Quyển I Chương 4. Phụng
Bính Tý, Quang Thái năm thứ chín.
Tháng Bốn, Nhập nội Phụ chính Thái sư Bình chương quân quốc trọng sự, Lê Quý Ly đem dâng tấu với Nguyên Hoàng Đế Trần Ngung, muốn phát hành tiền giấy Thông Bảo Hội Sao thay cho tiền đồng. Lý do của Ly rất đơn giản, đúc tiền đồng tốn kém hơn tiền giấy. Vua quan nghe xong đều thuận, nên Ly sai người cho làm ngay. Quan quân đến từng nhà, đi từng ngõ gõ cửa, bắt dân đổi hết, những kẻ nào tàng trữ, giấu giếm đều bị phạt rất nặng.
Nhưng những xe thùng chờ theo tiền đồng không bị sung công, mà Lê Quý Ly bí mật đem về một xưởng nung đúc, cho những tiền đồng này hoá vàng hết cả một lượt. Những người làm ở đây cơm ngày ba bữa, nhưng bị quản giáo rất chặt, không cho phép được đi lại.
Ngay trong xưởng đúc này, có một khu quân cơ, Lê Quý Ly thường xuyên ra vào, các thanh niên trai tráng đúc rèn ở đây, trong lúc nghỉ ngơi nói chuyện phiếm với nhau, đoán Lê Quý Ly đang chế cháo thứ vũ khí gì đó. Có một ông mới từ quê lên, chẳng biết nhân vật lớn nào, thấy Quý Ly quyền uy như thế liền hỏi thăm chức tước, thế là cả lũ lại có chuyện đem kể, nhất là khi lần ngược gốc gác của vị đại nhân này.
Lê Quý Ly vốn gốc họ Hồ, nghe nói tổ tiên là người phương Bắc định cư đất Đại Việt lâu năm. Gia thế cũng bình thường, nhưng đắc vận thế nào Ly lại được quan Tuyên Uý, tên Huấn họ Lê nhận làm con nuôi, song phải cải họ. Kể từ đó, đường quan lộ của Ly rộng mở và thăng tiến nhanh lắm.
Bọn họ nói đến đây dừng vì đã đến giờ vào làm, mà dù có tào lao thêm đi nữa, chẳng mấy ai biết, họ hàng xa của Huấn, tức ông bố nuôi của Quý Ly, vốn làm nghề chài lưới, có lần dân nơi đó gặp phải cá Ông mắc cạn, chết khô trên bờ biển lúc nào không hay, thế là họ tụ tập làm lễ tế, sau đó đốt xác, xương của ngài được đem chuyển vào trong núi sâu làm miếu thờ.
Tất nhiên chuyện này chẳng có gì đáng nói nếu khi hoả táng cá Ông xong bỗng rớt ra thứ gì đó. Cả đám người đùn đẩy nhau không dám da nhặt, chỉ có ông bác của Huấn mạnh bạo ra xem.
Nhìn kỹ mới hay đó là một chiếc dây chuyền hình máu. Dân đoán rằng đây là vật trời, nên giữ lại, lúc xây miếu xong lại đem treo ở đó như vật thiêng, đến ngay cả kẻ trộm, tặc cướp, thổ phỉ qua đường cũng chẳng dám thó. Ai biết được vật này được treo trong miếu có tà độc, phù phép gì, động vào có khi chết bất đắc kỳ tử không hay. Thỉnh thoảng thấy Huấn đến chơi, trong lúc uống rượu cứ nhắc hoài làm Huấn phát ngán đến tận cổ.
Huấn đem chuyện này kể cho Ly nghe.
Ly lúc đó đã quan nhà Trần, mối quan hệ rất rộng, ban đầu cũng không bận tâm lắm, sau gặp ông bạn quen trong triều, là quan chép sử, nghe chuyện Ly kể thấy hứng thú đòi về xem. Quý Ly đồng ý ngay, hẹn nhau mấy hôm, rồi dẫn đến miếu tham quan.
Không ngờ ông bạn này của Quý Ly kia lại có hiểu biết, người đó kinh ngạc liền phán ngay dựa vào hoa văn, cách đúc thì thuộc thời Lý, thời vua nào đương thế thì không rõ, nhưng đã là rất cổ.
