Đọc to (tiếng Việt) Nhấn phát để bắt đầu
Nàng tại núi Lĩnh Nam

Quyển I Chương 6. Kỳ

Canh Thìn, Kiến Tân năm thứ ba.

Trần Thiếu Đế nhường ngôi lại cho Lê Quý Ly, bị giáng xuống làm Bảo Ninh Đại Vương. Nhà Trần trị vì Đại Việt được một trăm bảy mươi lăm năm thì kết thúc.

Lê Quý Ly hoàn nguyên họ Hồ. Hồ Quý Ly đổi niên hiệu thành Thánh Nguyên, đổi quốc hiệu thành Đại Ngu, xưng mình là Quốc Tổ Hoàng Đế, một tôn hiệu quả thật có phần ngông cuồng.

Canh Thìn, Thánh Nguyên năm thứ nhất.

Tháng Mười Hai, Hồ Quý Ly nhường ngôi cho con là Hán Thương, còn mình thì trở thành thái thượng hoàng cùng tham dự việc triều chính. Hán Thương đổi niên hiệu thành Thiệu Thành, tôn hiệu là Đường Đạo Hoàng Đế. Thế mới thấy con trai của Hồ Quý Ly có phần khiêm tốn hơn cha mình. Cũng coi như con hơn cha là nhà có phúc vậy. Nhưng phúc với họ Hồ chứ không phải phúc của dân Việt vậy.

Bởi cùng một năm mà đổi niên hiệu ba lần, đất nước đến chó gà cũng chẳng yên.

Giáp Thân, Thiệu Thành Thành năm thứ ba. Đường Đạo Hoàng Đế đổi niên hiệu Đại Ngu thành Khai Đại.

Bính Tuất, Khai Đại năm thứ tư.

Tháng Bốn, bọn Trương Cự và Mộc Thạnh lần lượt từ  Bằng Tường và Vân Nam, theo lệnh của Chu Đệ, kẻ thoán nghịch, là đứa con bất hiếu, phản tổ phản tông của Chu Nguyên Chương, đang làm vua Đại Minh nhờ việc cướp ngôi cháu mình là Chu Doãn Văn, mượn cớ phù Trần diệt Hồ, mà đem quân xuống đánh.

Ai cũng biết đó chỉ là cái cớ. Chỉ có một nhóm người cố tình không biết.

Chẳng hạn như thằng Nguyễn Khang, vì phạm tội mà phải bỏ trốn nước ngoài, mạo nhận mình thân thành Trần Thiên Bình. Thế là từ một gã gia nô của đại thần nhà Trần bỗng được nhà Minh hô biến thành hoàng thân cốt thích lưu vong, phét rằng họ Hồ tàn sát tôn thất vua triều cũ.

Hay tỷ như bọn cựu thần nhà Trần như Bùi Bá Kỷ, Trần Đình Hiển, Nguyễn Cảnh Cát, Hoàng Quảng Thành, Đạo Phương chính mình chạy sang nhà Minh, làm cái trò cõng rắn cắn gà nhà, cầu viện quân Minh.

Lại thêm cái đám tiêu biểu là bọn tôn thất Trần Thúc Dao, Trần Nhật Chiêu và gia quyến, cùng đám cựu quan nhà Trần như Mạc Thuý và Nguyễn Như Khanh, không chỉ dâng biểu, chủ động xin hàng Đại Minh khi quân Minh áp sát biên giới, mà còn nhận chức tước nhà Minh, theo chỉ đạo của bọn họ quay sang đánh nhà Hồ.

Có những con cờ ngu ngục và ngây thơ như này, Đại Minh tội gì không đánh?

Đã thế nhà Trần từ lúc mạt vận, kéo Đại Việt xuống dốc. Lòng người bất mãn, xã hội loạn lạc, kinh tế đình đốn, quân sự suy yếu.

Trong thời gian ngắn, dẫu có thánh nhân cũng khó lòng khôi phục quốc gia cường thịnh như trước trong vòng một thời gian ngắn, nên lấy gì chống lại quân Minh, cộng thêm bọn tay sai bán nước hại dân đây?

Dẫu cho bọn này có phục được nhà Trần thì cũng chỉ là đám nguỵ quân, nguỵ quyền, một đám chó săn không hơn không kém của Đại Minh mà thôi.

Nước mất nhà tan là điều không còn nghi ngờ.

Định Hợi, Đại Khai năm thứ năm.

Nhà Hồ đầu hàng, nhà Minh chính thức đô hộ nước ta, nhập nước ta thành quận, gọi như tên xưa là Giao Chỉ, thành Thăng Long được đổi thành Đông Quan. Dân ta lại rơi vào cảnh Bắc thuộc. Đây đã là lần thứ tư.

Dưới sự cai trị của nhà Minh, chúng dân cùng cực. Không chỉ nghèo về cơm ăn áo mặc, mà còn bị chúng hành hạ, đánh đập, bắt nhốt, cướp giết hiếp một cách bạo tàn. Không loại tra tấn nào bọn chúng không làm!

Chúng lấy đó làm thú vui để tiêu khiển!

Sự tàn ác của bọn giặc không sao kể siết, chỉ có thể tóm gọn qua hai câu trong Bình Ngô Đại Cáo sau này của Nguyễn Trãi:

"Độc ác thay trúc Nam Sơn không ghi hết tội
Dơ bẩn thay nước Đông Hải không rửa sạch mùi"

Cơ sự đất nước ta như này, nếu trách Hồ Quy Lý một, thì trách cái bọn lòng lang dạ thú kia mười lần.

Nếu Hồ Quý Ly chịu cái nhục của một ông vua mất nước, thì bọn kia phải ngàn năm người đời phỉ nhổ.

Hồ Quý Ly làm mất nước do bản thân có dã tâm làm đế nhưng lại không có tài, cũng chẳng có đức đã đành. Nhưng mất nước do có phần của bọn rước giặc vào nhà, gà cùng một mẹ lại đi đá nhau chỉ vì cái ghế bằng vàng, thật đau lòng không để đâu cho hết, thật nhục không chỗ nào cho chừa.

