Lời nói đầu
Lời nói đầu
Hư cấu là một đặc điểm cố hữu tồn tại trong đa số các thể loại văn học mà khó có thể tránh khỏi trong quá trình sáng tạo nghệ thuật. Như vậy, trong việc sáng tác các tác phẩm văn học, hư cấu là một quyền cơ bản và tất yếu.
Mà đã hư cấu thì không thể tránh khỏi sự phi thực tại. Do đó, đòi hỏi một tác phẩm hoặc coi đó là một tiêu chi đánh giá, phải giống với thực tế hoàn toàn là một sự phi lý.
Ví dụ về tiểu thuyết khoa học, chuyên môn, chuyên ngành nào đó, nhà văn không nhất định phải tuân thủ một trăm phần trăm sự chính xác về mặt nội dung chuyên môn trong tác phẩm của mình. Có nghĩa là một người làm trong lĩnh vực này không biết một chút gì về lĩnh vực nọ, hoàn toàn có thể sáng tác một tiểu thuyết về lĩnh vực đấy. Tức văn học không coi kiến thức thực tại là một điều kiện tiên quyết buộc phải tác giả nắm vững mới được phép sáng tác.
Bởi đa số tiểu thuyết tranh luận về tính thuyết phục độc giả hơn là tranh luận đúng sai hay có thể kiểm chứng giống như khoa học. Bởi suy cho cùng, văn học là kể về câu chuyện nào đó, câu chuyện kể này có ý nghĩa gì, tư tưởng là gì, thậm chí chỉ cần giải trí là đủ, hoàn toàn dựa vào thị hiếu của người đọc, còn những thứ khác chỉ là phục vụ cho nó thôi.
Vì vậy, không thể đánh giá một tiểu thuyết văn học bằng tiêu chuẩn tài liệu, giáo khoa, báo cáo nghiên cứu khoa học. Tức là, việc nêu ra những điểm hư cấu hoặc chưa đúng về mặt kiến thức chuyên môn không thể coi nó hoặc là viện dẫn để phê bình chất lượng tác phẩm là kém hay tệ, trừ phi ngay từ ban đầu nó tự xác nhận địa vị như vậy.
Tương tự, một tiểu thuyết lịch sử, dù sử dụng chính sử, khảo cổ hay các nghiên cứu lịch sử làm chất liệu và khung bối cảnh cho tác phẩm cũng mình, cũng nên áp dụng thái độ đánh giá công bằng giống như bất kỳ thể loại tiểu thuyết nào.
Vậy nên, không thể yêu cầu một tiểu thuyết lịch sử phải chính xác về mặt lịch sử trừ phi nhà văn muốn vậy. Cũng không thể dùng hàm lượng học thuật của tác phẩm này với tác phẩm kia để chỉ ra điều hơn kém. Thậm chí, kể cả một tác phẩm lịch sử ở có bối cảnh ở niên đại này, và có nhân vật lịch sử kia, nhưng khi xét thấy nhân vật lịch thực tế xuất hiện niên đại khác, dù nó có là sai lầm cơ bản, cũng không thể dùng nó để đánh giá trong trường hợp chi tiết này đang phục vụ mục đích cốt truyện hoặc không mâu thuẫn với tính hợp lý nội tại mà tác phẩm đang xây dựng.
Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa chúng ta có thể hư cấu hoặc tuyên bố hư cấu như là một cách miễn trừ trách nhiệm, đạo đức hay pháp lý.
Mặc dù hư cấu là một tình trạng đặc thù của văn chương, và đồng thời cũng là tự do ngôn luận, nhưng không có bất kỳ quốc gia hiện tại nào phá trần của tự do ngôn luận. Có nghĩa là, sự khác biệt của tự do ngôn luận giữa các quốc gia phụ thuộc vào mức độ trần quy định của mỗi quốc gia. Ngay cả Hoa Kỳ, vẫn có những quy định về kiểm duyệt. Vì vậy, về tự do ngôn luận, chúng ta chỉ có thể xem tự do được bao nhiêu và ở đâu tự do hơn kém, và tự do hơn kém ở những khía cạnh cụ thể nào.
