Chương 1: Mùa nắng...
Cảnh báo: Truyện lấy cảm hứng từ sự kiện lịch sử 81 ngày đêm bảo vệ Thành cổ Quảng Trị. Mọi diễn biến, bối cảnh, nhân vật và sự kiện đều là giả tưởng, không có giá trị tham khảo. Xin cảm ơn.
Năm 1972, mùa hè đến sớm hơn mọi năm...
Từ những ngày đầu tháng Năm, những làn gió nóng đã thổi qua cánh đồng, đem theo mùi rơm rạ khô và mùi đất mới. Khi buổi trưa đến, con đường làng trở nên vắng hoe. Lũ trẻ con cũng chẳng dám ở ngoài lâu, bởi người lớn trong nhà luôn dặn phải để ý tiếng máy bay trên trời. Hễ nghe thấy tiếng động cơ, mọi người liền bỏ dở công việc, vội tìm chỗ trú. Chẳng biết từ bao giờ, chiến tranh đã là một phần của cuộc sống, đến mức không ai còn nhớ nó đã bắt đầu từ bao giờ.
Những cụ già vẫn thường kể chuyện những ngày trước đó, khi làng quê vẫn yên bình, lúc mà mỗi khi chiều tà mọi người vẫn thường ngồi bên hiên nhà, nghe tiếng gà gọi nhau về chuồng. Những với lớp trẻ sau đó, sự yên bình ấy chỉ còn tồn tại trong lời kể ngày xửa ngày xưa. Cô Hạnh lặng lẽ đứng bên cửa lớp, nhìn tụi học trò nhỏ đang cặm cụi viết bài.
Căn phòng học nhỏ nép mình dưới những hàng cây xanh mướt. Mái tranh được gia cố bằng những thanh tre, phía dưới là chiếc cũ kĩ. Một vài chỗ trên vách tường còn hằn những vết rạn nứt in dấu những lần bom dội xuống khu vực gần trường làng từ tháng trước. Hạnh nhìn ra bên ngoài, bầu trời hôm nay trong xanh và mát mẻ đến lạ thường, đẹp đến mức người ta quên mất rằng chỉ vài phút nữa thôi, mọi thứ có thể thay đổi.
"Các em đã làm xong bài chưa?"
Mấy đứa trẻ đồng thanh:
"Dạ rồi ạ!"
"Đâu đưa cô xem nào."
Một cậu bé kháu khỉnh ngồi bàn đầu ôm quyển vở chạy lên.
"Cô Hạnh, em viết thế này đã đủ đẹp chưa cô?"
Hạnh dịu dàng nhận lấy quyển vở, nghiêng đầu nhìn những dòng chữ xiêu vẹo của cậu học trò nhỏ rồi mỉm cười.
"Đẹp hơn hôm qua rồi này."
Cậu bé hí hửng nhận lại quyển vở, ngước nhìn cô giáo.
"Sau này, em cũng sẽ làm một thầy giáo như cô."
Cả lớp đang yên ắng, bỗng chốc bật cười. Hạnh cũng cười, xoa xoa hai chiếc má luôn ửng đỏ của cậu bé.
"Thế thì em phải học thật giỏi đó, rõ chưa?"
Cậu bé vui vẻ cười, gật đầu rất nghiêm túc, rồi ngoan ngoãn quay trở về chỗ ngồi. Hạnh quay lại bảng, cầm phấn viết nốt những dòng cuối của bài học lên chiếc bảng đen. Ngoài sân, một cơn gió lướt qua làm lay động những chiếc lá. Tiếng chim vẫn hót, tiếng trẻ con vẫn ê a đọc bài, tiếng bước chân chậm rãi của ai đó ở ngoài hành lang. Hôm nay, là một buổi sáng bình thường đến mức Hạnh nghĩ, giá mà cuộc đời cứ bình thường thế này thì tốt biết bao. Nhưng cái bình thường ấy chẳng tồn tại được bao lâu, một tiếng động cơ vọng lại từ phía xa, tuy rất nhỏ nhưng những đứa trẻ đang cười đùa bỗng chốc im bặt. Hạnh đặt viên phấn xuống, giọng nói đầu khẩn trương.