Đến nỗi một lão già râu dài ngang bụng, đang ngồi câu cá cạnh một con suối, phía kia là thác nước đang ồ ạt chảy xuống, phải ngâm lên mấy câu ca dao con cóc:

"Than ôi chuyện cũ còn vang
Mỵ Châu, Trọng Thuỷ đã quên mất rồi"

Đang đọc đến đó, lão nghĩ đi cũng phải nghĩ lại, đem lôi Mỵ Châu và Trọng Thuỷ vào cũng không hẳn đúng lắm.

Đành rằng Mỵ Châu tiết lộ bí mật quốc phòng cho thế lực thù địch, nhưng nguyên do vì tin người, thật thà, luôn nghĩ tốt về người khác, là cái đức tốt đẹp cần phải noi theo, chẳng qua đen lắm mới phải loại lừa đảo, mưu mẹo như Trọng Thuỷ. Xét cho cùng thì, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử, không lẽ chồng bảo vợ cãi thì còn ra thể thống gì được nữa?

Đối với Trọng Thuỷ tuy thế thôi, nếu mà không bảo ban được vợ mình thì làm sao xứng được với câu ca dao "dạy con từ thuở con thơ, dạy vợ từ thuở bơ vơ mới về!"? Quan trọng, Trọng Thuỷ cũng làm theo lời cha mà thôi, sự tình như thế đành phải, có ai muốn mang tiếng bất hiếu đặng?

Hơn nữa, hai bên đối địch sinh tử, được mất là do số trời và cũng như tài của người kia vậy. Xét ra hai người này oan lắm, đặc biệt là Mỵ Châu, đến giờ nàng vẫn chưa được trả lại đầu.

Cái bọn đáng chém đầu là cái bọn phản quốc kia cơ.

Như Nguyễn Khang làm gia nô, không có chữ nghĩa, làm cái việc của phương trộm cướp chẳng có gì khó hiểu.

Nhưng bọn cựu thần, quý tộc họ Trần bụng đầy chữ nghĩa, miệng treo đạo lý, đầu toàn mưu mẹo, há lại không tiên liệu được nguy cơ nhờ Minh phục Trần à?

Nếu bọn họ tự nhận mình là hạng dưới đáy xã hội, hoặc tự nhận mình mình bị đần, bị khùng, thì chẳng có gì đáng chê trách. Nhưng đằng này thì...

Sẽ có ngươi bênh bọn chúng làm thế vì trung quân.

Vậy lúc Hồ Quý Ly đang tiếm quyền thì bọn chúng đã làm những điều gì? Lúc nhà Trần mục rỗng bọn chúng đã làm những điều gì?

Sao không phải tố cáo, vạch mặt Hồ Quý Ly giữa triều đường? Sao không phải cải cách duy tân? Sao không phải tụ tập quyết một phen sống mái với Hồ Quy Ly?

Làm như thế đúng là có thể bại, có thể chết, nhưng chí ít vẫn được tiếng thơm, lưu danh sử sách rằng chết vì trung nghĩa!

Nguyên nhân cũng rất đơn giản, đó là vì bọn chúng hèn, bất tài, và chọn sống nhục hơn chết vinh, vậy thôi.

Giống như mấy thằng ngang tàng, ngông nghênh, hống hách nhưng bất tài vô dụng, đã thế còn bất mãn xã hội nữa, mất hết lợi ích, bị đời nó vả mặt mới phải mượn quan hệ, mách bố mách mẹ, con ông cháu cha ra để nhờ cậy. Đã thế lại là người ngoài, cái dân tộc đã từng đô hộ đồng bào mình cả nghìn năm, không có triều đại nào nước ta không cố sức ngăn cản bọn họ vào chiếm đóng cả.

Hoàn toàn không nghe người xưa dạy "tối lửa tắt đèn có nhau", không nghe khuyên chớ "vạch áo cho người xem lưng" mà lại đi làm cái trò "lạy ông tôi ở bụi này".

Thật đúng là...

"Đành rằng thời thế lung tung
Tôi trung tớ phục chuyện đời cũng nên
Vậy mà ân bỏ oán đền
Kẻ trung như vậy chủ nhân nghẹn ngào
Tổ tiên ở dưới trên cao
Bôi tro trát trấu đeo mo muốn từ!
Phân bua phải trái công tư
Diêm Vương tuyên phán bọn này luyên thuyên
Ba lần chống giặc Mông, Nguyên
Bị thằng nghịch tử đập tan cả rồi!"

Ngẫm đến đây, lão già câu cá lại buông dài, bỏ cần, vì câu không được con cá nào, đói quá, vào nhà mở nắp gạo ra chỉ thấy chuột chết, làm lão nhăn mày nhăn mặt. Thế là lão già xách kiếm đi đào khoai để ăn. Nếu có kẻ kiếm khách nào đó nhìn cảnh vậy chắc chắn suýt xoa, không nỡ nhìn thanh kiếm quý ấy bị lão dùng làm quốc xẻng.

Đào được mấy củ khoai, thấy trời đã điểm giờ, nên lão xuống núi. Đi vào một cái hang động lẩn trong rừng núi. Lối vào khu rừng này đã được bố trị trận pháp bát quái tinh vi, kẻ nào đi vào mà không được chỉ, không biết đường đi lối lại, không phá được, sẽ lạc ở đây cho đến lúc thành cô hồn dã quỷ. Đấy là lão nghe cái gã bày trận ở đây nói thế chứ không biết thực hư thế nào.

Lão bước vào một gian động thờ, điều mà lão già chú ý không phải năm bài vị của Hộ Giáo Thánh Nữ, mà là phía dưới hàng bài vị của Trưởng Lão đã có thêm một bài vị của người vừa về với ông bà tổ tiên cách đây mới có tháng giời, niên mất ghi Kỷ Sửu, Hưng Khánh năm thứ hai, Giản Định Đế.

Nhị Thương cất bước vào trong động họp, lần lượt Nhất Cung, Tứ Chuỷ, Ngũ Vũ và Lục Thánh Nữ đi vào, quây thành một vòng tròn. Vốn chỗ này có sáu người đứng, nhưng giờ đã thiếu mất một chỗ, bây giờ cái người đáng nhẽ đứng đây thì đã dời lên ban thờ với gà luộc, cùng nải chuối xanh mất rồi.

