Quyển I Chương 1. Long
Canh Tuất, Thuận Thiên năm thứ nhất.
Đạo Chính Hoàng Đế, họ Lý, huý Công Uẩn, ra chiếu dời đô từ Hoa Lư về thành Đại La.
Chiếu chê các đời vua trước không noi theo chuyện cũ Thương, Chu, tự tiện dời về Hoa Lư đóng đô, thành ra nghiệp không thịnh, mệnh không dài. Mà thực tế cũng đúng thật. Ngược lại chiếu viết, ngày xưa Cao Biền chọn đất đắp thành Đại La, thế như rồng cuộn hổ ngồi, tiện nghi núi sau sông trước, vua cho đó là trung tâm trời đất, thượng đô kinh sư ngàn đời. Quả thật sau này nơi đây là đô đế bốn triều của Đại Việt.
Nhưng khi việc chuyển đô hoàn tất, lập lễ tế dâng thiên địa chứng giám, nhiều ngày sau đó vua ngoài ung dung, trong bất an, triều chính không thuận, đêm ngủ nằm mơ toàn chuyện tà ác. Vua liền mời mấy vị cao tăng vào trì giảng, tụng kinh. Song các vị tăng nhân này mỗi lần vào cung đều lắc đầu từ chối, nói rằng đây là nhân quả không thể can dự.
Có lần vua dạo chơi ngoài cung, xem phố xá, dân chúng trong kinh, chợt thấy có dòng sông đen hôi giữa chốn thị thành, liền tức giận điệu quan địa phương tra hỏi.
Hỏi ra mới biết, thì ra là sông Tô Lịch làm vua sững sờ.
Quan thưa bẩm trước sông thơm mát trong xanh, cá lội từng đàn, thậm chí dân có thể uống nước trực tiếp, song từ ngày vua dời đô đến đây nước sông bỗng dưng đổi màu, đã sai người nạo vét trăm bề nhưng không tài nào cứu nổi con sông. Vua nghe vậy bán tín bán nghi, sai người nạo vét thử, kết quả tương tự. Vua lại mời mấy vị cao tăng qua xem thử, không ngờ mấy vị này lại nói nhân quả này không thể can dự.
Rồi có ngày vua cao hứng, muốn tuần du ngoại kinh viếng chùa, các quan bảo rằng hôm nay thiên tượng không đẹp, dễ có mưa giông, sấm chớp. Vua thấy trời quang mây tạnh, cho rằng các quan lo xa, nhất mực làm theo ý mình. Kết quả đi giữa đường, cả đoàn gặp bão thật, thậm chí lạc mất phương hướng, vua nhìn tướng lĩnh thấy hối hận lắm.
Lúc này trời đã tạnh mưa, mây đen tan dần, bỗng nhiên có kẻ quân tri hô đằng trước có một tiểu đồng đang mỉm cười vẫy tay gọi giữa chốn rừng núi. Vua nghi hoặc sai lính ra hỏi. Nhưng ai nấy đi xong đều thưa rằng, tiểu đồng thoạt trông rất gần, nhưng đi mãi mà không đến được, không hiểu cớ sự làm sao. Vua tò mò muốn tự mình đi thử, có người can, giữa chốn rừng núi hoang vu xuất hiện một đứa trẻ, quân lính lại gặp phải điều kỳ lạ, khuyên vua không nên mạo hiểm.
Vua cười nói: "Trẫm vốn xuất thân cửa Phật, tâm không thẹn với trời đất, nào có sợ quỷ quái yêu phong?"
Nói rồi thúc ngựa đi tới, quân lính kinh ngạc nhìn vua tới chỗ cậu bé đoạn chừng chỉ chín bước chân ngựa chứ nhiêu. Sau một hồi trò chuyện vua mới biết cậu bé được thầy mình dặn đứng đây, nếu thấy một đoàn người ngựa đi ngang qua phải mời đoàn lên núi. Vua tính hiếu kỳ nên dẫn quân đi theo tiểu đồng.
Trên núi có một túp lều tranh, sân vườn rộng, cây cối xào xạc, chim hót lanh lảnh.
Tiểu đồng nói với vua: "Thầy tôi đang ở trong kia, xin ngài chờ ở đây để tôi vào báo!"
Vua đồng ý đừng chờ. Được một lúc tiểu đồng ra nói: "Thầy tôi đang ngủ trưa, tôi không nỡ đánh thức, xin ngài ráng chờ thêm chút nữa."