Ly nghe vậy mừng lắm, sau đó dùng tiền mua chuộc mấy bô lão trong làng, dặn bô lão nói với dân chúng rằng vật đã hết phép, nên tháo nó xuống, không thì hung hiểm đến nơi, lại âm thâm sai mấy tên lưu manh dựng chuyện thần bí như gia súc chết, biển bẩn làm cho ai cũng sợ. Ly nhận mình họ hàng xa với bác Huấn, đứng ra đại diện làm lễ, mở tiệc cho bà con, lại nói tâm tư nguyện vọng, thế là vật rơi vào tay Ly không ai phản đối.
Lê Quý Ly lúc đó chỉ nghĩ mình nhặt được cổ vật, đem lòng yêu thích, dụng ý chỉ muốn sưu tập chơi, bởi quyền quý ai nấy đều làm vậy cả, không ngờ cho đến khi lên chùa chơi, đem khoe với phương trượng món cổ vật.
Phương trượng nhìn cổ vật sững người, tá hoả, Ly làm lạ hỏi nguyên do, phương trượng niệm thiện tai thiện tai mãi mới chịu nói.
Phương trượng không nói về chiếc dây chuyên ngay mà kể: "Nguyên lai, thời Trần Nhân Tông, có giáo Phật tên Tam Đồ, không rõ là tông phái nào, nhưng là một tổ chức vừa sáng vừa tối."
Lê Quý Ly chau mày thốt: "Tam Đồ Giáo? Giáo hội nay ta chưa từng nghe!"
Phương trượng có chút bất mãn: "Thí chủ không biết là phải thôi. Bần tăng nói họ chỗ sáng chỗ tối là có ý đó!"
Lê Quý Ly dò: "Ý thầy là sao?"
Phương trượng lần tràng hạt giữ mình bình tĩnh, đắn đo mãi mới chịu giải thích như thể nhắc đến giáo hội này khiến bản thân mắc phải cái đại tội nào đó: "Tối ở chỗ không biết quy mô của nó đến đâu, ai là tín đồ, hơn nữa hoạt động rất kín, phải là người từng tham gia mới biết họ tồn tại. Lúc Tam Đồ Giáo thịnh thế, nếu biết đến sự tồn tại của họ rồi lại không dám nói ra. Bởi họ xử lý rất cực đoan mặc dù miệng lúc nào cũng nói đạo lý cửa Phật, nghe rất buồn cười."
Lê Quý Ly hỏi tiếp: "Vậy sáng chỗ nào?"
Phương trượng đăm đăm nhìn chiếc dây chuyền rồi trỏ vào: "Còn sáng ở chỗ, mục đích của bọn họ rất rõ ràng, họ đang tìm thứ gì đó như dây chuyền, còn làm gì thì không biết, nhưng ắt phải cần nó để làm cái gì đó kinh thiên lắm, thì họ mới phải hành xử theo kiểu này."
Ly nghe phương trượng kể xong nửa tin nửa ngờ hỏi phương trượng làm sao biết được.
Phương trượng thở dài: "Không biết là hữu duyên hay vô ý, phương trượng đời trước của chùa lại là một tín đồ của Tam Đồ Giáo, dẫu chùa không liên quan, nhưng nghĩ đến sư nhà mình có dính dáng đến thật lấy làm hổ thẹn."
Nói xong, phương trượng còn dẫn Ly vào thư các, đem một tờ giấy cất từ trong hộp cũ niêm phong, đưa cho Ly xem.
Lê Quý Ly xem tranh hoạ thì giật mình, quả đúng hoạ hình chính xác dây chuyền này, thậm chí hoa văn như nào không sai một ly. Nếu không phải nơi hắn có được nó và ngôi chùa này cách xa nhau vài trăm dặm, lại không mấy người hiểu được giá trị lịch sử, thì hắn ắt hẳn nghi ngờ bên mình có kẻ gian bán tin cho phương trượng để phương trượng giả thần giả quỷ khéo cho việc cúng dường cho nhà chùa cũng nên.