"Các em, mau xuống hầm!"
Bọn trẻ nhanh nhẹn chạy xuống hầm, không một lời thắc mắc, bởi chúng đã quá quen với việc phải chạy xuống những căn hầm đất bên cạnh lớp học. Chúng nối đuôi nhau đi thật nhanh, Hạnh đứng cuối cùng, vừa lặng lẽ đến số học sinh vừa khẽ liếc nhìn lên bầu trời. Tiếng động cơ lớn dần, một chiếc máy bay lướt qua thì phía xa, bỗng có tiếng bom vọng lại, rồi mặt đất rung chuyển dữ dội. Hạnh cúi xuống, che đầu cho một bé gái đang run lên vì hoảng sợ.
"Không sao hết, có cô ở đây rồi" Nhưng trong lúc ấy, chính bàn tay của Hạnh cũng đang run lên...
Buổi chiều, nắng đã khuất sau những bụi tre, bầu trời ngả vàng không còn tiếng động cơ máy bay. Hạnh trở về nhà, mẹ cô đang ngồi bên hiên nhặt rau.
"Về rồi đấy à con."
"Dạ, con về rồi mẹ."
Hạnh đặt chiếc túi xuống, mẹ vào nhà lấy cho cô một cốc nước chanh đường, mẹ nhìn con gái một lúc lâu rồi khẽ hỏi.
"Hôm nay có tin gì không con?"
Hạnh hiểu bà đang muốn nói gì. Cô lắc đầu, cầm cốc uống một ngụm nước, thứ nước chanh chua chua ngọt ngọt đã đánh bay đi cái nóng oi bức.
"Chưa mẹ ạ."
Mẹ cúi xuống nhặt tiếp mớ rau muống, Hạnh lặng lẽ nhìn ra ngoài ngõ. Lặng yên và ảm đạm. Trong nhà có một chiếc đài nhỏ, buổi tối cả nhà hay quây quần bên nhau nghe tin tức. Nhưng mỗi khi nhắc tới hai từ "chiến trường", mẹ đều lặng im. Bởi ở đâu đó bên ngoài kia, cũng có một chàng trai mà bà tận mắt chứng kiến cậu ấy lớn lên từng ngày, từ khi chỉ còn là một cậu bé cởi chuồng tắm mưa đến khi trở thành một chàng trai mạnh mẽ, điển trai. Đó không ai khác, chính là Thành. Hạnh và Thành cùng quê, nhà anh cách nhà cô một con ngõ. Ngày nhỏ, hai đứa vẫn thường cùng nhau chơi đùa khắp xóm, thường đi học mỗi sáng cùng nhau. Thành chỉ lớn hơn Hạnh một tuổi, nhưng lúc nào cũng đi nhanh hơn Hạnh cả một đoạn.
"Hạnh, đi nhanh lên coi."
"Này, Thành có biết chờ người ta không thế?"
"Thì vẫn chờ đây thây, ai bảo cậu lúc nào cũng đi chậm như con rùa thế."
Hay hạnh họe nhau là vậy nhưng Thành vẫn thường hay đứng ở giữa con ngõ rồi đợi cô bạn. Đến khi Hạnh chạy tới, anh lại giả vờ khó chịu ra mặt.
"Lần sau tự đi đấy nhé."
Nhưng hôm sau, anh vẫn đứng đó chờ cô. Những ngày tháng đó đơn giản đến nỗi chẳng ai nghĩ mình sẽ nhớ nó suốt đời. Cho đến ngày, Thành lên đường nhập ngũ, bầu trời ngày hôm đó còn đẹp hơn hôm nay. Hạnh lặng người đứng bên cổng làng, nhìn anh khuất sau những hàng cây. Anh mặc bộ quân phục còn mới, trên vai khoác chiếc ba lô. Mẹ Thành đứng bên cạnh, mắt bà đỏ hoe nhưng lạ thay chẳng có giọt nước mắt nào chảy xuống. Hạnh không biết nói gì, chỉ biết lặng lẽ nhìn cậu bạn như muốn khắc ghi khuôn mặt ấy vào trong tim.