Bởi vì, đại chúng và ngay cả chính nhà văn thường có một cách hiểu rất nôm na về quyền, đó là chúng ta làm những gì mà luật pháp không cấm, hoặc khoác rất nhiều mỹ từ như nghệ thuật, sáng tạo, hay khai phóng để hòng đục khoét cái trần.
Thực tế, trong nguyên tắc lập quyền của luật học, quyền bao giờ cũng đi kèm với hạn. Quyền hạn nên là cách hiểu đúng về mọi quyền mà pháp luật cho phép một công dân của mình có thể làm điều gì đó với điều kiện cụ thể và mức độ, hạn mức, phạm vi, trường hợp cụ thể được pháp luật sở tại quy định. Đây mới là vùng mà pháp luật không cấm. Mà mỗi công dân chấp nhận mình đang mang quốc tịch, đang sống, và mong đổi lại sự bảo hộ các lợi ích hợp pháp từ Nhà nước thì nên chấp nhận tuân thủ, trong đó có sự tuân thủ về quyền hạn.
Quyền hạn có ít nhất ba đặc trưng pháp lý sau đây được coi là hợp pháp.
Thứ nhất, quyền này được thực hiện trong những tình huống không vượt biên mà luật đó đã quy định cụ thể. Thứ hai, thực hiện quyền này không mâu thuẫn với quyền khác mà không có quyền trọng tài,... cho phép (tất nhiên quyền trọng tài tự thân nó cũng phải tuân thủ điều một). Thứ ba, hệ quả quyền này không xâm phạm tới quyền của các khách thể nằm mà vẫn còn hiệu lực dành cho khách thể đó.
Chúng ta cùng phân tích về trường hợp phòng vệ chính đáng.
Một mặt phổ quát, quyền phòng vệ chính đáng là nhằm ngăn chặn một hành vi gây bất lợi cho mình ở mức độ tương ứng. Trong việc ngăn chặn này có thể làm tổn thương người khác. Điều này mâu thuẫn với việc quyền bất khả xâm phạm về thân thể chẳng hạn, cũng như đang có một tổn hại tới khách thể được pháp luật bảo vệ lợi ích mà trong đó sức khoẻ, thân thể là lợi ích chính đáng.
Nhưng nó được coi là hợp pháp, khi bản thân bị người khác đặt vào thế bị tổn thương thân thể đã được quyền phòng vệ chính đáng được quy định, lúc đó; tiếp theo khi người tấn công bạn mà không phải thực hiện một quyền hợp pháp khác hoặc không phải dựa trên một quyền trọng tài, thì quyền bất khả xâm phạm này của người đó bị vô hiệu; vấn đề cuối cùng là mức độ tổn hại bạn gây ra cho khách thể gây ra có phù hợp với định nghĩa về "tương ứng" trong quyền hạn đó hay không, nếu phù hợp, thì đó là hợp pháp, và ngược lại.
Một ví dụ khác, là quyền được bảo mật thông tin, bảo vệ đời tư. Khi cơ quan chức năng thực hiện quyền này nó mâu thuẫn với quyền đó. Nhưng đã có một quyền trọng tài cho phép cơ quan chức năng làm điều đó tronh những điều kiện cụ thể, vì thế, cơ quan chức năng có thể tiến hành xâm phạm tính riêng tư của bạn, tất nhiên, quyền xâm phạm tính riêng tư này bản thân nó cũng đã giới hạn phạm vi và nội dung có thể xâm phạm vào thông tin cá nhân được pháp luật bảo hộ, ngược lại, nếu cơ quan chức năng mà xâm phạm vào nội dung chẳng liên quan tới những gì mà quyền đó cho phép, thì chính phía cơ quan chức năng sẽ rơi vào tình huống thực thi quyền không hợp pháp.
Do đó, dẫu một tác phẩm văn học dựa vào việc hư cấu, hồi ký, hay chỉ đơn giản là góc nhìn của cá nhân tác giả, dẫu cho bản thân tác phẩm ấy là tuyệt mỹ, được khen ngợi, nhưng cũng không phải là kim bài miễn tử cho việc phê bình, chịu trách nhiệm pháp lý ở quốc gia nào đó. Mặt khác, tại quốc gia hay cộng đồng ấy, nếu gây phản ứng tiêu cực cho cộng đồng chiếm đa số dư luận, trưng cầu, luật pháp thì việc chỉ thu hồi, cấm xuất bản, loại nó ra khỏi đời sống văn học là chuyện thường như ở xã, thậm chí trường hợp tệ hơn, tác giả bị truy tố, bị truy tố, bị giam giữ, bị tuyên án tội cũng là chuyện chẳng lạ.