Lê Quý Ly xem xong trả tranh vẽ cho phương trượng, đoạn nói: "Không ngờ vật này lại có liên hệ như vậy, đây là việc hệ trọng, cần phải báo vua quan để họp bàn, mong phương trượng kín tiếng giữ miệng!"
Phương trượng vội đồng ý, còn cẩn thận mời Quý Ly làm lễ, mượn tạm dây chuyền, đọc kinh trừ tà, phương trượng mới yên được.
Tất nhiên, Lê Quý Ly khi rời khỏi không đem dâng cho vua, mà bắt đầu tìm cách tìm hiểu về cái hội Tam Đồ khỉ ho cò gáy này.
Phương trượng từng nói hội giáo này từng có thời gian thịnh thế, Quý Ly đoán một hội giáo bây giờ đang thịnh thế thì không có cách nói này, do đó, bây giờ hội này không những yếu, mà yếu thì phải kín, kín thì phải cẩn thận, cẩn thận thì khó moi móc thông tin kiểu ra ngoài chợ tung tin tôi có món đồ mà các người cần tìm, mau tới xác nhận.
Nhưng Lê Quý Ly biết một đường dây mối nhợ, Tam Đồ Giáo cắm rễ vào hệ thống chùa chiền. Bằng chứng là ngay cả những ngôi chùa nổi tiếng như này mà vẫn có những nhân vật từng dính líu đến, thì những nơi chùa nhỏ thì lại càng phải có. Không gì moi tin tốt hơn bằng cách bắt đầu từ các nhà chùa.
Song chùa ở Đại Việt vô cùng nhiều, trải khắp đất Việt, Lê Quý Ly lại càng không phải thánh, vậy làm cách nào vừa điều tra một cách bí mật mà vẫn có thể điêu động nhân lực một cách quy mô?
Vậy là vào tháng Chín cùng năm, Lê Quý Ly dâng tấu cho rà soát, sát hạch lại toàn bộ giới tăng lữ trên cả nước, bắt các sư dưới năm mươi tuổi hoàn tục, các sư trên năm mươi tuổi phải làm khảo hạch kinh Phật, nếu trượt thì phải hoàn tục mà phục dịch.
Riêng cái này vua cho là phải, nên chấp thuận từ tận đáy lòng chứ không phải do Lê Quý Ly ép uổng. Quan thần ai nấy đều hô anh minh vạn tuế. Mà không ai biết mục đích thực sự của Ly là mượn cớ dùng những bài khảo hạch này để phát hiện xem có ông tăng nào là tín đồ hay người của Tam Đồ Giáo hay không. Nếu nghi ngờ liền bắt về điều tra ngay.
Tuy nhiên, Lê Quý Ly ngàn tính vạn tính cũng không tính quan lại trong cung cũng có thể là tín đồ của Tam Đồ Giáo.
Nếu Lê Quý Ly nghĩ đến thì cũng cho là phải.
Bởi nhà Trần vốn chuộng Phật, việc tăng nhân có quan hệ với triều đình chẳng phải lạ. Vậy nếu Lê Quý Ly nghĩ Tam Đồ Giáo bám rễ sâu vào giới tăng lữ, thì chuyện tăng nhân không những có quan hệ với quan lại triều đình, mà còn có thể là tín đồ của Tam Đồ Giáo, thậm chí chính cái viên quan ấy cũng tham gia vào luôn cũng là việc hiển nhiên.
Thế thì cái việc khảo hạch chứa những câu ẩn ý về Tam Đồ Giáo, há chính cái quan viên đang thực hiện công tác kiểm tra thay mình kia không nhận ra sao?
Làm quan tới mức đó đâu phải quan ngu. Không báo cho Tam Đồ Giáo khi biết việc ư?
Thực ra, Lê Quý Lý làm đường nào cũng là tự bứt động rừng!
Tam Đồ Giáo tuy không còn thịnh thế, tín đồ sa sút, nhưng mạng lưới quan hệ vẫn còn lưu lại đó nào có mất đi đâu được.
Nhưng cũng không thể trách Lê Quý Ly được, không phải Ly không thể tính ra, mà là không thèm nghĩ tới, suy cho cùng lúc đó trong mắt Ly nhà Trần đã đổi sang họ Hồ từ lâu rồi.