"Bao giờ cậu về?"
Thành mỉm cười đầy tinh nghịch nhưng cô biết, trong mắt anh hiện lên nỗi xót xa và đượm buồn.
"Bao giờ đánh xong thì về."
"Có lâu không?"
"Chắc chả lâu đâu, có tớ ở đó, tớ sẽ đánh tan xác bọn giặc thù ấy."
"Cậu hứa nhé."
Thành nhìn cô, quả thực cô đã thay đổi rất nhiều. Không phải là con bé tóc ngắn ngang vai, cùng với chiếc mái bằng luôn che kín vầng trán. Giờ đây, trước mặt anh là Hạnh với đôi mắt bồ câu, mái tóc dài thắt bím, vầng trán trắng nõn được khoe ra. Trong một khoảnh khắc, nụ cười trên môi anh dịu xuống.
"Ừ, tớ hứa."
Nói rồi, Thành quay bước đi, Hạnh đứng nhìn theo bóng lưng vững trãi ấy. Cô không biết đó chính là lần cuối cùng cô nhìn thấy Thành của tuổi hai mươi - một chàng trai to xác nhưng còn nguyên vẻ ngây ngô, một thoáng mơ hồ và hoảng loạn, chẳng biết chiến tranh sẽ lấy của anh những gì.
Thành lên chiếc xe quân đội đã được chuẩn bị sẵn, anh cùng hai người bạn cùng quê là Huy và Long cùng nhau lên đường di chuyển đến Quảng Bình tập kết, tại Bố Trạch; Lệ Thủy anh và hai người bạn đã gặp được những con người có cùng chí hướng như Nghĩa, một chàng trai học Bách Khoa vừa tròn mười tám tuổi; anh Hưng, một nhà văn giàu sức sống; đặc biệt hơn khi họ đã gặp được một cặp song sinh tài giỏi là Bình và Thuận, một người là nhạc sĩ và một người là kĩ sư,... Họ đều là những người trẻ, vì quê hương, vì Tổ Quốc mà sẵn sàng từ bỏ ước mơ để cầm cây súng. Ở nơi đây, mọi người được huấn luận cấp tốc và chuẩn bị quân trang, họ được học nhiều cách ứng phó trong các tình huống nguy hiểm có thể gặp phải trên chiến trường, đồng thời được rèn luyện sức khỏe, sức bền bằng những bài tập nâng cao và vô cùng nặng nhọc. Tuy những bước đầu đã vô cùng khó khăn nhưng anh em trong đội luôn cổ vũ động viên nhau cố gắng hơn từng ngày để dành lại hào bình và độc lập cho dân tộc. Một tuần sau, họ lên đường "vượt tuyến lửa", xẻ dọc dãy Trường Sơn sừng sững giữa đất trời, đi qua đường 1A tại Vĩnh Ninh, vượt vĩ tuyến mười bảy, tiến quân qua Gio Linh, Cam Lộ và nhận vũ khí tại khu vực Ái Tử. Đường đi dài, đầy chông gai nhưng những người lính trẻ tuổi vẫn luôn hừng hực ngọn lửa căm hận quân thù, họ lấy sự căm phẫn đó làm ngọn hải đăng chỉ đường, là ngọn lửa nhiệt huyết ngày đêm luôn bừng cháy, đi không biết mệt, mỏi không bao giờ kêu, họ động viên nhau mỗi ngày.