Lục Thánh Nữ nhìn chỗ Tam Giốc hay đứng, thoáng ánh mắt lộ vẻ u buồn nhưng trôi rất nhanh, lần họp cuối cách đây không lâu, vẫn còn dủ người, vậy mà nhoằng một cái, tất cả giờ chỉ là cố nhân chờ nhau tụ tập dưới hoàng tuyền xa xăm.

Người buồn nhất có lẽ là Tứ Chuỷ. Nguyên nhân rất đơn giản, gã nói: "Chưa kịp chọn một cuộc đất tốt để chôn lão béo này, thì hắn đã bị giặc Minh hoá kiếp thân tôi mất rồi, tài năng của ta lão không được trực tiếp kiểm nghiệm, nếu không xem có dám nói ta hay vẽ bệnh không?"

Nguyên lai, Tam Giốc đi buôn gần biên giới, gặp phải giặc Minh, bị túm, cướp, giết như những bao người khác.

Nhị Thương nói: "Ta đã bảo với các ngươi rồi. Ra xã hội làm ăn bươn chải, phải trải qua đắng cay ngọt bùi. Làm ăn muốn kiếm được tiền phải chấp nhận nguy hiểm, mạo hiểm một tí các người hiểu chưa? Liều thì ăn nhiều, không liều thì ăn ít. Bởi thế mới có kẻ thương nhân, phi thương bất phú mà, cũng có kẻ ăn mày không nổi một xu như Ngũ Vũ."

Ngũ Vũ vênh vang tự đắc nói: "Bữa ta ngồi ăn xin ở ngay trước cổng trại giặc Minh, bọn nó nhìn thấy ta còn chẳng buồn giết. Không phải ta nghèo đâu. Đấy là ta có thiên mệnh, là thiên kiêu chi tử, có hào quang chính khí hạo thiên của nhân vật chính, gặp dữ hoá lành, không ai đụng vào. Bởi vậy ta mới là rồng giữa loài người chẳng phải sao? Xưa Lưu Bang cũng chẳng phải xuất thân từ ăn mày, dệt chiếu đó sao?

Nhất Cung không nhịn nổi liền chỉnh: "Ngươi biết ngươi đang mắc phải nghiệp vọng ngữ không hả Ngũ Vũ? Lưu Bang xuất thân đình trưởng, Lưu Bị mới là người dệt chiếu bán giày, nhưng không ai ăn mày như ai kia cả. Nghiêp ngươi nặng lắm rồi, kiếp sau ắt hẳn sẽ phải vào tam đồ!"

Ngũ Vũ cười: "Không phải chúng ta đang ở trong Tam Đồ hay sao?"

Nhất Cung nghe vậy lại niệm thiện tai thiện tai: "Thế nên các ngươi có muốn làm lễ cầu siêu, giảm nghiệp, cứ lên chùa tìm ta, ta đích thân chủ trì!"

Tứ Chuỷ hếch mắt nhìn: "Này lão già, lại muốn khéo tiền cúng dường của chúng ta chứ gì? Ngươi đừng hòng vải thưa che được mắt thánh!"

Lục Thánh Nữ lúc này mới lên tiếng hỏi Nhị Thương: "Lão triệu tập cuộc họp vì lẽ gì?"

Nhị Thương đáp: "Tôi muốn hỏi Thánh Nữ xem có nên giúp đỡ tông thất chính danh của họ Trần đánh đuổi giặc Minh một phen hay không? Tôi biết chúng ta luôn tránh can dự vào nhân quả, nhưng bây giờ nhân quả này không chỉ nhắm vào tôn thất, mà còn không loại trừ chúng ta. Nếu chúng ta không hành động kịp thời, nó sẽ bức ép sự tồn vong của chúng ta! Hãy nhìn vào đời trước xem, chỉ vì không can thiệp mà giáo hội bị giặc Nguyên tổn hại gần chín phần nguyên khí."

Lục Thánh Nữ gật đầu đồng ý với Nhị Thương. Mặc dù gọi là Hộ Giáo Thánh Nữ, nhưng công việc chính của Hộ Giáo Thánh Nữ không phải là hộ giáo thật sự. Mà trách nhiệm này luôn thuộc về vị trí Chấp Pháp. Mà đời này, trong số bốn trưởng lão, không ai giỏi võ công như Nhị Thương, nên vai trò này được giao cho lão. Thế nên, theo quan điểm bảo vệ giáo hội, Nhị Thương nói đúng.

Song Lục Thánh Nữ lại lắc đầu: "Nếu nằm ngoài khả năng bảo vệ mà bị diệt. Đấy cũng là nhân quả. Hơn nữa, giặc Minh cường hãn như thế, ngay cả thời thịnh thế của Tam Đồ Giáo  cũng không có sức kháng cự."

Nhất Cung nhìn sâu vào mắt Nhị Thương hỏi: "Ngươi không lẽ..."

Tứ Chuỷ cùng Ngũ Vũ nghe Nhất Cung hỏi vậy đều sắc mặt trở nên trầm trọng, cùng nhau quay qua Nhị Thương.

Lục Thánh Nữ nhíu mày chờ Nhị Thương phản hồi Nhất Cung, chưa dám khẳng định.

Nhị Thương nhìn bọn họ nghiêm túc nói: "Ta biết công việc của Hộ Giáo Thánh Nữ không chỉ đơn thuần giữ truyền thừa bí mật, mà còn nghiên cứu cách mở mật lăng."

Cả ba trưởng lão hít một hơi lạnh, Lục Thánh Nữ siết tay, ánh mắt dần trở nên lạnh đi nhìn Nhị Thương, nhưng giọng bà vẫn đều đều thản nhiên: "Đây là giáo vụ được ngôn lệnh từ Nhất Thánh Nữ, không ghi chép vào biên niên, sao ngươi biết được?"

Nhị Thương cân nhắc một hồi, thật nói, lão đã vào phòng làm việc của Hộ Giáo Thánh Nữ. Đó là bên trái phòng của động thờ. Lần trước, Nhất Cung hội họp chuyện Hồ Quý Ly khảo sát tăng lữ, chính lần đấy lão thấy cửa hé mở, không tránh khỏi cám dỗ, liền bước vào.