Bởi thế, ngay sau Lê Quý Ly phát động chính sách được tuần trăng, tại một dãy núi có danh tại trấn Trường Yên, có một lão tăng nọ, chẳng biết đêm hôm khuya khoắt, đốt đuốc đi vào đó làm gì.
Mãi tới tận canh Tý, lão tăng dừng trước một hang động. Trước cửa hang động có cặp kiếm khách mặc đồ đen, che kín mặt, ôm kiếm đi qua lại, ngay cả có con côn trùng bé tí xíu vụt qua cũng khiến phải họ phải liếc nhìn.
Khi thấy lão tăng đến, họ chỉ gật đầu chào rồi để lão tăng đi vào, xem ra là người quen với nhau cả.
Lão tăng mặc áo ca sà, tay đeo tràng bồ đề, thong thả đi vào hang.
Lòng hang động này to rộng, nhưng trống rỗng, vách hang có ba cánh cửa, mỗi cánh cửa đều hoạ hình, hơn nữa hoạ hình rất rùng rợn.
Một cánh cửa khắc hình cảnh lửa ngục, một người bị thiêu đốt, nhưng mắt nhắm nghiền, biểu cảm lại chẳng mấy đau đớn. Cánh cửa khác thì lại hoạ một loài sinh vật kỳ dị, bụng to cổ dài, há cái miệng lớn như muốn nuốt chửng người xem. Cánh còn lại thì chạm trâu bò lợn gà ngựa dê chó mèo đang làm việc rất vất vả, bị bóc lột đến gầy trơ xương.
Lão tăng niệm "nam mô A Di Đà Phật" ba lần rồi mới chọn dánh cửa có hình lửa ngục đi vào, miệng không ngừng lẩm nhẩm, "ta không vào địa ngục thì ai vào đây?"
Cánh cửa dẫn tới một hành lang dài, kết cấu vững chắc, thường xuyên được tu sửa, cải tạo.
Lão tăng đi đến cuối hành lang, gặp phải một cánh cửa đã cũ, bức hoạ sơn lên cánh cửa đã nhem, nhưng vẫn đủ hình dung ra đây đang hoạ một vị sư trẻ, mặc tăng bào trắng, tay cầm một cuộn giấy da, miệng cười thánh thiện. Phía trên cửa biển ghi Tổ Giáo Tiếp Dẫn. Hẳn trong tranh hoạ tổ giáo đây rồi.
Ngoài ra mỗi bên cửa lại đề lần lượt:
"Tam Đồ đạo chấp mê bất ngộ.
Nguỵ chân chân nguỵ định vô thường."
Lão tăng không đứng thưởng thức lâu mà đẩy cửa bước vào ngay, bên trong hoá ra lại là một gian thờ.
Phía chính diện đối cửa, sâu trong hốc đá là bệ thờ, trên đặt bài vị của năm người. Bài vị năm người này không ghi tên, chỉ ghi niên sinh niên mất và ghi chung chung Hộ Giáo Thánh Nữ. Còn bên dưới có tới mười tám cái bài vị, hình thức cũng vậy, chỉ khác ghi là Trưởng Lão. Và tất cả bài vị đều đóng khắc biểu tượng cỏ ba lá.
Lão tăng mỗi lần nhìn vào biểu tượng này đều chau mày suy nghĩ, vì tương truyền, ngay cả tổ giáo cũng chẳng biết cỏ ba lá thực ra có nghĩa gì.
Lão chỉ biết, biểu tượng này được chép từ thứ được xăm khắc từ một tấm bản đồ da người. Chiếc bản đồ đó có hai phần. Phần thượng, ai là trưởng lão đều biết. Phần hạ, thì chỉ được truyền qua các đời Hộ Giáo Thánh Nữ. Mà cỏ ba lá này phải moi móc lắm, Hộ Giáo Thánh Nữ đời này mới chịu tiết lộ nó nằm ở trung tâm của phần hạ bản đồ.
Cuối cùng lão tăng mở cửa gian dưới bệ thờ để tới phòng động tiếp theo chứ không mở cửa bên trái gian thờ.
Phòng động tiếp theo có cửa trời, miệng lớn, nhìn được cả trăng sao, tường vách dây leo bám đầy, côn trùng kiến bọ bò lung tung beng hết cả, không có bích hoạ như nhiều người thường nghĩ, dưới nền toàn là bụi cát, xung quanh châm đuốc không đèn đồng nến đốt.
