Quyển I Chương 3. Quy
Mậu Ngọ, Nguyên Phong năm thứ tám.
Vào là một ngày lành tháng tốt để tổ chức hôn lễ, tại kinh thành, mới sang canh Thìn, trên đường phố, chúng dân đứng đầy hai bên đường, đang hóng hớt xem cảnh người ta đương rước dâu về với nhà trai.
Kèn, pháo, giấy đỏ phải nói ngợp trời. Nam đinh nữ hầu, thậm chí cả quan quân đi theo sau kiệu hoa cứ phải gọi là nườm nượp.
Đằng trước kiệu hoa là một đàn ông trung niên bốn mươi tuổi, phục đỏ, cưỡi ngựa, đeo tú cầu, đi tới đâu đều vẫy tay chào bà con tới nấy, gương mặt rạng rỡ, vui tươi đúng những gì mà tân lang nên phải có.
Tứ, một nam thanh niên còn đang ế vợ đang ngáp ngắn ngáp dài, mặt mũi như mới tỉnh rượu, đang hoà mình trong đám đông, nhìn vào đoàn rước dâu này, gã tò mò không biết tân nương tân lang là ai mà tổ chức long trọng như thể không sợ người khác thấy chưa đủ long trọng vậy.
Thế là Tứ bèn hỏi người đứng bên cạnh mình là Tam, Tam lắc đầu không biết, chỉ biết mình cũng như Tứ, đang còn ngủ chết trương chết nứt ở trong phòng do hôm qua uống chè nhiều quá mà ngủ muộn, vì tiếng kèn trống phá bĩnh mộng xuân nên bực mình mới mò ra đây xem. Tam còn nhấn mạnh rằng, mới ra phố lớn đã thấy người ta đứng chất ních cả rồi, chen mãi mới vào được hàng đầu này để ngắm chi tiết.
Sau đó cả hai hỏi một bà thím bên cạnh, bà thím nhìn hai gã thanh niên như kiểu mình vừa bắt gặp một việc kỳ lạ, sau đó bà thím vừa mắng vừa giải thích rằng, tân lang là Ngự Sử Trung Lang Tướng, Lê Tần, tên vua ban là Phụ Trần. Vì vậy, người ngồi trong kiệu hoa kia không ai khác chính là Chiêu Thánh Công Chúa, Lý Thiên Hinh. Đây là hôn sự được đương kim thánh thượng Hiếu Nguyên Hoàng Đế ban hôn cho Tần vì Tần lập đại đại công lao trong lúc chống giặc Nguyên hồi rồi.
Tam, Tứ nhìn nhau à lên một tiếng, họ có thể không biết Lê Tần là gã nào, Trung Lang Tướng là chức gì, nhưng họ quá biết Chiêu Thánh Công Chúa là ai.
Hơn chục năm trước còn làm hậu, vốn là vợ vua, nay lại được vua ban gả cho tôi tớ. Đến Tam, Tứ cũng thấy thật phi lý và nhục nhã đến mức muốn chết quách đi cho xong thay cho cô dâu. Nói ra với nhau như vậy, tất nhiên, trong lòng họ không dám thị chúng công khai mà mắng rằng, đức vua này của mình thật ác đức, cái chuyện đem gả người từng là vợ mình làm phần thưởng cho thần tử vậy mà cũng làm được.
Đối với Tam, Tứ, thậm chí cả bà thim kia cũng đều nhận định rằng, quyết định này của vua dù đúng hay sai, cũng cùng một dạng phi thường cổ kim ngang với việc Lý Huệ Tông truyền ngôi nữ tử, cũng ngang ngửa chẳng kém việc vua cưới chị dâu của mình về làm hậu đến mức trước khi quân Nguyên xâm lược làm anh trai mình là Liễu phải dấy binh làm phản. Nếu đổi lại Tam, Tứ là Liễu, cái nỗi nhục này đâu dễ chịu được, làm phản là đúng.
Còn đối với người trong kiệu, hoàn toàn không hay biết gì về những lời đàm tiếu bên ngoài, hoặc cũng thừa hiểu mình sẽ bị đàm tiếu như thế nào, nhưng thế thì đã sao? Không ai biết, trời đất cũng không biết, chỉ mình Lý Thiên Hinh mình nàng biết.
Hinh ngồi trong kiệu, voan đỏ che mặt, ngồi ngay ngắn, thở đều, một cách tĩnh mịch, những ngón tay nàng đang chậm rãi lần tràng hạt một cách nhẹ nhàng, một tay đặt vào mặt hộp trầm bên cạnh. Bên trong hộp đó vốn có một sợi dây chuyền. Chiếc dây chuyền ấy hình lửa, nàng đã mang theo không rời gần như trong suốt đời mình.
Nhìn chiếc hộp gỗ, Hinh nhớ lại ngày giặc Mông Cổ tràn xuống Đại Việt, vua quan nhà Trần phải bỏ kinh mà chạy, một nàng hậu bị phế chẳng quan trọng bằng mạng vua, nên chẳng ai đoái hoài tới, chính thế với nàng cũng là một cơ duyên, trốn được khỏi lồng son gác tía do họ Trần dựng lên, lưu lạc trong dân gian mà chẳng ai hay biết gì. Vì lúc ấy chuyện giữ mạng và chống giặc với nhà Trần quan trọng hơn cả.