Ngay tức thì Lục Thánh Nữ toả khí, sát cơ hiện rõ, bất cả bốn vị trưởng lão nổi da gà. Bọn họ đều biết, người giữ vị trí Chấp Pháp là người có võ công mạnh nhất trong số đám trưởng lão. Nhưng xin lưu ý, đấy là trong nhóm trưởng lão, chứ không tính Hộ Giáo Thánh Nữ vào.

Tứ Chuỷ oai oái kêu lên: "Con mẹ nó, Nhị Thương ngươi muốn chết thì cũng đi chết một mình, lôi bọn ta vào nghe chung làm gì?"

Ngũ Vũ liền lập tức nói: "Ta bị điếc, không có nghe thấy gì!"

Nhưng Nhị Thương vẫn mỉm cười tự tin nhìn Lục Thánh Nữ. Sát khí bức người từ Lục Thánh Nữ được thu liễm, căn phòng vắng lặng như tờ.

Nhất Cung hỏi: "Lão muốn dùng bí mật trong lăng đưa biếu họ Trần?"

Lục Thánh Nữ dứt khoái nói với Nhị Thương, không thèm nén sự bức bội lại: "Đến đời ta cũng chưa phá giải được. Ngươi đừng mong làm chuyện đó. Cần can thiệp theo hướng chiến lược hơn. Nhưng xem họ Trần có nhân duyên không đã. Ngũ Vũ, tung quẻ!"

Ngữ khí gần như ra lệnh, Ngũ Vũ không dám chần chừ, tháo bịt mặt, hai mắt tháo láo, dùng mai rùa, bỏ sáu đồng xu vào lắc rất chuyên nghiệp rồi tung đồng xu lên không trung, với kỹ thuật rất nhanh, hắn cất mai rùa đi, úp một bàn tay xuống hứng sau đồng xu nằm gọn trên mu bàn tay, một xu ở giữa.

Ngũ Vũ tuyên: "Quẻ Khôn, hào Thượng Lục!"

Lục Thánh Nữ hỏi: "Giải thích!"

Đây là mệnh lệnh, Ngũ Vũ liền nói: "Lời kinh của quẻ Khôn là Tây Nam đắc bằng, Đông Bắc táng bằng. Lục Hào phán long chiến vu dã, kỳ huyết huyền hoàng."

Lục Thánh nữ có chút bực bội hỏi: "Nghĩa là sao?"

Ngũ Vũ nghiền ngẫm một hồi làm cả đám sốt ruột. Nhưng cả đám đều biết đây không phải là lúc Ngũ Vũ dám làm trò nên vẫn chờ. Nguyên nhân rất đơn giản, Lục Thánh Nữ đang cáu chuyện Nhị Thương, mà phụ nữ đang cáu nam nhân tuyệt đối đừng có chọc.

Ngũ Vũ nói: "Theo cái ta đang sở cầu, theo ý ta, thời buổi loạn lạc, thế lực tranh giành, tại động này làm Trung Cung, thì người chúng ta cần giúp ở phía Tây Nam, người mà ta nên bỏ là ở Đông Bắc. Kẻ ở Đông Bắc thất thế sẽ chạy ra biển. Người phía Tây Nam đuổi theo ắt gặp kỳ binh. Gặp kỳ binh tất hưng nghiệp lớn!"

Nhất Cung có chút không tin: "Phía Tây Nam nơi nay cách không xa là Thanh Hoá. Phía Đông Bắc nơi này là cố hương của họ Trần. Không lẽ không cứu nổi họ Trần!"

Lục Thánh Nữ nhìn chăm chằm Nhị Thương, pha chút hả lòng hả dạ: "Nhị Thương, xem ra cái ý tưởng phục Trần của ông phải bỏ đi rồi."

Nhị Thương chắp tay sau lưng thở dài: "Thiên mệnh khó cưỡng, thiên mệnh khó cưỡng!"

"Ê, Nhị Thương sao cướp lời thoại của Nhất Cung vậy?", Ngũ Vũ bịt khăn che mắt lại, "cái lời đó đáng lẽ Nhất Cung phải nói kia mà?"

Nhất Cung chắp tay cúi mình: "Ngũ Vũ ngươi sai rồi, sai trầm trọng. Bởi ta sẽ nói khác Nhị Thương. Là thiện tai, thiện tai rồi nhân quả khó cưỡng, làm người phải biết buông bỏ chấp niệm. A Di Đà Phật!"

Ngũ Vũ hừ lạnh: "Trong chỗ này có ai là không có chấp niệm đâu? Nhất Cung à, muốn dạy người khác làm gì trước tiên bản thân mình phải gương mẫu cái đã."

Lục Thánh Nữ thốt, mắt vẫn dán vào Nhị Thương, khoé môi loé lên nụ cười, nói xen vào: "Ta biết vì sao lão ta vẫn còn chấp niệm, bởi Nhị Thương là con cháu của Tĩnh Quốc Vương Trần Quốc Khang, gọi An Sinh Vương Trần Liễu là tằng tổ!"

Nhất Cung, Ngũ Vũ giật mình, kinh ngạc nhìn Nhị Thương, không ngờ lai lịch của Nhị Thương lại hoàng thất đến như vậy, bảo sao nhân lúc này có ý phục Trần?

Nhưng sau đó cả hai bỏ qua, mà cả kinh nhìn Lục Thánh Nữ.

Dù bọn họ biết mặt, biết giọng của nhau, nhưng chưa bao giờ biết được tên thật của họ chứ đừng nói đến gia phả tổ tông. Không phải giáo hội cấm đoán, mà bản thân các trưởng lão đã leo lên ở mức này, thường coi đó là sự tự giác cá nhân để bảo đảm nhân quả tối thiểu cho chính mình.

Vậy mà bây giờ Lục Thánh Nữ lại công khai danh tính của Nhị Thương trước mặt mọi người.

Đây là... ăn miếng trả miếng sao?