Thực đúng chất là một cái lòng hang có thể đứng, ngồi tụ họp được thôi.
Nếu phương trượng chùa nọ được dẫn vào đây tham quan, hẳn sốc lắm, bởi ai tưởng được một cái hội như Tam Đồ lại sờ sài, nghèo nàn đến mức này. Quan trọng hơn, đây không phải do suy vi, mà là do ngay từ ban đầu đã thế. Nếu theo nghĩa nào đó, họ còn Phật giáo hơn rất nhiều chùa chiền ở Đại Việt.
Lão tăng bước vào, quét mắt nhìn gian phòng.
Giữa hang, có người mặc áo thô, đi ủng cao, tóc ngắn, đeo túi, trên tay cầm la kinh, đi lại không ngừng, thi thoảng ngước mặt quan sát tinh tượng.
Còn góc trái bên kia, có một gã dùng dây trắng bịt mắt, ngồi xổm, gậy đánh chó đặt ngang lòng, ăn mặc rách rưới như ăn mày, cũng không rõ mù thật hay giả, hai tay xóc lên xóc xuống như chơi bạc, nhìn bên ngoài người ta còn tưởng gã vì thua bạc mà trở thành ăn mày, đố ai mà biết được gã này thực chất là cao thủ về quẻ và Dịch lý.
Chưa hết, bên cạnh gã này có tên bụng phệ, mặt béo, ăn mặc trông giản dị, nhưng quần áo, đầu tóc chỉn chu, vải vóc không tầm thường, chứng tỏ ăn ngon mặc đẹp, vợ đẹp con khôn, cuộc đời chừng như quá đầy đủ đến phát chán, và hắn đang ngồi xem gã kia xóc đĩa.
Cuối cùng, có một lão già sáu mươi tuổi, râu dài đến ngực, ngồi xếp bằng, đằng sau đeo kiếm, mắt nhắm như đang ngủ, mặt lạnh như tiền. Song đừng nghĩ hắn khó gần, hồi còn trẻ nổi tiếng phong lưu, đào hoa sát gái có tiếng, ngâm thơ vịnh phú, cái gì cũng hay, chỉ điều chắc là trẻ sống nhanh quá, già mới sống chậm lại, thường ngày ẩn cư, câu cá, đọc kinh sách đạo lý, nói năng như phường đa cấp.
Thấy lão tăng đi vào chẳng ai buồn bận tâm, cứ thế làm công việc của mình cho đến khi tiếng bước chân vang lên ngoài cửa hang, một người bóng người đang bước vào ngay sau lão tăng, lập tức bọn họ dừng tay, cả bọn ánh mắt đều nhìn về một hướng, riêng lão già râu dài chầm chậm mở mắt nhìn theo, còn lão tăng thì chắp tay cúi đầu nhường lối.
Đến cửa hang, ánh đuốt hắt vào, tỏ rõ một người phụ nữ, phụ nữ choàng áo thụng tím, trùm kín đầu, đeo mặt nạ, phía sau đeo chiếc ô cũng tím nốt, trên cổ đeo một chiếc dây chuyền hình đao.
Hẳn là Hộ Giáo Thánh Nữ đời thứ sáu của Tam Đồ Giáo.
Lúc này, trăng trên cao vừa đi ngang qua miệng giếng, nhìn xuống sáu cái đầu đang tụm lại với nhau thành vòng tròn, khoảng cách giữa người với người không xa nhưng đứng rất đều.
Lục Thánh Nữ quay qua lão tăng hỏi: "Nhất Cung, sao lão lại muốn triệu tập?"
Nhất Cung không đáp mà hỏi ngược: "Lê Quý Ly có động tĩnh lớn thế mà Lục Thánh Nữ không gấp sao?"
Lục Thánh Nữ nhìn qua gã béo: "Ta chỉ biết lão Tam Giốc bị tốn một mớ bạc, đồng thôi!"