Bởi vậy, sáng tác một tác phẩm tiểu thuyết lịch sử có độ khó cao hơn nhiều so với việc sáng tác tiểu thuyết với thể loại khác. Bởi nhà văn không chỉ phải chịu trách nhiệm cho tính thuyết phục, mà phải đảm bảo chữ nghĩa của mình không làm tổn hại tới cảm tình ký ức cộng đồng, ngoài ra còn phải giải quyết quyết xung đột với chính sử, tư liệu và khảo cổ. Vì chính sử, tư liệu, khảo cổ hay những chính sách, chủ trương của Chính phủ, Nhà nước có thể được luật pháp quốc gia coi là một khách thể được bảo vệ.
Nhiều tác phẩm lịch sử lại rất dễ rơi vào sự xung đột này, ở mức nghiêm trọng, có thể bị xử phạt, thu hồi, truy cứu các tội danh liên quan tới xuyên tạc, bịa đặt, xúc phạm hoặc đi ngược lại các chính sách và chủ trương của nước sở tại.
Nhưng đồng thời nhà văn vẫn phải đảm bảo được nghệ thuật, không khô khan máy móc, tránh để người đọc đọc một tác phẩm nghệ thuật như thể chỉ là chép lại, lược biên từ sách giáo khoa mà ra.
Ngoài ra, nhà văn viết tiểu thuyết lịch sử có khi thời gian phần lớn của họ thay vì nghiên cứu cốt truyện, đầu tư nhân vật, chau truốt văn từ, thì họ phải canh me nội dung sử liệu trong tác phẩm của mình có chuẩn hay không, để tránh bị những nhà "sử học" chăm chăm bắt lỗi sử liệu của một văn bản chứa yếu tố lịch sử đã xác định địa hạt của mình tiểu thuyết văn chương, dù điều đó rất bất công.
Vì ngay cả một nhà sử học hàng chục năm ăn nằm với lịch sử, đọc hàng trăm cuốn sách cổ kim, công trình công nghiên cứu dày hàng ngàn trang, tạp chí đầy trên kệ sách, và với những tư liệu quý hiếm mà phần đông khó tiếp cận, cũng chưa dám nhận mình đã thông sử tuyệt đối chính xác.
Thường thì, để nhà văn sách tác tiểu thuyết đối phó những thử thách trên, ngay kể cả những nhà văn đã dụng công dành thời gian nghiên cứu lịch sử, cũng phải làm, đó là tận dụng khoảng trống lịch sử làm nơi phát huy tính sáng tạo, hư cấu, nghệ thuật và giả tưởng của mình mà không cần tranh chấp với chính sử, tư liệu hay khảo cổ văn vật.
Lúc này nhà văn thường chỉ bị đánh giá ở mức độ, những gì mà khoảng trống được nhà văn lấp đầy có độ khả tín, khả năng xảy ra là bao nhiêu, cũng như có xung đột, xâm phạm với cảm tình ký ức cộng đồng, lẫn chính sách và chủ trương của chính phủ về nhân vật lịch sử đó hay không.
Nhà văn có thể hư cấu nội tâm của một nhân vật lịch sử, nhưng nếu làm sai lệch hình tượng chung của cộng đồng, hoặc đi ngược lại những gì được chính phủ, tư pháp bảo hộ nhân vật lịch sử, rất có thể thứ họ đối đấu không phải là sử liệu, mà là họ đang xâm phạm một khách thể thực tế, là con người và ý nghĩa tinh thần, thậm chí là cả văn hoá, tôn giáo mà nhân vật lịch sử ấy mang lại.
