Đọc to (tiếng Việt) Nhấn phát để bắt đầu
Nàng tại núi Lĩnh Nam

Quyển I Chương 5. Án

Mậu Dần, Xương Phù năm thứ mười một.

Lê Quý Ly ép vua Phế Đế nhường ngôi cho hoàng thái tử là Trần Án. Trần Án lên ngôi, hiệu gọi là Thiếu Đế, đổi niên hiệu thành Kiến Tân.

Thiếu Đế lúc này mới ba tuổi, vua bị ép xuất gia Đạo giáo, ra chiếu dời đô về phủ Thanh Hoá. Phủ Thanh Hoá vốn quê của Lê Quý Ly. Quý Ly đã tỏ rõ ý cướp ngôi vậy.

Kỷ Mão, Kiến Tân năm thứ hai.

Phía Bắc cố kinh có làng chuyên trồng đào. Dịp Tết, sắc đào khoe thắm cả một vùng. Nên nơi này được dân làng gọi là Nhật Chiêu.

Làng Nhật Chiêu mọi năm Tết đến xuân về người đến xem mua, người buôn kẻ bán tập nập. Nhưng những năm gần đây thì vãn hẳn, không khí đìu hiu, quán vắng. Tuy chưa đến mức điêu linh song bảo không sa sút thì không đúng. Chưa kể, năm ngoái đơi đô, vua quan đều đi hết cả, thật là một đòn chí mạng mà!

Bởi thế, việc có một phú hộ gặp hoạ diệt môn vào tháng Mười Hai năm ngoái, mới đầu ai cũng sốc, đồn đãi ghê lắm, nhưng sau cùng qua Tết, chuyện này cũng chìm vào dĩ vãng cả, đến ngay cả quan địa phương vì không tìm được manh mối gì nên nhanh chóng khép lại vụ án cho nó nhẹ đầu.

Kết quả, không ai biết hung thủ là ai và vì sao cả gia đình phú hộ này bị lửa thiêu chết sạch trừ một đứa bé sơ sinh đang còn mất tích.

Những khách lai vãng đi ngang qua làng này nếu biết chuyện, ai nấy đều thắc mắc chuyện lớn như vậy dễ dàng bỏ qua vậy sao?

Thì dân y rằng chua chát nói, nơi này không còn là nơi rồng ở, đất là nơi hổ ngồi nữa, người ta đang bận quan tâm Lê Quý Ly sẽ làm gì tiếp theo kìa. Và ngay kể cả Lê Quý Ly hay tin cái tin này không để ý nhiều vì hắn ta đang bận chuẩn bị đại sự sắp tới.

Nhưng ít ra vẫn có một người quan tâm, đó là một ông thầy phong thuỷ. Cái ông thầy này làm phong thuỷ, vân du tứ hải, nên đen lắm mới đi ngang qua cái làng này.

Nguyên do vì sao?

Đó là bởi ông ta đang đứng trước căn nhà cháy rụi đen xì của phú hộ kia.

Theo ông, cuộc đất của nhà này rất đẹp, song phần dương trạch lại bị lửa thiêu, nên đã phá hỏng địa cục, dù thế đất ban đầu rất tốt. Vậy nên, thử hỏi một người am hiểu phong thuỷ như ông ta làm sao mà không cảm thấy khó chịu và đen đủi cho được?

Ông ta kết luận với dân làng rằng: "Giá mà tôi đến đây sớm hơn thì cái nhà này chưa chắc đã chết thảm như vậy!"

Mấy gã ngồi cùng quán nước gốc đa nghe ông ta ba hoa chích choè một hồi, chỉ đành ậm ừ cho có lệ.

Vì bọn họ nghe nói tới phong thuỷ thì nhiều rồi, nhưng cụ thể ra sao ai biết? Vậy nên ông ta nói hươu nói vượn cái gì chẳng được? Không ậm ừ chẳng lẽ lại gật đầu hoặc phản đối?

"Các ngươi không biết chuyện này nghiêm trọng đến mức nào!", thấy phản ứng của mấy người như thế, tay phong thuỷ này bực mình gắng giải thích, "phong thuỷ không phải phúc hoạ, mà là khuếch trướng hay suy tán cái khí. Nếu đất tốt, khí tốt thì tốt nhiều lần, nếu khí xấu, xấu vạn năm. Ngược lại, nếu đất xấu, thì tốt xấu mấy cũng thành không. Hiểu chăng? Ta nói cho mà biết, người chết cháy oán khi rất nặng, đã thế lại còn mấy mạng người, nếu chỗ này không được cải tạo ngay, ám lên cả làng này không biết chừng!"