Tam Giốc cười hềnh hệch: "Lục Thánh Nữ yên chí, hôm đó ta chủ động giao nộp, không bị tra thêm, thế là tuồn mấy lô trót lọt. Cũng giống gã Ly cho đi hoá vàng để đúc vũ khí hết rồi. Xem ra Ly bắt đầu ra tay muốn soán quyền đoạt vị."
Cái người cầm la kinh từ nãy không rời khỏi tay giờ mới chịu đút trả vào túi nói: "Tam Giốc ngươi đừng quen thói con buôn bốc phét mãi được không, thiên vận họ Trần còn đang vượng lắm!"
Tam Giốc quay qua mắng: "Ngươi đang nói chính mình hả Tứ Chuỷ? Cái gì mà thiên mệnh đang vượng lắm? Nói trắng ra chẳng phải cốt đút cho ngươi mấy đồng bạc rồi ngươi cũng có thể phán hoạ sắp đến nơi rồi, vẽ đủ thứ bệnh lý phong thuỷ doạ người?"
Tứ Chuỷ vuốt râu cười ha hả: "Nếu nói về vẽ bệnh ta không bằng Ngũ Vũ. Chỉ cần hắn tung vài đồng xu là có thể hươu vượn loè người ta được rồi. Còn ta đây người thật việc thật!"
Ngũ Vũ nghe bọn họ nhắc đến mình thì chẳng nói gì, chỉ liên tục quay đồng xu qua ngón tay một cách uyển chuyển.
Lúc này, lão đeo kiếm vỗ vai Tứ Chuỷ rồi phán một câu xanh rờn: "Trên đời không có chuyện đúng sai, chỉ có kẻ mạnh và kẻ yếu. Khi người mạnh, ngươi nói gì cũng đúng!"
Lần này Ngũ Vũ gật đầu thốt: "Nhị Thương nói phét gì cũng đúng cả. Đó là ý của hắn! Các người hiểu chứ?"
Lục Thánh Nữ quay lại chủ đề ban đầu, lạnh lùng nói: "Lê Quý Ly dã tâm không nhỏ. Hẳn muốn chế tạo hoặc đúc thêm vũ khí, chắc phòng ngừa việc soán ngôi không thuận."
Nhất Cung niệm A Di Đà: "Họ Trần nhân quả đến đây sắp dứt, chỉ mong thiên hạ thái bình, tránh phải động binh đao!"
Ngũ Vũ trầm nói: "Vừa nãy ta gieo quẻ, hoạ không đến từ nội, mà từ ngoại!"
Lục Thánh Nữ giọng nói có chút lo lắng hỏi: "Ý ngươi lại là hoạ ngoại xâm?"
Ngũ Vũ im lặng không xác nhận. Cả sáu người bỗng chốc trùng xuống.
Phải biết vì sao Tam Đồ Giáo suy vi, bởi vì nguyên do đã được ghi chép trong biên niên của giáo phái, đó là giặc Nguyên tràn xuống thêm hai lần nữa, càn quét quá hung hãn, nhiều đầu não bị bắt giết, việc lộ bí mất không thể tránh khỏi, lại trong loạn giặc, có kẻ phản đồ nhân lúc hỗn loạn, trộm lấy một chiếc dây chuyền hình lửa rồi biệt tăm biệt tích đến bây giờ.
Như vậy Tam Đồ Giáo vốn có hai chiếc dây chuyền, giờ chỉ còn một. Cũng may tấm bản đồ do Hộ Giáo Thánh Nữ cất giữ mới không lọt ra bên ngoài. Bây giờ đến đời của họ, không phải tìm một, mà là hai chiếc dây chuyền.
Sau một hồi cả đám trầm mặc, Lục Thánh Nữ mới nhớ ra vì sao Nhất Cung lại muốn triệu tập cuộc họp.
Nhất Cung nhìn Lục Thánh Nữ như muốn nói, lúc đầu chẳng phải ta đã hỏi hay sao, nhưng Lục Thánh Nữ lảng đi như chưa có chuyện gì xảy ra nên lão đành nói: "Chắc hẳn mọi người cũng đã biết gã Quý Ly này vừa rồi bắt ép giới tăng lữ làm chuyện khảo hạch phải không?"