Lục Thánh Nữ từ bao giờ tức giận đến mức phải hơn thua với một lão già như Nhị Thương vậy?

Lục Thánh Nữ muốn lấy mạng Nhị Thương dễ như trở bàn tay, không ai ngạc nhiên. Nhưng Lục Thánh Nữ lại đi hạ mình đôi co, chấp vặt với Nhị Thương? Đây là chuyện khiến bọn họ không thể hiểu nổi.

Nhị Thương thì vẫn ung dung tự tại khi bị khai danh như vậy. Dù sao dòng An Sinh Vương con cháu cũng đông, đến đời của Nhị Thương chẳng ai được phong hầu, phong tước vì chế độ Giảm Phong của nhà Trần, mà gia phả hoàng tộc không phải thứ có thể tung ra thiên hạ, treo ở đình làng, nên cũng chẳng ai biết con cháu họ Trần gồm những ai. Rất khó tra ra.

Lúc này Ngũ Vũ mới hoàn hồn bất ngờ nhìn Tứ Chuỷ hỏi, rất đơn giản, trong lúc này Tứ Chuỷ sẽ nói cái gì đó thêm dầu vào lửa, nhưng hắn xoay cằm, đăm chiêu suy nghĩ việc gì đó hệ trọng lắm.

Ngũ Vũ vỗ vay Tứ Chuỷ hỏi: "Này Tứ Chuỷ, đang tìm chỗ đất chôn cho mình hả?"

Tứ Chuỷ nói: "Ta đang suy nghĩ. Dù sao ta với ngươi tuy khác ngành nhưng cũng đều học Dịch Kinh, Lý Số,... Ta hiểu chỗ kẻ Đông Bắc thất thế, nhưng ta đang không hiểu ngươi suy ra kiểu gì mà kẻ thất thế sẽ chạy ra biển vậy? Rồi còn nói cái gì mà gặp được kỳ binh? Ngũ Vũ, ngươi nói bậy phải không?"

Nhất Cung, Nhị Thương, Lục Thánh Nữ nghe vậy cũng nổi tò mò hướng ánh mắt sang Ngũ Vũ.

Ngũ Vũ vân râu, dương dương tự đắc nói: "Thế nên ta mới nói ngươi, ta có thể làm phong thuỷ và bói toán, con ngươi chỉ là kẻ mãi sau bóng lưng vĩ đại của ta thôi, vì người có thể làm phong thuỷ chứ không coi bói được. Ha, ha!"

Lục Thánh Nữ nghiêm giọng: "Ngũ Vũ, nghiêm túc!"

Ngũ Vũ đằng hằng một cái phán như thật: "Rồng đánh nhau ắt có máu chảy. Đó là kỳ huyết huyền hoàng! Mà đánh nhau ở đâu? Là động ruộng! Máu ở đồng ruộng tất chảy qua kênh rạch, kênh rạch chảy ra sông ngòi, sông ngòi chảy ra biển lớn, tìm về cội nguồn. Thế thì kẻ thất thế mà ta đang bàn sắp chết không về biển thì tìm về đâu?"

Tứ Chuỷ lại hỏi: "Thế còn kỳ binh thì sao? Biển thì liên quan gì đến kỳ binh? Mà tự dưng đâu ra binh thế?"

Ngũ Vũ nhìn Tứ Chuỷ chán không thèm nói: "Long chiến không dùng binh thì dùng đạo lý mõm để chửi nhau à? Mà binh không thì không xứng với long, mà là kỳ binh mới được! Còn kẻ thất thế thì có hai kết cục, thua hàng và thua chết, mà hàng hay thua phải để lại kỳ binh cho kẻ đang thắng thế chứ còn sao nữa? Vả lại kẻ đó đang ở biển, kỳ binh không ở biển thì ở đâu?"

Tứ Chuỷ bị Ngũ Vũ giảng cho đến mức lắp bắp: "Vậy... vậy còn... còn hưng nghiệp lớn?"

Ngũ Vũ chép miệng, khoanh tay lắc đầu ra vẻ khinh thường ra mặt: "Chậc chậc chậc, ngươi thế này mang hết kinh thư hết cho chó gặm rồi! Kỳ binh là dao trâu để mổ bò à? Kỳ binh không làm việc lớn thì làm gì? Và kẻ mất thế người được vận, không phải người thắt thế đang được hưng lên còn gì?"

Tứ Chuỷ nghe đến á khẩu. Nhất Cung ra chiều suy ngẫm. Nhị Thương thì lòng đã nguội lạnh còn không biết Ngũ Vũ với Tứ Chuỷ cãi nhau điều gì. Còn Lục Thánh Nữ nhìn vào thanh kiếm của Nhị Thương lão đang trong tay nắm hờ, mũi kiếm chạm đất.

Nếu chỉ xét ở cái hang động khỉ ho cò gáy này, thứ được gọi kỳ binh chỉ có thanh kiếm quý của lão Nhị Thương này mà thôi, Lục Thánh Nữ ánh mắt dao động như đang tính toán cái gì đó.

Giáp Ngọ, Trùng Quang năm thứ sáu.

Trùng Quang Đế thua bại, bị bắt, rồi nhảy sông tự tận, khởi nghĩa chống Minh của họ Trần chấm hết. Tuy thất bại, nhưng về mặt chính danh chính thức, vớt vát lại được một chút mặt mũi cho tổ tiên. Nếu không họ Trần không khéo lại bị ăn chửi như triều đô ở Phú Xuân sau này cách hơn hai trăm năm nữa, vì cái tội cõng rắn cắn gà nhà.

Nhưng chuyện của hơn hai trăm năm nữa không phải là chuyện mà hai kẻ già đang đứng trên núi quan tâm, bởi họ đang bận nhìn xuống sân tập võ.

Giữa sân tập có một thiếu niên khoảng mười bốn, mười lăm tuổi đang luyện kiếm, phong thái tự tin, cước bộ như nước chảy mây trôi, liên miên chiêu thức, bụi cát quấn quanh, kiếm khí tung hoành, ngang dọc bốn phương, mạnh mẽ phi thường, đá cây đổ nứt.

