Đọc to (tiếng Việt) Nhấn phát để bắt đầu
Một đốt ngón tay

11. Nỗi lòng cha mẹ

Bông hoa màu đỏ rực rỡ nở trên ngực áo của một cô bé xa lạ. Trên gấu quần của cô bé có một dây lá xanh nho nhỏ. Nhìn kỹ thì tựa như có một cây hoa nhỏ lén lút quấn quanh cô bé, điểm xuyết lên bộ quần áo. Thục nhanh chóng nhận ra đó là những bông hoa do chính tay mình thêu lên trong suốt mấy đêm nọ.

Cô bé này trông có vẻ nhỏ hơn Thục vài tuổi, có thể phải đến năm hay sáu tuổi. Thục nhớ khoảng hai năm trước, khi mình vẫn còn mặc vừa cái áo này, nàng cũng không gầy đến thế. Nàng vẫn luôn rất mảnh mai nhưng so với cô bé này, cơ thể nàng có thể nói là có da có thịt. Thục chưa từng thấy chính mình luồn vào bộ quần áo này mà khiến nó rộng ra và chênh lệch nhiều đến thế. Từ nơi tay áo được xắn lên, một cổ tay gầy mảnh lộ ra, trông như một đoạn cành khô đen nhẻm và khẳng khiu từng lớn lên trong bóng tối. Nút áo trên cùng để mở, cổ và xương đòn nhô lên rất rõ, đến độ Thục đã hơi thắc mắc rằng bên dưới lớp da này có thịt không.

Bộ quần áo này có kiểu dáng bình thường nhưng cũng được làm từ vải tốt, Thục chỉ xếp vào đáy tủ bởi vì nàng đã cao lên, quần và ống tay hơi cộc. Cô bé kia thì dường như có thể mặc bộ đồ đó trong vài năm nữa.

Con bé bưng theo một cái nong nhỏ đựng mấy thứ kẹo lạc, kẹo vừng và đi rao. Thân mình nó xiêu xiêu vẹo vẹo để chống cái nong ở eo. Mái tóc chẻ ngọn hoe hoe ngả màu vì hong nắng. Đôi mắt nhỏ nhìn quanh.

Thục tò mò lặng lẽ đi theo con bé, một phần vì lo rằng con bé sẽ nhận ra mình là em gái Hảo, người có lẽ đã tặng nó bộ đồ, một phần là sợ nó nghĩ mình là khách mà nhảy vào chèo kéo.

“Ai kẹo vừng, kẹo dồi, kẹo lạc, bánh quế không?”

Cái nong được che lại bằng một cái nón. Con bé nghiêng người mang cái nong mà đi. Có lúc nó đội cái nong lên đầu rồi lại như sợ ánh mặt trời trên cao sẽ làm chảy mất kẹo mà vội vàng hạ xuống, cắp ở bên hông. Nó vừa đi vừa rao câu được câu mất.

Nàng cứ đi cách nó một đoạn xa, trong tay là một cuốn sách, đôi lúc lơ đãng nhìn xuống nhưng thực ra lại chẳng đọc được chữ nào. Những đứa trẻ trên đường vượt qua con bé bán kẹo, lại vượt qua Thục. Chúng như những bóng ma đầy sức sống. Gầy như que củi nhưng lại dẻo dai chạy mãi chẳng dừng.

Thục nắm chặt cuốn sách trong tay.

Chợt một con bé khác chạy lại, đi về phía con bé mặc quần áo cũ của Thục. Giờ thì có hai cô bé cùng mặc áo thêu bông hoa đỏ trước ngực. Con bé này cũng cắp một cái thúng bên hông làm dáng đi lệch cả đi. Nó trông còn nhỏ hơn con bé trước, mặc bộ quần áo của Thục chắc hồi nàng mới khoảng mười một, mười hai.

“Chị ơi, về thôi.”

Đứa thứ hai gọi, cô bé đầu tiên đáp lời.

“Ừ, thôi về đi.”

Hai đứa mướt mải mồ hôi, vệt mồ hôi thấm sau lưng áo khiến sắc vải đậm màu hơn.

Có bao nhiêu cô bé vẹo hông cắp thúng trong cái thành thị này đang mặc áo thêu hoa đỏ nhỉ.

Thục cất cuốn sách vào túi, rẽ vào lối khác và trở về.

Nàng muốn gặp Hảo, hỏi vài câu, thế nhưng vừa bước chân đến đầu đường thì lại gặp bà giáo Thỉnh đang đi về từ tiệm may.

“Mẹ.”