Vua cũng gật đồng ý.
Tới gần trưa, mặt trời trên cao, quân lính, hầu cận ai nấy cũng mồ hồi nhễ nhại. Vua bắt đầu sốt ruột, chắp tay sau lưng đi đi lại. Có kẻ nhịn không nổi thưa với vua muốn tự mình xông vào lôi cái gã kia dậy ngay.
Vua tuy thân thể không thoải mái, nhưng cản ngay: "Trẫm xuất thân cửa Phật, chữ nhẫn nào có phải khoa trương. Hơn nữa, Phật nhập Niết Bàn khi ngủ, biết đâu người này có thể giúp trẫm khi say giấc nồng?"
Dứt lời, tiểu đồng thong thả đi ra, khoanh tay lễ phép mời vua vào. Vua dặn quân lính, đội hầu ở trước cửa canh chừng, còn mình theo cậu bé vào trong.
Vua chưa đến thềm nhà, ngoài cửa đã xuất hiện một người đàn ông trung niên, vua nhìn mà sững người.
Người đàn ông trung niên này tiên phong đạo cốt, mặt đẹp như ngọc, da trắng như vôi, râu tóc bạc phơ, quần áo tinh tươi, ưỡn lưng thẳng ngực cúi chào, nói đoạn mời vua vào trong nhà. Hai bên phân chia khách chủ mà ngồi.
Vua thấy trong nhà treo địa đồ, kệ sách chật kín sách vở, nhưng được sắp xếp ngăn nắp gọn gàng, vua đoán đây hẳn là bậc cao nhân ẩn sĩ lánh đời. Trong lòng vua thầm tiếc, những người như vậy đã sớm nhìn thấu hồng trần hết thảy, rất khó mời về để lo việc nước. Bởi vậy thay vào đó, vua cung kính hỏi nguyên nhân cớ sự.
Người đàn ông trung niên này không báo danh thật, chỉ nói đạo hiệu mình là Liên Tử, ngụ ở núi Lan Kha này đã hai mươi năm. Hàng ngày đạo nhân này chỉ cùng bà con cấy cày trồng lúa, cấy cày, có sở thích đọc thư tịch cổ kim mà thôi.
Liên Tử đạo nhân lại nói, hôm qua bản thân xuống núi, gặp một đàn kiến bò ngang, liền cao hứng bói một quẻ, không ngờ ra bói ra quẻ Càn hào Cửu Ngũ, phi long tại thiên, lợi kiến đại nhân. Đây là quẻ cực hiếm thấy.
Vì vậy, Liên Tử đạo nhân ban sáng đã dặn tiểu đồng đứng dưới chân núi chờ, hôm trước nơi cậu bé đứng đã được đạo nhân bày bố trận pháp bát quái, chỉ bậc nhân trung long phượng mới tiếp cận được cậu bé. Dặn là nếu có người đến hỏi chuyện thì mời lên núi.
Vua trong lòng cả kinh, lấy làm phục lắm, bậc cao nhân ẩn sĩ ở đời có khác, mẩm nghĩ bản thân không tận mình trải nghiệm chắc chắn không tin.
Liên Tử đạo nhân nhìn vua mỉm cười, đoạn nói, tâm sự của vua ông ta đã thấu hết rồi. Chuyện dời đô là việc đại sự, không cứ phải chọn đất, ban chiếu, rồi cử hành là xong. Đô thành là trấn trụ của đất nước, không thể hời hợt qua loa.
Hơn nữa, Liên Tử đạo nhân phê bình vua chọn đất nơi Cao Biền dụng công xây thành đắp luỹ để làm kinh đô, là chuyện đâu phải việc chiếm tổ chim của người ta thì xong.
Vua nghe vậy vỡ lẽ.
Liên Tử đạo nhân giải: "Cao Biền là người Đường thất. Vốn là người ngoài vào đất Giao Chỉ dân ta làm việc cai quản theo lệnh người phương Bắc. Xây thành Đại La, phong thuỷ bài trí bên trong tất phải phục vụ cái việc ấy. Hiện nay, gió đổi chiều, ngôi đổi chủ, ắt không hợp là phải. Các vua xưa đâu phải không biết đó là đất hay, nhưng chưa tìm được cách hoá giải, nên đành phải chọn đất Hoa Lư để đóng đô đó thôi."
Vua nghe xong thiết nghĩ mình lại nghĩ kém cho tiền nhân, tuy vậy, chiếu cũng đã viết xong, hối cũng không được nữa. Thầm nghĩ: "Ta xuất thân cửa Phật, hẳn phải thấu hai chữ buông bỏ".