Bà chủ quán nước nghe thế ngừng tay phe phẩy chiếc quạt nan, mấy gã dân khách vừa nãy còn hời hợt liền ra chiều nghiêm túc.

Nhưng một lão già hơn sáu mươi tuổi, râu dài tóc bạc, bình tĩnh hớp một ngụm chè đoạn, ôn tồn quay qua nói với mọi người ngồi ở quán: "Các ngươi chớ tin lão già này, cái gì mà khí xấu với chẳng khí tốt, chắc là phường lừa đảo muốn kiếm tiền làm lễ vớ lễ vẩn thôi. Ha! Ha!"

Gã thầy phong thuỷ nghe vậy tức lắm đập bàn đứng dậy nói lớn, chỉ tay thẳng mặt: "Lão già kia không tin chứ gì? Thấy gã ăn mày đằng kia không? Chỉ cần ta chỉ cho hắn chỗ ngồi tốt thì lên voi ngay tức khắc!"

Thế cả cả đám dân làng xung quanh nhìn về cái gã ăn mày khoảng chừng ba mươi tuổi, bịt mặt, gậy trúc đặt ngang lòng, đang lạy ông đi qua lạy bà đi lại xin tiền bố thí, tuy nhiên, cả sáng đến giờ chiếc bát mẻ của hắn chỉ có mỗi một đồng xu nát.

Một người dân hiểu biết nói: "Ta biết gã ăn mày này, đi từ làng này sang làng khác ăn xin, ngồi đây được hơn tuần trăng rồi!"

Thế là tay thầy phong thuỷ hậm hực đi ra giữa đường, thò tay vào chiếc túi vá đang đeo lấy ra một cái la kinh rồi nhìn ngang ngó dọc trông rất chuyên nghiệp.

Được một lúc, chỉ thấy tay này tới chỗ kẻ ăn mày chỉ trỏ cái gì đó, gã ăn mày không chịu, nói oang oang rằng: "Mấy hôm trước ta ngủ mộng gặp thần miếu ở đây hiển linh, nói rằng đây là nơi khởi nghiệp của ta, ắt ăn xin thành công rực rỡ, lão già kia chớ có dùng lời lẽ yêu hoặc mị dân!"

Tay phong thuỷ này tức anh ách, quăng luôn năm đồng xu vào bát của hắn, ai ngờ được có năm đồng mà gã ăn mày đổi thái độ, vừa nãy cái gì mà thần miếu bảo kiên trì ngồi đây khởi nghiệp, liền dứt khoát chuyển chỗ ngồi ra đằng đông cái miêu hoang lạy lục người qua đường tiếp.

Bây giờ thầy phòng thuỷ mới yên chí về quán nước, mặt vênh vang tực đắc nói các ngươi cứ chờ xem.

Nhưng đã qua nửa canh giờ một chút mà chẳng thấy gã ăn mày kia đổi vận chút nào, có kẻ không chờ được lên tiếng mắng lừa đảo ngay, song thầy phong thuỷ này vẫn vuốt râu, mắt hếch lên trời, chừng như rất tự tin.

Bỗng nhiên chẳng biết từ đâu tới, có cỗ xe ngựa đi tới chỗ gã ăn mày.

Cỗ xe dừng cái, từ trong bước ra một gã mặt béo bụng phệ, quần áo lụa là, mặt mũi lem nhem nước mắt, cứ thế lao vào ôm gã ăn mày mà khóc nức nở, luôn miệng gọi con ơi con ơi làm gã ăn mày hoảng hồn đờ người chẳng hiểu gì xảy ra. Một lát sau, cái gã béo kia có vẻ kìm được xúc động, liền dắt gã ăn mày qua quán nước ngồi nghỉ ngơi rồi sụt sùi kể lại mọi chuyện cho mọi người hay.