Nhưng chẳng mấy ai ngoài hai lão già kia biết được rằng ba năm trước, thiếu niên này khi đó mới có gần mười một tuổi, đã phải nằm giữa đống xác giặc gần hai ngày trời để trốn giặc càn. Sau hai ngày, thằng bé đói quá, giữa đống xác thịt hôi thối đang bắt đầu phân huỷ, dùng tay khoét qua xác thịt một lỗ, mới có chỗ để móc tay đẩy một thi thể khác ra một bên. Lập tức đống xác ào ào đổ xuống để lộ đầu tóc thằng bé be bét, mặt mày nhem nhuốc não thịt.

Trước mắt thằng bé này, xác chất thành sông, nhà cửa không cháy nhưng tiêu điều, lộn xộn, máu quyện với đất thành bùn đen, tanh ngòm, hơi xộc thẳng vào mũi nó làm nó nôn thốc nôn tháo dù chẳng có gì trong bụng.

Thằng bé cố bò qua nốt đống xác, hai chân run rẩy bước đi, trời thì rét mướt mà trên người nó chỉ mặc độc chiếc áo mỏng rách nát, vừa đi vừa co ro, lẩy bẩy chân tay, răng đánh cầm cập, cố chui vào một ngôi nhà đã trở thành nhà hoang, dưới đất vẫn còn thi thể hai vợ chồng nọ, từ trong buồng lấy được một chiếc chăn bông quấn quanh người, rồi lê từ từ vào nhà bếp xem có gì ăn không. Mở nắp mấy thùng chỉ thấy toàn rau là rau. Nhưng cơn đói làm thằng bé thấy mớ rau muống sống như thấy tiên dược, gặm lấy gặm để như ma đói, rồi lại oẹ ra từng miếng, nhưng phải trào nước mắt mà nuốt tiếp.

Đêm đến, nó ngồi co ro một mình trong góc tôi, bên ngoài gió hiu hiu thổi, ánh trăng tàn chiếu len qua khe cửa sổ in bóng cây đang chảo đảo như những những nanh vuốt ma quỷ chầu chực vươn lấy mạng cái bóng của đứa trẻ đang đổ xuống sàn nhà.

Rạng sáng, nó thấy mình đang nằm trên giường, nhưng vẫn căn nhà ấy, người ngợm đã được tắm rửa sạch sẽ, bên cạnh có một bát cháo hành. Cái tầm này nó chẳng quan tâm cháo có độc hay không có độc nữa, cứ thế mà húp sùm sụp, nước mắt giàn giụa, có lẽ đây là bát cháo hành ngon nhất mà nó từng ăn, kể từ lúc mẹ nuôi nó bị giặc giết chết cách đây vào mấy tháng trước.

Mấy tháng trước, nó vốn không ở đây, mà là ở làng khác. Làng khác bị giặc đến tra lương, nhưng lương không trồng đủ, bọn giặc ác lắm, đem giết hết già trẻ, con gái phụ nữ bị chúng đem bắt rồi cưỡng hiếp. Mẹ nuôi nó trước khi bị dẫn đi, biết là không sống được nữa, nói ra sự thật là vào những năm cuối thời Trần, lúc đó nó được đặt trước cửa nhà, trong nôi còn để lại một mảnh khăn làm thai ký, bà mẹ nuôi của nó vốn trời sinh đã mất thiên chức, thấy nó thì mừng lắm, ngỡ là ông trời thương xót nên cho mình một mụn con, từ lúc đến giờ đều coi nó như con ruột. Nó nghe xong oà khóc, giữ chiếc khăn đó tới nay như vật bất ly thân.

Đương lúc giặc chém giết, có một vị tướng quân người Việt dẫn quân xông vào giải cứu như thần tướng, nhưng nó còn nhớ rõ vị tướng đó cưỡi ngựa, đằng trước có đứa bé gái sáu, bảy tuổi gì đó đang reo hò không ngớt, vô cùng nhí nhảnh, hoạt bát, tay vung nắm đấm, tay chém như thể mình đang trực tiếp giết giặc vậy. Nó thấy thế ngưỡng mộ lắm, thầm thề sau này lớn lên làm binh quân, giết giặc báo thù cho mẹ mình.

Tuy vị tướng kia đã đánh dẹp giặc, thôn làng cũng đã bị giặc phá quá nửa, trong đó có mẹ nuôi nó, giờ nó coi như tứ cố vô thân, nên xin theo hầu vị tướng này, tướng này thấy hoàn cảnh của nó như vậy nên tội nghiệp dẫn theo, bé gái thấy có bạn đồng trang lứa nên vui lắm, vỗ tay reo hò.

Trong chuyến hành trình sang ngôi làng hiện tại, hai người thường xuyên nô đùa, bé gái còn nói sau này sẽ làm tướng như nhà, giết giặc báo thù thay thằng bé. Thằng bé nghe thế tự ái đỏ mặt nói không cần con gái bảo vệ hắn, sau này trở thành tướng quân uy dũng như trong truyền thuyết rồi lấy bé gái làm vợ làm bé gái đỏ mặt tía tai.

Và như thể thể hiện quyết tâm, thằng nhóc liền ra mấy bài quyền mèo cào làm nó luấn quấn chân tay, lăn xuống chân đê, bé gái cười khúc khích lăn theo, hai người vật lộn một hồi, mãi khi nô đùa làm thằng bé bị một vết thương nơi bắp tay, về sau thành sẹo, mới chịu ngồi cạnh nhau dưới chân đê ngắm hoàng hôn đang lặn xuống. Thằng bé còn tự hào khoe vết thương này như chiến công, mới là đàn ông, dặn bé gái nhớ kỹ hình này, chẳng may thất lạc, nếu còn sống sẽ đi tìm người kia, còn có cái mà nhận dạng nhau. Bé gái thì làm tặng nó một con hạc cỏ, có chất riêng, bảo rằng giống như cô Tấm làm tem chầu khiến vua nhớ thương, thì dùng con hạc này làm tín vật nhận thân.

Nhưng bình yên chẳng lâu, giặc lần này tới lần này đông và hung hãn hơn trước. Quân tướng này thua, trong cơn bĩ cực, đành chỉ ôm hận mang theo bé gái bỏ chạy, để lại cho số trời quyết định.