Lúc bấy giờ, Lý Thiên Hinh lên núi Yên Tử lánh nạn, đến am nhỏ kết bằng lá cỏ. Nơi đó có một vị hoà thượng già cùng một tiểu hoà thượng. Tiểu hoà thượng được sư đặt cho pháp danh là Liên Tử.
Tất nhiên, địa điểm này không phải ngẫu nhiên Hinh lui tới. Mà nhắc lại chuyện này thì khá dài dòng.
Đại khái, hàng năm nàng vẫn làm lễ giỗ cha tại chùa Chân Giáo. Lần nào cũng mời các cao tăng đến tụng niệm.
Nhưng riêng năm Hinh mười sáu tuổi, lễ giỗ năm ấy nàng quỳ khóc như mưa, tay siết chặt nắm cỏ đến rách máu, bởi lẽ vừa rồi nàng hạ sinh hoàng thái tử Trần Trịnh. Đáng tiếc Trịnh vừa sinh đã mệnh yểu, vong ngay khi mới sinh.
Đây là lần thứ hai nàng khóc nhiều như vậy. Lần đầu tiên là ngày cha nàng mất.
Nhưng vẫn như mọi năm, đích thân Trần Thủ Độ cùng thủ hạ vẫn đến canh chừng nàng như đúng rồi.
Nguyên nhân rất đơn giản, Độ sợ nàng lợi dụng việc này mà giao thiệp với bên ngoài, vì tăng nhân đều là những cao tăng đến từ khắp cả nước, chứ không phải tăng chùa Chân Giáo.
Cảnh nhìn Hinh như vậy bất nhẫn, hỏi Độ: "Thái sư còn muốn gì nữa?"
Độ mặt lạnh như tiền không nói năng gì. Các quan theo hầu khuyên mãi Độ mới cùng thuộc hạ và các quan rời đi.
Nguyên nhân cũng rất đơn giản.
Thứ nhất, khỏi mang tiếng ức hiếp một người phụ nữ mới mất con.
Thứ hai, các tăng nhân đến tụng niệm mỗi năm, danh sách đều do Độ duyệt trước, đảm bảo các tăng này và mối quan hệ xung quanh không có ai thân Lý.
Thứ ba, trước khi vào chùa, Độ vờ mời các tăng làm lễ tẩy trần, rồi sai người thu gom áo bào, cà sa của các tăng lại kiểm tra kỹ xem có giấu giếm gì không.
Thứ tư, qua một hồi quan sát, Độ không thấy tăng nào khả nghi, Thiên Hinh cũng chẳng phải diễn.
Thứ năm, quan trọng hơn, trời nóng, Độ đứng mãi cũng mỏi chân, lại nghe tiếng khóc nỉ non thì nhức óc, nên cũng chẳng muốn ở lâu.
Độ vừa rời khỏi một lúc khá lâu, tiếng niệm mới dứt, tạm nghỉ một lát để chuyển bài.
Một vị tăng nhân trong hàng ngũ nhìn thấy Thiên Hinh như thế không đành lòng, bèn tiến đến, cởi áo cà sa của mình khoác lên ngươi Hinh, miệng luôn khuyên thí chủ bớt đau buồn, sau đó lại trở về vị trí, tiếp tục tụng niệm bài kế.
Hết lễ, Cảnh dìu Hinh vẫn đang mặc áo cà sa trên người về Yên Hoa Cung. Đến trước cổng Yên Hoa Cung lại để cung nữ dìu nàng vào, còn Cảnh đứng ngoài nhìn mãi cho tới khi Hinh vào trong mới rời đi.
Nghỉ ngơi một lát, tinh thần Thiên Hinh cũng ổn định phần nào, lại nhớ áo cà sa của tăng chưa trả, muốn tự mình giặt để đáp lễ, nên nàng bưng chậu đến bên giếng, múc nước dội vào. Không ngờ cà sa vừa mới ngấm nước liền phai màu đi rất nhanh, cả chậu nước nhuộm đỏ một vùng.
Thiên Hinh hoảng hồn vội nhấc lên, lại thấy một dòng chữ xanh: "Am cỏ, Yên Tử, đọc xong đốt đi!"
Hinh không dám trái lời, đốt ngay ca sà. Việc này nàng để một mình trong lòng mãi. Đến hôm nay đứng trước am cỏ này, áp lực như được trút bỏ hết.
Hoà thượng hỏi: "Trong nước đang hỗn loạn như vậy, ý thí chủ thế nào?"
Hinh giật mình thoát khỏi dòng ký ức, nàng vô thức sờ nhẹ vào chiếc dây chuyền mình đang đeo, rồi nhìn tiểu hoà thượng đang ngoan ngoãn ngồi bên cạnh, sau đó nói với nhà sư: "Nếu họ Trần đuổi được giặc thì coi như nhân quả đã định, không thể can dự, hãy để bí mật này được vĩnh hằng!"