Nguyên lai gã ăn mày này con trai thất lạc của gã béo này khoảng mấy năm trước. Đoạn nói đến đây gã béo oà lên khóc, vừa khóc vừa kể con trai gã thật có hiếu, ba năm trước mình bệnh nặng sắp chết, tìm khắp cả thành không có dược liệu mình cần, vậy là đứa con trai cả này của ông đi khắp nơi để tìm, chẳng may trên đường đi hái thuốc trượt chân ngã xuống vực sâu không đáy.

Khi được nghe kể lại, gã sốc lắm, bệnh tình chuyển nặng, thập tử nhất sinh, trong cơn hấp hối, bụt hiển linh báo mộng con trai mình chưa chết, an ủi rằng con người ngã xuống vách núi, có khi lại gặp được cơ duyên, vô tình lạc vào hang động hay bí cảnh rồi nhặt được kỳ ngộ gì đó cũng nên.

Từ hôm đó trở đi, gã bẽo cũng an lòng hẳn, gắng gượng sống tới giờ, tìm kiếm đứa con này suốt mấy năm qua. Gã nói mình là một thương nhân buôn lụa, tuy vậy gã chẳng ham thích gì, nhưng công việc này phải vận tải khắp nơi, nên vừa tranh thủ tìm con cái luôn. Vừa rồi đang chơi hội tháng Giêng, hay tin có người thấy giống con trai đang ăn xin ở làng Nhật Chiêu này liền vội đến tìm, nên mới có sự việc vừa nãy.

Kể xong, gã béo này dường như tâm trạng rất tốt, dù chẳng liên quan gì nhưng hễ những ai có mặt tại quán nước này đều được gia nhân của hắn phát cho hồng bao, tuy giá trị không lớn nhưng đều là lộc trời cho cả, ai cũng hoan hỉ.

Hoan hỉ đến mức cái lão râu dài vừa rồi còn nghĩ thầy phong thuỷ bốc phét, vừa cầm được hồng bao trên tay thì cười toe toét hết sức xin lỗi thầy phong thuỷ này, cứ hở ra một câu là kèm theo hai từ tiên sinh tới đó. Đám khách ngồi quán nước thấy thế thì phục lắm, lại hết sức khẩn khoản mong thầy phong thuỷ này tương cứu làng Nhật Chiêu khỏi bị oán khí ám vào.

Gã béo nghe sự tình, cũng nói phong thuỷ không phải chuyện đùa, nếu không làm khéo là đại hoạ, còn kể họ hàng xa nhà lão vừa cải mộ cho ông bà, nhất quyết không nghe lời thầy phong thuỷ vùng đó, mà dời mộ sang chỗ khác, thế là cả nhà bên đó người bị tội vạ, người thì bị thánh vật, thảm lắm.

Thầy phong thuỷ liền gật đầu đồng tình, vuốt râu nói, giọng thâm trầm, nhấn nhá: "Lão phu hôm nay ở đây, cũng xem như là nhân duyên với ngôi làng này. Sẽ không lấy tiền công chọn đất làm lễ, còn nhân công phía làng tự chi trả. Các người cứ ra đình làng mà họp hành đàng hoàng, thống nhất phương án tu tạo. Lão sẽ chờ ở đây ba ngày, nếu thuận thì làm, nếu không thuận, thì cũng không cưỡng cầu."

Gã béo nghe thầy phong thuỷ nói thế thì nể lắm, lại hào phóng nói thêm: "Nhờ ơn thổ địa làng này cho tôi gặp lại con trai, tôi sẵn sàng chi tiền lập đình thờ thổ địa, thánh làng nơi đây, ngay trên phần đất cũ của phú hộ không may."

Thầy phong thuỷ gật gù: "Ông bạn này có chủ ý không tệ. Ngẫm lại thật chí lí. Làm vậy còn có khả năng trấn yểm oán khí nữa."

Nghe vậy bà con tại quán nước mừng lắm, cảm tạ ơn đức rối rít, chia nhau xẻ bảy mà loan tin.

Quán nước trở nên vắng tanh, chỉ còn lại bà bán nước, thầy phong thuỷ, gã râu dài, còn gã béo với gã ăn xin lên xe ngựa rồi đi khuất. Không khí quán nước trở nên tĩnh lặng như tờ. Chỉ còn tiếng ruồi vo với tiếng chóp chép nhai trầu đều đều của bà bán nước.