Bấy giờ thằng hai tay bưng bát cháo đã húp cạn, lúc này bên ngoài bước vào một người mà theo thằng nhóc giống như ông tiên giáng trần. Râu dài, đeo kiếm, quần áo trăng tinh khôi không nhuốm bụi trần. Nó lại vội nhảy xuống giường, dập đầu quỳ lạy đến chảy máu đầu xin được theo hầu. Lão già râu dài này ban đầu định không can dự vào nhân quả, nhưng ngẫm nghĩ thế này đồng ý thu nhận đem về núi dạy kiếm, dạy chữ, dạy kinh thư tam đạo đủ cả.

Cái lão già râu vừa cắt bỏ mấy ngày trước nheo mắt đứng nhìn, gật gù không thôi, kiểu đúng như sư phụ bỗng chốc nhặt được một kẻ đệ tử mang trong mình hạt giống của thiên tài tuyệt thế về kiếm đạo. Chỉ mới ba năm trước mà đã tu luyện được kiếm thuật đến mức này thì không biết từ ngữ nào cho miêu tả cho nổi.

Đã thế, với kinh thư tuy chưa phải là thông minh nhưng cũng có thể hươu vượn đạo lý giống mình thì cái lão già đó coi như đã là đầu óc nhanh nhạy sắc bén, cãi thầy như chém chả khiến lão ta mừng phát khóc lên được. Như kiểu sống lâu quá, không có ai cãi lý với mình, bỗng dưng gặp được người có thể cãi nhau với mình hàng đêm, tuy là thân phận thầy trò nhưng cũng không khác gì là tri âm, đồng đạo.

Chính thế làm Nhị Thương phải quét nước mắt ròng ròng, khóc lóc than với Lục Thánh Nữ đang đứng bên cạnh mình: "Không ngờ chỉ cần vứt kiếm xuống biển không thôi lại gặp được nhân tài cỡ này. Đúng là phải chịu bỏ vốn đầu tư!"

Lục Thánh Nữ bật cười, giọng có phần ngọt dịu không hề tiết chế: "Lão già nhà ông thôi cái trò cường điệu hoá như vậy không? Chỉ là một thằng nhóc chưa trải sự đời thạo kiếm thôi mà?"

Lục Thánh Nữ lúc này không còn đeo mặt nạ, không phải bà phá bỏ quy định, mà là có quy định hay không, thì người biết chân diện của bà, ngay từ đầu Nhị Thương đã biết được rồi, đeo làm gì cho nặng mặt. Kể ra bà trông cũng đẹp lão, hồi xưa chắc là người đẹp nhất làng.

Nhị Thương nghe vậy cũng thôi không diễn nữa, nghiêm túc đáp: "Tôi đã truyền hết y bát cho nó rồi. Không còn gì để dạy nữa, ngoài một bụng đầy đạo lý chưa kịp truyền thừa xong xuôi!"

Lục Thánh Nữ vừa nãy còn cười bây giờ lại trùng giọng: "Hi vọng ông không chân truyền sai người nữa!"

Nhị Thương nói: "Thì đấy là nhân quả của Tam Đồ Giáo vậy! Tôi không còn Chấp Pháp được nữa rồi! Không thể quản nhiều như xưa được! Giờ tôi chỉ cố gắng hoàn thành nốt nhiệm vụ được giao trong khả năng có thể! Phòng khi..."

Lục Thánh Nữ nhìn thẳng mắt Nhị Thương ngập ngừng hỏi: "Phòng khi làm sao...?"

Nhị Thương im lặng một lát, Lục Thánh Nữ biết lão lại diễn để tạo sức nặng không khí, nhưng bà cũng mong chờ không biết tay này sẽ phát biểu ra những câu khi thế gì nữa, nhưng bà chờ mãi, chờ mãi mà lão già này vẫn chưa chịu mở miệng.

Nguyên nhân rất đơn giản, bởi Nhị Thương đang nhớ lại khoảng năm năm trước, khi ấy vừa kết thúc cuộc họp của Tam Đồ Giáo, khi mà Ngũ Vũ hậu luận quẻ xong xuôi, Lục Thánh Nữ chỉ đạo Nhị Thương đi về phía biển Đông, vứt kiếm quý của lão xuống biển.

Lục Thánh Nữ với mọi người: "Mọi người biết kiếm trong tay Nhị Thương có lai lịch thế nào không?"

Đương nhiên cả bọn không biết.

Lục Thánh Nữ lại nói ra một bí mật hết sức chấn động: "Thanh kiếm Thuận Thiên của Đạo Chính Hoàng Đế, Lý Công Uẩn!"

Nhất Cung, Tứ Chuỷ, Ngũ Vũ và chính Nhị Thương sững người.

Lục Thánh Nữ lại tiếp: "Đây là thanh kiếm đặt bên trong mật lăng!"

Nhất Cung, Tứ Chuỷ, Ngũ Vũ lại như được giải huyệt đạo, không còn bất động nữa. Hôm nay bọn họ đã biết được quá nhiều chuyện kinh thiên rồi, nếu nghe thêm nữa chắc là đầu óc vỡ nát mất, thế nên cứ thế mà nghe thôi, không cần bày tỏ thái độ gì cả.

Lục Thánh Nữ nói: "Tức là thanh kiếm này đến hiện tại có tuổi đời ba trăm năm, chất thép được làm từ huyền thiết, luyện chế đặc biệt theo lời của Liên Tử đạo nhân, nên không hao mòn han gỉ, có bùa trú trảm yêu trừ ma, tự thân kiếm xuất khí, không cần người dẫn động. Nó trấn ngay tiền sảnh của mật lăng. Các đời Hộ Giáo Thánh Nữ cũng chỉ tiếp cận được đến đó là hết. Không hơn!"

Tứ Chuỷ huých tay Nhị Thương: "Sao lão có được thanh kiếm đó vậy? Hay hai người là..."

Lục Thánh Nhữ quác mắt nhìn Tứ Chuỷ làm hắn sợ tròng mắt suýt bay ra ngoài, không dám nói thêm câu gì nữa, bà đính chính với nguyên nhân rất đơn giản: "Nó được truyền cho Chấp Pháp."