Chính vì thế, việc những nhà "sử học" chăm chăm đánh giá sử liệu của một tiểu thuyết lịch sử không nhất thiết đang cố phá hoại, hạ thấp một tác phẩm văn học, mà là họ đang gặp phải sự nhạy cảm về mặt kiến thức có thể khiến độc giả chưa được nằm tường biết tận về lịch sử có thể bị trộn lẫn giữa hiện thực và hư cấu, giữa lịch sử được thừa nhận rộng rãi, có bằng chứng khảo cổ và tưởng tượng của tác giả. Thực tế, có những lý do sự nhạy cảm của họ là chính đáng chứ không nhất định do tâm lý thượng đẳng hoặc cảm giác khai ngộ cho người khác, hoặc coi độc giả là trẻ con, mà là thực tế có những tác phẩm hư cấu viết y như thật.
Chẳng hạn, những ý tưởng hư cấu của khoa học viễn tưởng thế kỉ trước, phần lớn ở thế kỷ này thành hiện thực đến nỗi người ta còn coi họ như là một nhà tiên tri sống hoặc người tới từ tương lai quay về quá khứ.
Còn đối với tiểu thuyết lịch sử, chúng ta có một cái tên kinh điển là Tam Quốc Diễn Nghĩa của La Quán Trung, nhiều người vẫn còn cho rằng đây là chính sử dù các giới thiệu chính thức luôn nhấn mạnh đây là văn chương bảy phần thực, ba phần hư, thậm chí nhiều hiện tượng hư cấu cũng là thật sự đã diễn ra trong lịch sử, chỉ vì tác giả viết quá hay, chứa được quá nhiều triết tưởng sâu sắc.
Ở thời Tam Quốc Diễn Nghĩa, người ta chỉ quan tâm ngôn từ có mỹ hay không, có nén được ý hay không, có phạm gì triều đình hay không, còn lại, không ai quan tâm, và dân chúng đa phần không biết chữ nghĩa để đọc được tư liệu chính xác. Thế nên chuyện lẫn lộn là thường tình. Vậy mà độc giả hiện đại vẫn còn mắc phải.
Thế thì đối với một nhà văn sáng tác tiểu thuyết lịch sử khó tránh khỏi trách nhiệm phải thông báo với độc giả về những gì mình sắp làm tới đây về tác phẩm của mình mà sử dụng chính sử, khảo cổ làm chất liệu biến tấu.
Và vì, chúng ta có nhiều trường phái tiểu thuyết lịch sử khác nhau như dã sử sử ký, dã sử dân gian, xuyên không, giả tưởng, kỳ ảo, huyền sử, tái dựng, phục hiện, khảo cổ,... việc minh định chính xác bản thân tác phẩm của mình là kiểu tiểu thuyết lịch sử nào nhằm cung cấp nhanh và khái quát về mức độ hư cấu và diễn giải cá nhân trong môi trưởng lịch sử mà tác phẩm đang cung cấp cho độc giả được tường minh cũng rất quan trọng.
Có nghĩa là, nhà văn viết tiểu thuyết lịch sử phải chấp nhận phải bị chất vấn về tình hợp lý nội tại, hoặc cấu phần tạo thành sự hư cấu hay diễn giải, và nên phù hợp với tiêu chuẩn cộng đồng và pháp luật sở tại tránh những hệ quả khó lường. Chứ không thể nguỵ biện bằng cách im lặng hay dùng khoảng trống lịch sử để làm chiêu bài bất khả tư nghị. Khi đó, nếu các nhà sử học vẫn muốn đối đầu, cộng đồng vẫn lăn tăn về mặt sử liệu, thì có lẽ ta phải đi sâu vào động cơ cá nhân sâu xa hơn là động cơ bảo vệ tri thức đơn thuần. Vì nhà văn ở tiểu thuyết lịch sử đang tranh luận về tính khả thi, chứ không phải tính đúng sai như khoa học.
Từ những điểm trên, bằng tất cả sự khiêm tốn, tác phẩm Nàng tại núi Lĩnh Nam không cố gắng trở thành huyền thoại như Tam Quốc Diễn Nghĩa, hay một áng tiểu thuyết lịch sử xuất sắc hoặc đã qua một quá trình nghiên cứu, biên tập các tài liệu lịch sử được thừa nhận rộng rãi một cách công phủ, mà xác định cố gắng tránh biến những nhân vật của tác phẩm giống như một người hiện đại khoác tấm áo cổ trang, tạo cho người đọc có được cảm giác không khí thời đại mà tác phẩm lấy làm bối cảnh, với sự bảo đảm cơ bản về sử liệu phổ thông và mắc phải sai sót ít nhất có thể trong năng lực kiến thức về lịch sử của bản thân.