Tam Giốc cười hềnh hệch: "Có mù như Ngũ Vũ mới không biết, chứ ta còn đang lo cho Nhất Cung nhà ông trượt bài khảo nghiệm, rồi bị bọn họ tống vào trong cung làm thái giám phục dịch. Khi đó, ông muốn hoàn tục cũng chẳng được nữa. Ha ha!"
Tứ Chuỷ cố nén cười, ra vẻ mặt nghiêm túc gật gù.
Còn Ngũ Vũ đính chính với Tam Giốc: "Ta mù nhưng không điếc! Há chẳng không nghe người khác bàn nhau được ư?"
Nhất Cung quay qua Thánh Nữ: "Bài khảo hạch được thiết kế như muốn lôi tín đồ và người của chúng ta ra ánh sáng."
Nghe đến câu đó cả bốn người còn lại mặt bỗng dưng nghiêm túc phi thường.
u
Nhất Cung buông thêm như thể sợ không khí lúc này không đủ căng thẳng: "Không biết hắn đã nắm được những thông tin gì?"
"Những gì hắn biết cũng giống như người khác cũng biết về chúng ta. Hơn nữa, trước mắt hắn chỉ nhắm vào mỗi giới tăng lữ, điều đó khả năng cao hắn có được thông tin này từ ngôi chùa nào đó nên chỉ mới nắm bắt được đến thế thôi", Lục Thánh lên tiếng sau một hồi suy nghĩ, "nhưng Tam Giốc cũng nên cẩn thận, vì hắn đủ thông minh để hiểu muốn duy trì một hội giáo vẫn phải cần tiền tài trợ. Thương nhân như ngươi sẽ là đối tượng hắn nhắm kế tiếp nếu không moi móc thêm được điều gì?"
Tam Giốc nghiêm túc gật đầu: "Ta sẽ phân phối cho thủ hạ và bản doanh, cứ tài trợ như bình thường, chỉ là nguồn tiền ta vẫn phải nghĩ cách che giấu thêm vài lớp vòng vo nữa."
Nhị Thương nói lạnh tanh: "Cần ta ra tay khử hắn luôn cho nó nhanh không?"
Lục Thánh Nữ can ngay: "Nếu chưa ảnh hưởng đến tồn vong của giáo hội, không cần phải can thiệp vào nhân quả!"
Nhất Cung nghe vậy thì niệm A Di Đà Phật.
Lục Thánh Nữ lần lượt nhìn sau người đoạn thốt: "Chắc các ông cũng đang thắc mắc như ta, vì cớ gì mà hắn đột nhiên với chúng ta lại thiết lập được nhân quả?"
Nhất Cung đề nghị: "Ngũ Vũ gieo một quẻ đi!"
Ngũ Vũ lập tức tung sáu đồng xu lên trời, nhưng không dùng mai rùa để bỏ vào, mà dùng một chiếc cốc của phường đánh bạc, hốt trọn rồi lắc như lắc xúc xắc. Ngũ Vũ lắc đến mỏi cả cổ tay mới hất văng hết đồng xu xuống đất.
Sau đó hắn vểnh tay lên nghe.
Năm người còn lại đồng loạt cúi đầu nhìn xuống, chờ Ngũ Vũ phán quyết.
Qua sáu khắc, Ngũ Vũ mới thốt: "Các người chần chờ gì đấy? Đọc cho ta xem xu nào ngửa úp?"
Nhị Thương thật muốn đấm cho Ngũ Vũ một cái, nhưng dù sao đang phải giữ hình tượng cao nhân lánh đời nên đành nói: "Ngửa ngửa úp úp ngửa..."
"Rồi... cái cuối?"
"Cái cuối chìm trong cát một phần... có cần ta đọc không?"
Ngũ Vũ chặn liền: "Không, thiên cơ bất khả lộ rồi!"
Nhất Cung: "Xem ra nhân quả này không thể can dự!"
Thực tế, cứ giả sử họ thông minh, thiên tài tuyệt diễm, nghĩ nát óc đi chăng nữa, bọn họ cũng không thể nào nghĩ ra mọi biến cố ly kỳ để tạo hợp nhân duyên của Lê Quý Ly và chiếc dây chuyền thất lạc kia. Bởi việc của ông trời cố tình sắp đặt, phàm nhân làm sao thấu được?