Thầy phong thuỷ vẫn ngồi đó đăm chiêu về khoảng không phía trước, ngón tay gõ từng nhịp. Còn lão râu dài kia nhàn nhã hớp thêm một ngụm chè nữa, rồi đứng dậy trả tiền, chắp tay sau lưng mà đi, bỏ lại quán nước phía xa. Lúc lão đi ngang qua tàn tích nhà phú hộ, liền dừng chân đứng lại, quay mặt bên nhìn vào trong.

Trong ký ức của lão già này, cách đây chưa đầy một tháng, chính lão khi đó mặc một bộ dạ hành, cùng năm kẻ áo đen phía sau, ngay tại cổng nhà này, rất nhẹ nhàng dùng kiếm cứa cổ hai tên gác cổng, sau đó lão già dùng ngón tay ra hiệu cho kẻ khác nhảy vào trong, mở then cài cổng, rồi cả đám đẩy cổng mà nghênh ngang đi vào, tất nhiên cũng không quên cẩn thận kéo xác hai tên gác cổng xấu số vào cùng.

Nhị Thương cùng năm thuộc hạ của mình đứng giữa sân nhà, trăng treo trên cao tỏ sáng cả vùng trời, ánh sáng nhàn nhạt phủ lên tam hợp viện của phú hộ, trông nó thật xám xịt và lạnh lẽo, báo hiệu cho một phiên bản địa ngục trên dương gian sắp xuất hiện tới đây.

Tiếng cú vang lên, vỗ cánh bay ngang trời, mây đen che trăng, gió thổi, cây cối trong sân đung đưa xào xạc, tiếng tró tru đằng xa cùng tiếng gõ chuông điểm canh của những kẻ đốt đuốc đi tuần trong ngõ vắng.

"Có bàn chân lặng lẽ, giữa dòng đời như nước cuốn, chập chờn trắng đen không nghe tiếng gọi... ai khóc, ai cười khi qua đây, cuộc đời như giấc mộng trả vay...", Nhị Thương thầm nghĩ rồi thở dài. Tiếp tục ra hiệu chia mỗi kẻ một hướng, mỗi kẻ một gian nhà, rồi đưa tay cứa ngang cổ, rồi đấm thật mạnh xuống.

Năm kiếm khách đều hiểu ý lão, không chỉ giết đơn thuần, mà còn phải tuyệt diệt, không nương tay, gặp ai là xoá xổ người đó, cắt đứt mọi nhân quả của họ trên thế gian.

Còn Nhị Thương từ từ đi tới hậu viện, tìm tới gian nhà ngủ của phú hộ này.

Nhị Thương khẽ khàng đẩy cửa bước vào, tự nhiên như ở nhà, thấy phú hộ đang nằm cạnh vợ, không nói không rằng, bước chân rất nhẹ, động tác khoan thai, gần như không một tiếng động.

Phựt!

Vợ cả của phú hộ bị Nhị Thương đâm thẳng xuống bụng, máu bắn vọt lên không trung, điều cuối cùng mà bà vợ này có thể làm là trợn mắt. Còn phú hộ bị máu của vợ mình văng đầy mặt, lạnh mát, hoảng hồn bừng tỉnh, rồi cứng đờ người khi thấy một kẻ áo đen đang đứng lù lù trước mặt, đang cầm kiếm đâm xuống bụng vợ mình.

Phú hộ ngồi bật dậy, tựa lưng vào thành giường, trợn mắt, há hốc miệng, mặt xám như tro nhìn Nhị Thương như quỷ sai địa ngục đến đòi mạng.

Căn phòng tĩnh lặng như tờ chỉ có ánh nên chao đảo hắt bóng hai người lên cửa sổ.

Nhị Thương lên tiếng hỏi: "Dây chuyền để đâu?"

Phú hộ gương mặt đang kinh hãi tột độ, nghe Nhị Thương hỏi bỗng chốc buông xuôi phi thường, vô cùng bình thản nói: "Cụ tổ nhà ta luôn dặn con cháu nên đi tu chứ đừng cưới vợ sinh con, đừng vì cái tội của cụ mà liên luỵ đến người khác. Lúc đó ta nghe cho rằng cụ già lẩm cẩm, sợ các ngươi đến hoá điên, ta không cho là phải, một giáo hội mang tiếng xuất thân cửa Phật mà có thể làm ra chuyện như thế sao? Giờ thì ta tin rồi! Có làm ma ta cũng nguyền rủa các ngươi!"