Do đó, tác phẩm này trước hết xác định mình không phải là tư liệu sử học và mong độc giả tuyệt đối coi đây là sự thật lịch sử, nó cũng không thể đại diện hoặc một luồng quan điểm của sử học đương thời. Mọi sự sáng tạo trong đây nên coi là hư cấu, quan điểm và giả thuyết riêng của tác giả, thậm chí, có thể tranh luận về những gì được nêu trong đây vì tác phẩm cố đi theo hướng tường minh biện chứng, chứ không phải lối mơ hồ ẩn dụ thiếu trách nhiệm trong việc thể hiện tư tưởng chung.
Về thể loại, Nàng tại núi Lĩnh Nam là tác phẩm mượn sử để chuyện, ba thực bảy hư, là một tác phẩm tiểu thuyết lịch sử tân phái diễn nghĩa theo văn phong giả cổ tương đối, mang hình thức chương hồi và tự sự Á Đông, chứa đựng một số yếu tố huyền sử, kỳ ảo, triết luận, võ hiệp, với khung biên niên của Đại Việt Sử Ký Toàn Thư của Nội quan khắc bản, đã được dịch sang chữ Quốc Ngữ do Nhà xuất bản Khoa học và xã hội năm 1971 - 1972. Mặc dù vậy, do yếu tố văn học và cốt truyện, một số chỗ (không nhiều) sẽ được được biên tập lại về trình tự thời gian.
Tuy tác phầm hư cấu làm nội dung chính, nhưng hư cấu và sáng tác dựa trên bốn trụ cột chính.
Thứ nhất, tác giả tôn trọng những sự kiện đã được ghi chép trong chính sử và dù đi thế nào đi nữa, lịch sử không thể viết lại.
Thứ hai, tái hiện nhân vật lịch sử dựa trên diễn giải tâm lý (không chỉ nội tâm), địa vị, nét phác tính cách được nêu trong chính sử, tuy nhiên rất có thể xung đột với hình tượng quen thuộc, nếu có, xin được hiểu rằng, ở đây không có ý xúc phạm hay tái diễn lại nhận vật lịch sử.
Thứ ba, các nhân vật hư cấu trong tác nếu có và liên quan tới việc tác động vào dòng và sự kiện lịch, chỉ như là những yếu tố tham gia góp phần vào, chứ không quyết định trực tiếp hay nguyên nhân chính dẫn đến những điều đó.
Thứ tư, có mượn một số nội dung phi lịch sử và liên văn bản (mang tính đại chúng, dễ nhận diện, tra cứu) nhưng lại hợp được cho vào phát ngôn của nhân vật hoặc thay giúp lời tác giả với trích lượng hợp lý, và xin mong độc giả không cho là đạo nhái, ăn cắp, mạo nhận. Riêng phần này, sau khi hoàn thiện đầy đủ, sẽ rà soát và biên tập riêng một phần ghi chú sau.
Còn về nội dung của tác phẩm, xin phép mời đọc hồi sau sẽ rõ, nhưng đại khái về tổng thể, dự kiến tác phẩm sẽ được chia thành năm quyển, trong đó có ba quyển chắc chắn sẽ được tác giả hoàn thành bao gồm:
Quyển I. Biên niên ký chính thư minh thị. Dân gian khai khẩu ám ngôn truyền.
Quyển II. Lũng Nhai Sơn khai thiên sử sách. Nữ võ nam văn lưỡng chiến trường.
Quyển III. Trung quân ái quốc nan luận giải. Nhân tình thế thái bất tương phân.
Và hai quyển sau tạm xin bỏ ngỏ:
Quyển IV. Tam cố hồng trần tam khả độ. Tam Đồ nguyên phát ái mộ sầu.
Quyển V. Cáo chung bí mật uyên ương tán. Hoàng tuyền mộng mị hoá hư không.
Xin chân thành cám ơn!