Nhất Cung lại hỏi: "Không biết Thánh Nữ muốn làm gì với thanh kiếm này? Không dưng lại nói chúng ta biết bí mật động trời này?"

Lục Thánh Nữ gật đầu: "Nhà Trần coi như bỏ. Người ở Thanh Hoá quá đông, mà hiện tại vùng ấy chưa có động tĩnh gì đặc biệt. Cứ y như lời quẻ của Ngũ Vũ, vậy ta cứ gieo nhân, xem ai nhận được quả. Nếu có kẻ nhặt được kiếm này, xuất thân Thanh Hoá, hẳn là người có thể làm nghiệp lớn, chúng ta có thể trợ lực hắn cùng dẹp giặc."

Nhất Cung hỏi: "Nếu để lâu quá mà không có ai lấy, chúng ta có thu hồi thanh kiếm không?"

Lục Thánh Nữ lắc đầu: "Chúng ta đã gieo nhân, thì không thể hồi nhân. Người đã nhận quả, lại càng không thể đòi lại quả."

Tứ Chuỷ bỗng phát giác ra vấn đề: "Thật hồ đồ, không biết cha phong thuỷ nào lại cố vấn cho Hộ Giáo Thánh Nữ đời trước lấy kiếm mang đi dùng?"

Lục Thánh Nữ biến sắc hỏi: "Có vấn đề gì sao? Ta thấy mật lăng đâu có sụp?"

Tứ Chuỷ lắc đầu nghiêm túc nói: "Bất cứ bố cục gì, vật đặt ở đâu, đều là những thứ tạo ra trường khí phong thuỷ hiện tại lúc nó được dựng. Nếu một ngày vật trong bố cục ấy mất đi, thì đương nhiên trường khí đó sẽ biến đổi dù ít hay nhiều. Có thể không gây ra thiên tượng dị hoả, thuỷ triều, địa động,... nhưng nó có thể làm thay đổi những thứ nhẽ ra phải xảy đến. Nhưng bây giờ thì chuyện đáng nhẽ đó lại bị thay thế cho chuyện vốn dĩ không nên tồn tại!"

Nhất Cung lại niệm đúng: "Nhân quả thật không nên can dự?"

Lục Thánh Nữ cúi đầu trầm mặc, rồi ngước hỏi Tứ Chuỷ: "Có cách nào hoàn nguyên như xưa không?"

Tứ Chuỷ lắc đầu dứt khoát: "Khí trời của mười năm trước khác khí trời của mười năm sau. Hoàn nguyên phỏng có ích gì? Chưa kể, nếu giờ hoàn nguyên, lại thay đổi cục trường đi theo hướng khác, lại khiến trường khí bị bẻ cong thêm một lần nữa thì chẳng nên dại thử."

Nhất Cung lại niệm A Di Đà Phật: "Bảo sao Đại Việt lại dẫn đến cơ sự ngày hôm nay!"

Ngũ Vũ an ủi: "Nhất Cung đừng vội kết luận thế, đấy là Tứ Chuỷ vẽ bệnh như thế cũng chưa chắc là thật đâu. Chắc là doạ chúng ta để hắn có cơ hội vào được mật lăng đây."

Lục Thánh Nữ quyết định: "Vậy cứ theo kế hoạch mà thi hành? Chư vị không ai phản đối chú?"

Cả bốn người gật đầu, không ai phản đối, cuộc họp kết thúc, mọi người ra về.

Tứ Chuỷ khởi hành trước để chọn bãi biển nào đẹp để vứt kiếm. Ngũ Vũ lộp cộp gậy tre, cầm bát mẻ, tiếp tục ăn xin, nghe ngóng chuyện thiên hạ.

Nhất Cung nán lại hỏi Lục Thánh Nữ về việc người thay thế vị trí Tam Giốc. Lục Thánh Nữ nói, cũng may người trước ngồi vị Tam Giốc cũng đã chuẩn bị sẵn danh sách kế tục, đại khái bà đang quan sát thêm. Sau đó hai người cáo biệt nhau, Nhất Cung ra bên ngoài.

Trong động họp chỉ còn Lục Thánh Nữ và Nhị Thương.

Lục Thánh Nữ bây giờ mới hỏi: "Trong cuộc họp hôm nay, ông đã nhiều lần vượt qua ranh giới của Hộ Giáo Thánh Nữ rồi ông biết không?"

Nhị Thương gật đầu xác nhận: "Biết. Thứ nhất, tôi tiết lộ mật vụ của bà. Hai là tôi còn tự mình nói đã  vào mật phòng của bà. Ba, có lẽ bà đánh giá tôi đang vì chuyện cá nhân mà lợi dụng cả giáo hội?"

Lục Thánh Nữ nắm chặt tay trong ông tay áo, nghiến răng hỏi: "Biết mà vẫn làm? Lão muốn chết chăng?"

Nhị Thương cười đáp, gương mặt có chút bông đùa: "Hiện tại vị trí Nhị Thương của tôi bà chưa tìm ra ai là người kế nhiệm tốt để thế vào, việc giữ tôi lại có lợi với Tam Đồ Giáo hơn việc trừng phạt tôi. Nên bà chọn cái có lợi nhất!"

Lục Thánh Nữ giận dỗi hỏi: "Chứ không phải biết ta không thể nào nỡ xuống tay với ông được hay sao?"

Nhị Thương lại hỏi: "Bà đã công khai tiết lộ danh tính của tôi như vậy, coi như chúng ta hoà nhau, đừng có giận dỗi trẻ con nữa, người lớn cả rồi, bà vừa rồi như vậy thật mất hết hình tượng."

Lục Thánh Nữ mím môi không biết nói năng gì hơn, nghĩ lại vừa rồi thấy chính mình hổ thẹn, vì để cảm xúc ảnh hưởng quá nhiều.

Bình luận đoạn văn

Bình luận

Trả lời bình luận

Chỉnh sửa bình luận

Thiết lập văn bản

Xem trước

Nội dung sẽ hiển thị như thế này

Chọn font chữ

Cỡ chữ

12px 30px