em đều không tường. Mà bây giờ, những người tường được sự thật đều đã quy tiên hết cả rồi, mang theo bí mật được chôn theo đời đời.
"Trẫm chỉ sau này được nghe kể, phụ hoàng lúc đó mình ngủ lại tại vườn vải của cựu thần Nguyễn Trãi, sáng hôm sau thì băng, Nguyễn Trãi bị vu cho tội mưu phản, âm mưu soán nghịch. Nhưng kể cả trước khi đọc cuốn sách này, trẫm vẫn luôn đau đáu vấn đề tại sao lại chẳng công bố rõ nguyên nhân cái chết, cũng chẳng rõ động cơ chính trị của Trãi và Lộ mà hành động mưu phản được?", Lê Tư Thành nói với ba quan, "tuy tiền nhân có dụng ý che giấu, nhưng không có nghĩa những gì ghi chép trong này đã là sự thật, nên cần phải tra xét thật kỹ. Không thể nói hay đoán bừa."
Ba người Nhân, Đức, Tâm được Tư Thành cho đi thẩm định lại.
Trong sách, Nguyễn Đức Lâm viết, Trung Văn Hoàng Đế bị hạ thủ trong đêm. Sát thủ đã trà trộn vào trong nhà Nguyễn Trãi trước đó, nhân lúc Nguyễn Thị Lộ được vua triệu vào hầu riêng, đã đánh ngất Lộ rồi giả trang, canh lúc vua không để ý mà dùng trâm cài trên đầu sát hại nhà vua.
Vậy nếu những gì trong sách này là thật, câu hỏi đặt ra, thì người ta đã biết rõ nội tình, sao còn hàm oan cho Nguyễn Trãi?
Lê Tư Thành cười lạnh trong lòng.
Nguyễn Trãi lúc đó tuy chỉ là một công thần đã cáo lão hồi hương, tuy không can dự triều chính nhưng lại có tiếng nói trong giới trí sĩ, sau này tin dùng trở lại, chính vì thế, trong mắt một số người, ông là cái gai cần phải trừ đi.
Và ai tại thời điểm đó, ai là người có năng lực khống chế được nội tình truyền ra bên ngoài? Và động cơ nào khiến người đó làm như vậy?
Tuy nhiên, điều đó không quan trọng, đầu mối vụ án theo như cuốn sách này viết, chính là tên sát thủ kia.
Tên sát thủ ngay được sau đó tra ra, không phải vì bắt được, mà y tới đầu thú, không muốn Nguyễn Trãi dính oai tai vì mình. Nhưng động cơ ám hại Trung Văn Hoàng Đế kẻ này thà chết chứ không chịu tiết lộ.
Chỉ biết, sát thủ này là nữ đệ tử của một nhân vật gọi là Công Chúa Ngọc Dung, từ thời Thái Tổ Cao Hoàng Đế Lê Lợi.
Lê Tư Thành biết ông nội mình có hai người con gái, một là Lê Thị Đào Nữ đã mất ở Đại Minh, một vị khác là Ngọc Châu, kết hôn hai lần rồi vào chùa tu. Còn Công Chúa Ngọc Dung này không hề được đề cập trong hoàng phả hay bất kỳ ghi chép nào. Điều đó khiến Lê Tư Thành nghi ngờ Ngọc Dung này tự xưng Công Chúa.
Qua một đoạn thời gian, Tâm bẩm báo lại với Tư Thành, ở vùng trấn Kiến Xương có đề hoàng thành của dân thờ một bà tướng, tên là Lê Thị Ngọc Dung.
Theo lời dân gian kể, người này theo Cao Hoàng Đế từ thời đánh giặc Minh, được người nhận làm con nuôi, nhưng đã chết trận trước Thuận Thiên năm nhất cách đấy hai năm.
Khi dẹp được giặc, Cao Hoàng Đế truy phong cho nữ tướng này bằng một loạt mỹ hiệu như là Biển Quốc Đoan Trang, Chính Thục Từ Hòa, Chính Phương Nương Đại Vương.
Mặc dù vậy, Tâm cũng nói đã tra khảo lại các tư liệu, không thấy có sắc phong nào đã được từng ghi như thế.