"Nếu đã chọn Tam Đồ, thì chúng ta đã biết hậu quả luân thường, người không cần rủa", Nhị Thương không chút biểu tình đáp rồi nói thêm, "ngươi nên trách ông cụ nhà ngươi mới đúng. Vì đây không chỉ là kết cục của phản đồ. Mà là kết cục của những người biết những chuyện không nên biết. Ngươi chỉ là chẳng may bị cuốn phải thôi. Tại số ngươi đen đủi vậy. Để bọn ta lần ra. Quan trọng, dây chuyền ở đâu?"

Phú hộ cười gằn: "Ngươi hỏi nhiều để làm gì? Đằng nào ta cũng phải chết, chi bằng người giết ta rồi tự mình đi tìm có đỡ hao phí thời gian không? Tại sao ta lại phải giúp kẻ đã giết mình?"

Nhị Thương lạnh nói: "Ngươi không nói, người đoạn tuyệt với nhân quả càng nhiều, ta với ngươi cũng đều sẽ bị họ rủa như nhau!"

Phú hộ đảo mắt đăn đo một hồi ướm hỏi: "Ngươi có thể tha cho đứa trẻ không? Nó mới chỉ mới sinh. Nếu người chấp thuận, ta sẽ nói chính xác vị trí!"

Nhị Thương thoáng chút do dự nhưng đoạn: "Nếu người chủ động từ sớm thì vẫn còn kịp. Nhưng giờ này có lẽ thuộc hạ của ta đã thanh lý xong rồi!"

Nói xong Nhị Thương rút kiếm rất nhanh rồi phớt ngang cổ phú hộ. Phú hộ cay độc nhìn Nhị Thương lần cuối rồi đưa tay bịt cổ mình giữ cho máu không bắn ra, rồi nghẹo cổ sang bên, chết không nhắm mắt.

Nhị Thương tra kiếm vào bao, nhanh tay vuốt mắt cho phú hộ và bà vợ, sau đó đóng cửa, trở ra sân rất nhanh chóng. Lão đứng giữa sân, chắp tay sau lưng, ngửa cổ nhìn ánh trăng vẫn lấp ló sau rặng đêm, đợi thuộc hạ về báo cáo.

Lần lượt từng người một xuất hiện trở lại trước sân báo cáo hoàn thành nhiệm vụ.

Kẻ đầu tiên báo đã loại bỏ được năm người, kẻ tiếp theo là hai người, kẻ nữa thì tám người, kẻ thứ tư báo cáo loại bỏ được một người. Tổng cộng tới giờ, thêm cả vợ chồng phú hộ và hai kẻ gác cổng nữa là hai mươi người đã đoạn tuyệt với nhân quả.

Nhị Thương lại đưa bàn tay qua mặt, ý hỏi bọn họ đã vuốt mắt cho người chết chưa, cả bốn gật đầu. Nhưng vẫn còn người thứ năm chưa quay về. Thế là bọn họ phải đứng giữa sân chờ.

Và gần một canh giờ trôi qua, bóng trăng hoàn toàn biến mất, chỉ để lại màn đêm phủ lên căn nhà, bao trùm cả Nhị Thương và bốn thuộc hạ, nhưng kẻ thứ năm vẫn mãi chưa xuất hiện. Song điều kỳ lạ, ngay cả những kẻ thuộc hạ không hề sốt ruột huống chi là Nhị Thương.

Thuộc hạ này của Nhị Thương cót chút đặc biệt, bởi hắn không chỉ là quan võ đương triều, mà đây là người Nhị Thương tính truyền lại chức vị trong Tam Đồ khi chết, nên trình độ kiếm pháp chỉ có thể bằng hoặc hơn lão thôi, chắc chắn không thể gặp bất trắc hay sai sót gì được... Vậy nên chỉ còn một nguyên do khả dĩ mà mãi hắn ta chưa quay lại...

Nghĩ tới đây, Nhị Thương liền giật mình trong lòng thầm thốt: "Đứa trẻ!"