Sau đó nàng trao lại dây chuyền cho nhà sư, rồi tìm một đạo quán dành cho nữ nhân trên núi mà ở, khi nhà Trần đẩy lùi được giặc, cả nước vui mừng, Thiên Hinh lặng lẽ trở lại trước sự kinh ngạc của Thủ Độ.
Đinh Sửu, Bảo Phù năm thứ năm, Trần Cảnh qua đời, thọ sáu mươi tuổi.
Mậu Dần, Bảo Phù năm thứ sáu, Lý Thiên Hinh qua đời, thọ sáu mươi mốt tuổi.
Kỷ Mão, Bảo Phù năm thứ bảy, con của Quang Hiếu Hoàng Đế là Khâm, lên ngôi vua, đổi niên hiệu sang Thiệu Bảo.
Cùng nắm đó, trên núi Yên Tử, tại cái am cỏ đó, một vị sư già, râu dài đến bụng đang toạ thiền dưới gốc cây đào, hoa đang đương nở. Ngoài ra còn có một vị hoà thượng gương mặt anh tuấn mặc tăng bào màu trắng chắp tay cúi đầu trước thầy mình.
Gió thổi nhẹ, mây vần lấy núi, hoa cỏ khẽ lay.
Liên Tử hỏi thầy: "Nếu đã là bí mật cần được chôn vùi mãi mãi, tại sao thầy không huỷ nó đi luôn?"
Lão tăng mỉm cười đáp: "Mình có can gì mà phải huỷ?"
Liên Tử không chấp lại hỏi: "Há như vậy chẳng phải tham sân si sao?"
Lão tăng lại buông: "Nói dễ, làm khó, đấy mới gọi là tu hành. Nếu không chúng sinh đã không vô minh, ai cũng thành Phật một đời cả rồi!"
Liên Tử lại hỏi: "Có điều trò thắc mắc từ lâu, nhưng không dám hỏi, thầy sắp về với Phật, nên trò muốn nghe, không biết có được chăng?"
Lão tăng mỉm cười nhìn Liên Tử: "Vừa rồi con còn nói tham sân si, vậy mà vẫn chấp?"
Liên Tử cười đáp: "Con dù sao vẫn đang tu hành!"
Lão tăng gật gù: "Thái Tổ nhà Lý vốn người xuất thân cửa Phật, nhưng lại làm vua, chính thế lại là người tỏ mình hơn ai cả. Những thứ đó đều là tham sân si. Tham sân si thì dẫn đến tam đồ cả thôi!"
Liên Tử à lên một tiếng như thể vừa mới xác nhận, sau đó anh nhìn am cỏ nói: "Nghe dân gian đồn đãi, Long Tường trốn ra ngoài khơi gặp sóng dữ, không biết sống chết thế nào, nhưng y lúc đó vẫn mang nặng chấp niệm, hẳn không dễ gì từ bỏ, không thể loại trừ việc y để lại dây chuyền thứ ba được. Bởi vậy, xem ra, việc con cần làm không chỉ là giữ mà còn phải tìm xem. Nếu nó chìm hẳn xuống biển thì đỡ quá. Nhưng thật tình chúng ta vẫn chưa nhìn thấu quá khứ vị lai, một việc khó xác nhận thật là một cái chấp. Xem chừng cái am nhỏ này không đủ để bảo hộ và quy nguyên vật cũ được rồi!"
Lão tăng gật đầu một cái không nói thêm gì nữa, nhìn Liên Tử lần cuối, rồi viên tịch.
Liên Tử đứng đó trầm ngâm một hồi, mãi sau mới niệm chú cầu siêu cho thầy mình.
Niệm xong, sư đặt thi thể của thầy mình nằm xuống tấm vải trắng, lật lưng thầy mình lên, rồi dùng dao rạch phần da lưng, máu chảy loang khắp vải, nhưng tuyệt đối áo sư không dính tí máu nào.
Rạch xong, Liên Tử nâng cao chiếc da lưng lên cao, ánh mặt trời chiếu qua, máu khô dần, mực nổi lên, đó là một bản đồ gồm hai phần.
Phần thượng là bản đồ dẫn đến mật lăng, phần hạ vẽ địa đạo dẫn đến trung tâm khu vực chứa bí mật đó. Nhưng điều làm Liên Tử ngạc nhiên nhất, không thấy chỗ nào chỉ điểm nơi dùng ba chiếc chìa khoá, chỉ có một ký hiệu cỏ ba lá ở giữa trung tâm địa đạo này.
Liên Tử thở dài, cuộn tấm da người này lại, buộc dây, cất vào trong người, rồi châm lửa hoả táng thầy mình, nhưng cốt không thiêu hết được, nên Liên Tử dùng chày giã nghiền nát, phải mất bảy ngày bảy đêm mới xong.
Cuối cùng, Liên Tử đem tro lão tăng rắc trôi sông cho cá ăn. Trong đầu nghĩ đến ba chữ, Tam Đồ Giáo.