Đến Quảng Trị, họ tiếp tục tiếp cận và hành quân đêm ra bến đò Triệu Long bên bờ sông Thạch Hãn. Phía bên kia con sông là những đốm lửa cháy bừng sáng rực do quân Mỹ ném bom, Thành và đồng đội buộc phải bơi qua sông để đến bờ phía bên kia tiếp viện. Trong trời đêm đen kịt không trăng không sao, trên đầu lúc lúc lại có tiếng động cơ máy bay, bom rơi đạn nổ rực sáng, tại bờ sông phía Bắc , tất cả các anh đã tập hợp lại để chuẩn bị vượt sang bờ Nam phía bên kia dòng sông bắt đầu tham gia vào cuộc chiến khốc liệt tại Thành cổ Quảng Trị. Bờ sông phía Bắc, từng tốp người đang tập trung lại, trong đó có sinh viên Bách Khoa đến nhạc sĩ, nhà văn hay kĩ sư. Tất cả các anh dường như đang mang trong mình một hoài bão, một ước mơ và một sự trăn trở riêng khi chuẩn bị bơi qua dòng sông ấy nhưng khó khăn và nỗi sợ có hề gì khi khát vọng mãnh liệt nhất trong tim họ lúc ấy vẫn là khát vọng được hòa bình, khát vọng được tự do. Chính nó đã tiếp thêm sức mạnh và sự can đảm cho các anh trên con đường bảo vệ quê hương. Dòng sông Thạch Hãn đêm nay bỗng phẳng lặng đến vô thực nhưng khi mặt trời dần ló rạng, sông Thạch Hãn biến thành một trận địa mịt mù. Đêm nay, Thành và đồng đội buộc phải bơi qua sông để đến bờ Nam phía bên kia, nơi chiến trường rực lửa. Anh Hưng, người anh lớn nhất trong đội xung phong đi trước, anh quay lại nhìn mọi người bằng ánh mắt kiên định.
"Các anh em hãy gắng sức, vì người thân của chúng ta và vì Tổ Quốc."
Nói xong, anh nhìn vào mắt từng người đồng đội một rồi nhảy xuống. Tiếp sau anh Hưng lần lượt là Thành và những đồng đội khác, bơi qua sông giữa trời đêm đen kịt, dòng nước lành lạnh bao phủ cơ thể, trên trời máy bay giặc Mỹ thả bom liên tục xuống lòng sông, nơi các chiến sĩ đang cố hết sức bám trụ để qua bờ Nam. Đêm nay thật dài, từng tốp chiến sĩ ôm phao lặng lẽ qua sông, dưới làn đạn pháo đang bám đuổi, mặt nước bị càn quấy bởi đạn, pháo cối. Khói nước bốc lên nghi ngút giữa không gian mênh mông rộng lớn, tĩnh lặng đến rợn người. Khung cảnh này được coi là một bức tranh đan xen giữa sự tàn phá hủy diệt của máy móc hiện đại và sức mạnh kiên cường đến kinh ngạc của con người. Họ đều cố gắng hết nhưng dưới làn mưa bom đạn nổ của địch, các anh, người thì trúng đạn không qua khỏi, người thì bị thương không đủ khả năng để bơi qua. Dòng sông đêm nay, nhuộm đỏ bởi màu máu của các anh, Thành nhìn những người đồng đôi mà trong lòng xót xa vô cùng, mới vài giờ trước còn nói cười với nhau hẹn ngày chiến thắng mà giờ đây đã nằm lại nơi này mãi mãi...