Nhị Thương nhanh chóng ra hiệu cho thuộc hạ thiêu sạch toàn bộ căn nhà. Bốn kẻ còn lại vâng mệnh đi kiếm dầu và lửa để đốt. Còn bản thân lão đạp tường nhảy lên mái nhà, phi thân qua từng lớp mái, hướng về phía bắc mà truy tung.

Tại sao Nhị Thương biết kẻ này đi về hướng bắc?

Nguyên nhân rất đơn giản, để định vị được nhau, bọn có hương liệu đặc biệt tẩm lên quần áo, ngấm vào da thịt, ai được huấn luyện qua đều nhận diện được cả. Chỉ điều hương thơm có hạn, chỉ tồn tại trong vòng ba canh giờ được thôi, nên lão phải gấp.

Không biết đi bao xa, qua bao lâu, Nhị Thương đã đến một rừng tre, thuộc hạ thứ năm đang chênh vênh giữa một bên là cấp trên của mình đang từ từ tiến tới, một bên là vách núi dựng đứng. Cuộc đuổi bắt này diễn ra theo kiểu mèo vờn chuột, vì ai cũng ngửi được hương liệu của nhau, rất dễ dụ nhau vào mê lộ khiến đối phương nhầm lẫn.

Điều quan trọng, Nhị Thương hơn hẳn kẻ này ở hai chỗ.

Thứ nhất, Nhị Thương đúng là già hơn, gân cốt đã kém linh hoạt, đi cũng đã chậm, nhưng vấn đề là kẻ thứ năm đang ôm một đứa trẻ, không thể đủ sức lực phóng vèo vèo như khi chỉ cầm một thanh kiếm. Thứ hai, Nhị Thương ăn đứt hắn về khoản kinh nghiệm và sự bình tĩnh.

Nhị Thương bước những bước chậm rãi tiến tới chỗ thuộc hạ thứ năm của mình, khoảng cách được vài trượng thì dừng lại, nhàn nhạt một câu tiếc nuối: "Tuổi trẻ nông nổi, chưa trải sự đời, ta hiểu. Xưa kia ta cũng vậy. Chỉ tiếc chúng ta không thể nhảy từ trẻ sang già giống như nhảy từ bậc đá này sang bậc đá nọ. Tất phải có quá trình, biến cố của nó. Chỉ điều, biến cố này ngươi không làm được và cũng không qua được."

Thuộc hạ thứ năm không tự chủ được mà rùng mình, trong lòng lạnh ngắt, còn đứa trẻ đang ngủ ngon lành nên không nghe thấy gì, trên cổ vẫn đeo chiếc dây chuyền hình lửa.

Điều đáng sợ nhất của Nhị Thương không phải nội dung lời nói, mà là khi lão cất lời nói.

Kẻ thuộc hạ này chắc chắn không biết thượng tầng của Tam Đồ Giáo là như thế nào, hắn có một điều hắn chắc chắn, mình chỉ là một kiếm khách thuộc cấp của Nhị Thương đào tạo và sai việc. Và bọn họ hoàn toàn giao tiếp bằng cử chỉ, hiệu lệnh, không một tiếng nói dù họ không câm.

Bởi dung nhan có thể huỷ, danh tính có thể làm giả, nhưng giọng nói gần như định vị chính xác một con người.

Đối với Tam Đồ Giáo, lộ danh tính cho là tối kỵ, trừ nhóm thượng tầng.

Nói đơn giản, ngay cả cộng sự làm với nhau bao năm, cũng không hề biết nhau nếu khi lại hoà mình về thiên hạ rộng lớn kia. Thậm chí ngay cả khi đang nói chuyện với nhau, cả hai còn chẳng biết người kia có phải là tín đồ của Tam Đồ Giáo hay không.

Vì vậy, đã tham gia vào Tam Đồ Giáo, muốn sống điều trước tiên không phải lập công lao, mà là không để danh tính mình bị lộ, nếu không hậu quả có lẽ cũng tương tự như phú họ kia dù bản thân vẫn luôn trung thành với giáo vụ. Do đó, người trong Tam Đồ Giáo không muốn lộ mình, chỉ có không nói hoặc câm thật. Thực tế xưa nay, Tam Đồ Giáo không cấm thành viên ly khai khỏi giáo hội, rất nhiều thành viên đã từng gia nhập và rời đi. Chỉ điều có nhiều kẻ sợ mình không đủ giữ miệng khi rời khỏi Tam Đồ Giáo đều tự cắt lưỡi hoặc tự phế mấy ngón tay cầm bút. Bởi lúc đi, Hộ Giáo Thánh Nữ luôn miệng nhắc nhở, đến cũng là nhân quả, đi cũng là nhân quả, nói ra cũng là nhân quả, bọn ta cũng không cản được, nhưng chấm dứt nhân quả thì bọn họ làm được.