Lê Tư Thành chau mày suy nghĩ.
Việc dân thờ thành hoàng là tục lệ của dân, nhưng vấn đề dám nói bà Ngọc Dung được Thái Tổ làm con nuôi, và được truy danh không phải chuyện có thể nói càn.
Dân không hiểu biết đã đành, nhưng quan xã không thể làm ngơ mà không tâu bẩm lên triều đình xem xét. Nếu triều đình khi ấy nghĩ dân nói càn, triều đình phải yêu cầu bãi bỏ ngay. Nhưng đền đó vẫn còn, dân vẫn thờ, quan xã không có động thái gì. Điều đó có nghĩa, triều đình đã cho phép và công nhận chuyện đó là thực.
Việc Thái Tổ nhận ai đó làm con nuôi không được liệt vào hoàng phả hay truy danh này không đề cập trong chính sử cũng khá bình thường. Nhưng nếu đã có chuyện được sắc phong vẫn cần được ghi chép lại để có thể đối chiếu, các quan Bộ Lại có căn cứ hàng tháng hoặc hàng năm cấp phát bổng lộc, hương thưởng dẫu đã qua đời. Vì nghĩa tử là nghĩa tận, một khi đã truy danh, vẫn cần phải hương khói, bổng lộc, lễ lạt cho đủ.
Tâm ngập ngừng có điều muốn nói thêm, Lê Tư Thành chuẩn y cho phép nói.
Tâm tâu, trong lúc tra khảo tư liệu thời Thái Tổ, rồi đến Thái Tông, phát hiện một bất thường liên quan tới trấn Trường Yên gần đó.
Lê Tư Thành vội hỏi, Tâm đáp, thời Thái Tông có một sự thay đổi nhỏ về địa giới, một số huyện của trấn này nhập vào trấn kia. Mọi huyện nhập tách đều được ghi danh rõ ràng, nhưng trừ một vùng vô danh của trấn Trường Yên nhập vào trấn Thanh Hoá.
Từ đó, Tâm đã điều tra thêm phát hiện một điểm đáng kinh ngạc, đó là tại vùng vô danh trước đây được gọi là Lĩnh Nam, có một môn phái lập trên núi, chưởng môn nơi đó được dân gọi là Công Chúa Ngọc Dung, nhưng đây là hiệu danh chứ không phải tên thực.
Tuy nhiên, sau đó bị Thái Tông đóng cửa, huỷ tích, vùng Lĩnh Nam được nhập vào trấn Thanh Hoá. Dân ở đó đã không biết chưởng môn và các nữ đệ tử này ra sao.
Lê Tư Thành trong lòng sôi sục, lập tức lệnh tiếp cho ba người Nhân, Đức, Tâm điều tra theo hướng này.
Giáp Thìn, Quang Thuận năm thứ năm.
Nhân, Đức, Tâm trình lên đầy đủ tư liệu, hầu hết là dã sử dân gian về Ngọc Dung Công Chúa ở Lĩnh Nam, có mối liên hệ với Lê Thị Ngọc Dung được thờ ở trấn Kiến Xương. Theo đó, Lê Thị Ngọc Dung và Ngọc Dung Công Chúa có khả năng là một.
Lê Tư Thành đọc xong trầm ngâm, nói với ba quan rằng, oan Nguyễn Trãi đã được giải, nhưng sự thật vẫn không thể công bố, sai ba người này tìm lại con cháu của Nguyễn Trãi để nhận chiếu minh oan. Ba quan tuân lệnh làm ngay.
Đêm đó, Lê Tư Thành vẫn thức ngồi trong thư phòng, trên bàn bày ba cuốn sách, cổ thư của Nguyễn Đức Lâm, một bản điều tra đã được các quan hiệu khảo và một bản soạn dã sử dân gian thuần tuý, không có hiệu đính hay minh khảo.
Sau đó, Lê Tư Thành đốt bỏ lần lượt ba cuốn sách, nhưng đến bản soạn dã sử, có chút chần chừ, chưa nỡ đốt vội, liền mở ra đọc lại trước đèn.
Mọi chuyện được kể từ cuối thời Minh thuộc.