Nghĩ thế, vua bèn đứng lên vái sâu, nói chuyện đã lỡ rồi, mong đạo nhân chỉ dạy làm sao cho đất nước được mưa thuận gió hoà.
Liên Tử đạo nhân vội đỡ vua dậy nói: "Người là bậc cửu ngũ chí tôn, hành lễ như vậy khéo cho bần đạo tổn thọ mất."
Vua đáp: "Trẫm xuất thân cửa Phật, tự nhiên biết thế nào là chúng sinh bình đẳng. Tuy tục thế phân biệt, nhưng phàm là việc mang lại yên vui thái hoà cho dân chúng, dẫu cho trẫm chân lấm tay bùn kéo trâu cày ngoài ruộng, để giúp muôn dân cơm đủ gạo đầy, há có gì phải ngại?"
Liên Tử vuốt râu cười hỏi: "Hoàng thượng có lòng riêng không?"
Vua nghe đạo nhân hỏi thì khựng người lại, gương mặt có vẻ bối rối, đắn đo một hồi rồi gật đầu: "Cũng mong cho Lý triều ta vững bền mãi mãi."
Liên Tử đạo nhân hài lòng gật đầu: "Hoàng thượng đúng xuất thân cửa Phật, đến nói dối cũng không làm! Bần đạo nguyện ý giúp hoàng thượng phen này."
Sau đó, Liên Tử mời vua ngồi lại, đi vào trong buồng mang ra một tấm địa đồ trải ra bàn. Đoạn nói: "Đây là Long Trung chi cục. Không phá kết cấu bên trong Đại La, mà là dùng ngoại cục để phá! Vì Hoa Lư là đất vương cũ, nay chuyển về Đại La, thì dòng chính khí đang thành âm khởi suy, Đại La đang trong kỳ dương khởi thịnh. Giữa hai kinh này đã tạo thành một vòng âm dương. Mà đã có âm, phải có dương. Đại La đã có dương thì hẳn phải có âm. Bởi vậy, cần nhập cái âm của Đại La hướng về Hoa Lư. Mà đã âm cần phải dẫn xuống dưới đất."
Vua hỏi: "Tức là phải xây địa lăng?"
Liên Tử nói: "Đã xây địa lăng, thì cần phải chôn người!"
Vua rùng mình kinh hãi: "Trẫm có từ ngôi cũng không làm chuyện tuẫn táng!"
Liên Tử mỉm cười thốt: "Thật là một vị chúa nhân từ! Việc này để bần đạo lúc đó tính khác xem sao."
Vua lại hỏi: "Về phần thành Đại La thì sao?"
Liên Tử nói: "Sông Tô Lịch thực là đất hung hiểm, là nghịch long. Cao Biền đã dùng pháp trấn yểm cải biên, nhưng cái pháp ấy là thiên địa nhân làm một. Nay người khác thế vào thì thiên địa bị lệch, nghịch long có cơ hội quấy phá. Nay phải phá pháp cũ, mở pháp mới, làm đăng ngôi mới yên."
Hai người cùng bàn với nhau càng ngày càng hợp, đến tối muộn khi quân lính giục vua mới chịu về. Không ai rõ hôm đó họ bàn gì, phá như thế nào, chỉ thấy tháng sau khi Liên Tử đạo nhân làm lễ ở bờ sông Tô Lịch, sông hoàn nguyên như cũ, dân chúng ai cũng reo hò vui mừng. Còn vua từ đó ăn ngon ngủ yên, triều chính thuận lợi, có hôm mơ thấy rồng từ thành này bay lên, cả mừng, hôm sau hội các quan bàn đổi tên Đại La thành Thăng Long.
Còn về phía Liên Tử đạo nhân, núi Lan Kha không còn bóng dáng, hỏi tiểu đồng, tiểu đồng bảo thầy mình đã cưỡi hạc về trời rồi. Dân chúng xung quanh ai cũng khóc lóc xót thương.
Nhưng chắc chắn ai cũng biết, không biết cụ thể ở đâu Hoa Lư, kiểu gì cũng có một địa lăng bí mật nào đó mà chỉ có người nối ngôi mới biết được chính xác vị trí cụ thể nó ở đâu, trong đấy chứa thứ gì hãi tục. Thậm chí có kẻ đồn đoán là thứ có thể xoay chuyển mệnh cục của một triều đại.