Như vậy, một khi Nhị Thương đã lộ giọng với thân phận Nhị Thương, trưởng lão Tam Đồ Giáo, là chắc chắn Nhị Thương muốn người nghe phải chết.

Nhị Thương có chút không đành hỏi: "Ta chỉ muốn biết tại sao?"

Thuộc hạ thứ năm nhìn vào đứa trẻ, lặng đi một hồi, sau đó ngẩng mặt nhìn thẳng vào ánh mắt lạnh lẽo của Nhị Thương hỏi: "Ngài có vợ con không?"

Nhị Thương nghe vậy gật gù tỏ ý đã hiểu, lão ta nhắm mắt, chắp tay suy ngẫm, mở mắt thở dài: "Ta hiểu, nhưng ta không cảm được!"

Thuộc hạ này hít một hơi thật sâu: "Dây chuyền ở đây rồi, xin ngài hãy tha cho đứa trẻ được không? Nó mới sinh thì nhân quả cái nỗi gì?"

Nhị Thương dứt khoát lắc đầu rất nhanh: "Vừa rồi tên phú hộ cũng đề nghị như vậy, ta còn do dự. Nhưng bây giờ thì không. Là ngươi hại chết đứa trẻ!"

Kiếm khách lại hít một hơi sâu nữa, hắn hiểu, Nhị Thương sợ đứa trẻ lớn lên hắn sẽ nói cho nó biết rồi nó sẽ đi tìm Tam Đồ Giáo để báo thù, kiểu nhân quả này Tam Đồ Giáo cũng không muốn dây dưa.

Biết đã không có đường lui, nhiều lời vô ích, kiếm khách phi thân phóng tới, đồng thời rút kiếm chém bổ xuống. Nhị Thương không chủ quan, cũng rút kiếm chém đỡ. Hai bên sáp nhau giao thủ, kiếm quang tung hoành, lá tre vừa bay vừa đứt ra làm trăm mảnh, thân tre chi chít vết chém, cả hai người đều ra những chiêu kiếm muốn lấy mạng đối phương.

Hai người đều dùng kiếm pháp giống nhau. Luận về võ kỹ bất phân thắng bại.

Luận về tình trạng bình thường, Nhị Thương chắc chắn sẽ bại dù có kinh nghiệm cao hơn.

Nguyên nhân rất đơn giản, đó là ông già, còn vị kiếm khách kia chưa đầy bốn mươi. Mà tối đỉnh của võ học không phải vô chiêu, không phải một kiếm pháp có thể phá bất cứ loại võ học nào. Mà là duy khoái bất phá.

Nhị Thương hiện tại không thể chống lại được khoái.

Song luận hiện tại, Nhị Thương đang chiếm thế thượng phong vì cũng là bộ kiếm pháp đấy, nhưng kiếm khách gần như không thể triển khai tối đa hiệu quả mà kiếm pháp đó làm.

Nguyên nhân cũng rất đơn giản, kiếm khách đang ôm đứa trẻ, tư thế khác, hình thế khác, lực thế khác, thời gian khác và rất nhiều thứ khác.

Đột nhiên kiếm khách này ném đứa trẻ này về phía Nhị Thương, Nhị Thương bất giác đưa tay ra đón, nhưng đồng thời ánh mắt loé lên có sự không ổn, tuy tay đã kịp thời thay đổi kiếm chiêu nhưng kiếm khách lại nhanh hơn, hạ thấp trọng tâm, quét trụ, tụ lực rồi xoay người chém kiếm cao lên về phía Nhị Thương.

Xoẹt một tiếng, máu văng bắn đầy vào thân tre rồi chảy xuống.

Bình luận đoạn văn

Bình luận

Trả lời bình luận

Chỉnh sửa bình luận

Thiết lập văn bản

Xem trước

Nội dung sẽ hiển thị như thế này

Chọn font chữ

Cỡ chữ

12px 30px