Bơi qua sông, bờ Nam là một chiến trường ác liệt. Nơi mỗi ngày đều sống trong những làn mưa đạn, đầy khó khăn và nguy hiểm nhưng ở đây, họ sống với nhau như một gia đình. Ngoài những giờ chiến đấu cực nhọc, tinh thần tập trung toàn phần thì khi nghỉ ngơi, anh em lại cùng nhau đàn hát, có người viết thư gửi về hậu phương, có người lại viết thơ cổ vũ lòng người lính. Cuộc sống chỉ xoay quanh việc chiến đấu, mọi sinh hoạt của người lính đều rút xuống lòng đất, những căn hầm A, hầm ếch chật hẹp, tối om và ẩm thấp. Đây vừa là nơi ở, nơi sinh hoạt, nơi trú ẩn và họp chi bộ, nơi chữa trị cho thương binh và cất giữ những nắm cơm chấm muối, lọ nước mắm hiếm hoi được tiếp tế qua sông. Trên đầu, tiếng pháo rít gầm rú không ngừng, đất ở trên hầm sụt xuống rơi vào bát cơm nhưng họ vẫn phải ăn, vẫn phải cố nuốt vì chỉ có vậy mới có sức lực để chiến đấu. Một hôm, sau khi căng thẳng chiến đấu với quân địch, họ ngồi lại với nhau trong căn hầm trú ẩn, anh Hưng nhìn Bình một hồi lâu.
"Bình, mày đàn một bài đi cho anh em đỡ căng thẳng."
Bình cười, hí hửng lôi cây đàn guitar mà cậu coi như báu vật ra. Cậu vừa đánh đàn, vừa cất giọng hát.
"Ngày nào năm xưa/ chàng đi ra nơi miền biên thùy.
Vì quê hương/ dù mấy khó nguy cũng không lùi."
Chất giọng ấm áp của chàng trai trẻ khiến lòng người bỗng xao động, nhân lúc nghỉ ngơi Thành viết thư cho mẹ và cho Hạnh ở quê nhà. Anh kể về cuộc sống thường ngày, về những người đồng đội nhưng tuyệt nhiên không dám kể về các trận chiến, anh sợ mọi người lo. Cuối thư, anh viết "Tớ sẽ về, Hạnh và mẹ hãy yên tâm nhé, thời gian này mong Hạnh chăm sóc mẹ hộ tớ. Thương nhớ Hạnh, Thành." Những tuần sau đó, chiến dịch 81 ngày đêm mùa hè đỏ lửa năm 1972 ngày càng trở nên khốc liệt, các chiến sĩ phải tham gia chiến đấu gần trăm trận, giữ vững trận địa chốt đầy máu lửa như nhà thờ Tri Bưu, ngã ba Long Hưng, trường Bồ Đề..., phá tan âm mưu của lính ngụy cắm cờ giả thành cổ nhằm đánh lừa dư luận quốc tế. Suốt chiến dịch, những loạt bom B52, bom tọa độ từ máy bay A37, T28 của địch thả xuống, nổ inh tai nhức óc, bộ đội ta vì thế mà hy sinh rất nhiều nhưng những người còn lại vẫn cố gắng cầm chắc cây súng. Thành cũng như bao người chiến sĩ khác, đều bận rộn, mỗi ngày đều đối mặt với hiểm nguy.
Năm tháng sau đó, trôi qua bằng những lá thư Thành viết vội. Thư gửi về không nhiều, có những lúc vài tháng mới nhận được một lần, anh kể những chuyện rất nhỏ, rằng anh vẫn khỏe, rằng anh có đồng đội quê ở Nam Định, người quê ở Thái Bình, có người ở tận trong Nghệ An, rằng đêm ở đơn vị thường rất lạnh. Anh không đề cập đến chiến đấu, mà Hạnh cũng chỉ muốn biết rằng anh vẫn còn sống. Sau mỗi lá thư, Hạnh nâng niu cất lại vào một chiếc hộp gỗ nhỏ, càng về những tháng sau này, thư ngày càng thưa thớt, một khoảng thời gian còn không có thư, không có tin tức gì. Hạnh không biết mình đã bao lần đi qua nhà Thành chỉ để nhìn cánh cửa đóng im lìm, mẹ anh vẫn chờ, bà không bao giờ để lộ vẻ lo lắng nhưng mỗi lần có thư anh gửi về, bước chân bà đều nhanh hơn một chút. Hạnh hiểu cảm giác ấy, con người sống trong chiến tranh không dám nghĩ quá xa, chỉ dám mong người mình thương hôm nay vẫn còn sống.
Đầu tháng Sáu năm 1972, tin tức từ chiến trường Quảng Trị ngày dồn dập hơn. Những cuộc trò chuyện trong làng cũng nhiều lần nhắc đến mảnh đất xa xôi ấy, Quảng Trị, cái tên nghe vừa xa lạ vừa đau thương. Hạnh không biết Thành còn ở đó hay không, cô chỉ biết chiến tranh đang ngày càng tiến gần đến một nơi nào đó mà mình chưa từng đặt chân tới. Một buổi chiều sau giờ dạy, Hạnh được gọi lên ủy ban. Ở đó có vài cán bộ và một số người đang chuẩn bị danh sách cho đoàn phục vụ hậu cần. Một người phụ trách nhìn cô.
"Đồng chí Hạnh"
"Dạ."
"Đồng chí có tình nguyện đi Quảng Trị không?"
Hạnh sững lại một nhịp.
"Quảng Trị."
"Đúng vậy."
"Đi bao lâu ạ."
Người kia bỗng im lặng một thoáng, trong mắt hiện lên một nỗi lo.
"Chưa biết."
Hạnh nhìn xuống đôi bàn tay mình, cô nghĩ tới đám trẻ trong lớp, nghĩ đến mẹ cô, mẹ anh Thành. Rồi chẳng hiểu vì sao, hình ảnh của Thành bỗng hiện lên. Một cậu bé đứng giữa con đường làng, một chàng trai khoác ba lô ngày nhập ngũ, một người đã rất lâu rồi không trở về. Hạnh ngẩng đầu nhìn người phụ trách.
"Em đi."
Người cán bộ nhìn cô gái trẻ trước mặt.
"Đồng chí đã thực sự suy nghĩ kĩ chưa?"
"Rồi ạ."
Cô trả lời rất khẽ, trong giọng nói là sự khẳng định, quyết tâm và không hề run sợ.
"Em sẽ đi."
Đêm hôm ấy, Hạnh không ngủ, cô ngồi bên cửa sổ, lặng lẽ nghe tiếng mưa rả rích ngoài vườn. Mẹ đã ngủ rồi, căn nhà chìm trong bóng tối, trên bàn đặt chiếc hộp gỗ nhỏ. Hạnh mở nó ra, những lá thư cũ vẫn nằm ngay ngắn bên trong, một vài lá đã ngả màu, có chữ đã nhòe đi một vài chỗ. Cô lấy lá thư cuối cùng ra đọc, chỉ vài dòng ngắn ngủi viết vội. Thành kể rằng đơn vị anh đang hành quân về phía Nam, anh bảo mọi người vẫn khỏe, anh bảo cô phải chăm lo cho sức khỏe. Cuối thư, anh viết "Bao giờ có dịp, tớ sẽ về." Hạnh đã nhìn câu ấy rất lâu, rồi gấp lá thư lại. Ngoài trời, gió bắt đầu thổi, một tiếng máy bay từ xa vọng lại. Hạnh đứng dậy, khép cửa sổ, ngăn lòng mình không được suy nghĩ thêm gì nữa. Cô không biết rằng chỉ vài tuần nữa thôi, cô sẽ đứng giữa một vùng đất mà bom đạn đã biến những con đường thành hố sâu, những ngôi nhà thành đống đổ nát. Cô cũng không biết rằng ở nơi ấy, giữa mùa hè khốc liệt nhất của năm 1972, cô sẽ gặp lại người con trai đã bước ra khỏi tuổi thơ của mình từ rất lâu. Và càng không biết, cuộc gặp ấy sẽ trở thành cuộc gặp cuối cùng của họ.
Nhưng đêm đó, Hạnh chỉ nghĩ một điều, nếu Thành ở Quảng Trị thì có lẽ cô sẽ tìm được anh. Dẫu cho có phải đi qua bao nhiêu con đường, dẫu cho phía trước là chiến tranh.