Nàng vui vẻ reo lên. Bà giáo Thỉnh vẫy vẫy tay. Là một chủ tiệm may áo dài nổi tiếng, trang phục thường ngày của bà giáo Thỉnh gần như là các mẫu áo dài. Mỗi ngày, bà ngồi xe kéo đến tiệm, tóc uốn, đường ngôi lệch thẳng tắp, tà áo dài mềm mại, xe hạn chế mái che, đi ngang qua mấy con phố. Có một thời, hình ảnh ấy của bà trở thành một biểu tượng, một truyền thuyết của cả mấy dãy phố. Những bộ áo dài theo thời, theo mùa được bà khoác lên thỉnh thoảng sẽ gây nên vài cơn sốt nhỏ. Những cô ca sĩ, diễn viên, vũ công nhảy đầm cũng thỉnh thoảng lại đến tiệm của bà. Nhưng dù nổi tiếng với tiệm may đến đâu, người ta vẫn gọi bà là bà giáo Thỉnh. Cả cuộc đời này bà chưa làm cô giáo một ngày nào nhưng đã có nửa đời người được gọi là bà giáo. Dù bà kiếm được nhiều tiền hơn, thậm chí tiệm may mới chính là thứ gồng gánh cả đại gia đình này, nhưng người được trọng vọng hơn cứ mãi là ông giáo Thỉnh. Bởi vậy bà giáo Thỉnh cũng thích được gọi là bà giáo hơn.

Lúc này, bà giáo Thỉnh đã nhìn thấy cô út nhà mình chạy đến bên cạnh. Chỉ còn một quãng nữa là về đến nhà, bà vẫn hơi cúi xuống, đưa tay lướt qua vầng trán rịn mồ hôi của con gái:

“Có muốn lên không?”

Người kéo xe tay chậm lại một chút. Thục nhìn chiếc áo của người kéo xe tay thẫm màu lại vì mồ hôi, bả vai nhô lên dưới làn áo mỏng thì khẽ lắc đầu.

“Thôi ạ, chỉ còn một đoạn, con xin đi theo hầu mẹ về nhà.”

Bà giáo Thỉnh cười cười. Thỉnh thoảng con cái trong nhà cùng ông chồng của bà vẫn thích nói mấy câu màu mè như vậy, dù nghe có chút sáo rỗng nhưng sao vẫn thấy vui vui.

“Sao con lại đi ra từ đường đó?”

Mọi khi Thục sẽ đi về từ hướng đối diện, cũng chẳng cùng đường với mẹ như thế này.

“Hôm nay con định mua ít kẹo lạc ạ.”

“Ái chà, lang thang quà vặt. Mua kẹo lạc những đâu mà sao lại đi hướng đó. Chỗ con về là đã qua nhà bác Tính rồi cơ mà.”

Thục gãi gãi mũi.

“Thì hôm nay con thấy có mấy con bé rao bán nên tò mò muốn mua thử.”

“Thế à. Mà kẹo đâu?”

Thục cười hì hì.

“Mà nó đi nhanh quá, con đuổi theo không kịp, vậy nên lại thôi.”

Bà giáo Thỉnh nheo mắt nhìn cô con gái út nhà mình. Ở cái xứ cùng đường này, đám trẻ con bán kẹo chưa bu vào giành giật con bé ngốc này thì thôi, làm gì có chuyện Thục không đuổi theo cho được.

Chợt một suy đoán về những chuyện gần đây khiến cho bà hơi giật mình. Bà giáo Thỉnh mím môi, lặng lẽ nhìn con gái mình vừa đi vừa nói về chuyện ở trường hôm nay.

Xe kéo đi chậm lại rồi dừng hẳn trước nhà ông giáo Thỉnh.

Bà Thỉnh trả tiền rồi bước vào nhà. Cô út hơi cúi mình nhỏ giọng nói cảm ơn, dúi cho người kéo xe thêm một đồng lẻ rồi cũng theo mẹ vào và khép cổng lại. Người lái xe kéo đứng nhìn theo cánh cửa đã đóng lại một lát.

Cô con gái út nhà ông giáo Thỉnh ngoan ngoãn, lễ phép như thế, sao có thể giống như lời đồn suốt bấy lâu nay được nhỉ.

Lời đồn về cô út nhà ông giáo Thỉnh cũng đã râm ran được ít lâu.

Thực ra từ ngày nàng nhất quyết theo học vẽ ở nhà cô Diệu Hương, người ta đã đồn nàng có tâm tư lấy chồng Tây. Bởi vì những gia đình khác gửi con đến học quả thực là có ý định đó. Ngay bản thân cô Diệu Hương cũng vô cùng ủng hộ chuyện đó kia mà. Thế nên dù nàng có thật tâm đến học vì thích bức tranh Chiều thu thì cũng chẳng mấy ai tin. Có lẽ cũng bởi khi người chồng hờ của cô Diệu Hương đi mất, cả tài năng của cô cũng bị người khác khinh thường đi nhiều.

Ông bà Thỉnh vốn không mấy quan tâm đến danh tiếng không được đẹp đẽ của cô Diệu Hương. Là một thầy giáo, ông giáo Thỉnh tự rèn cho mình tấm lòng rộng mở, chấp nhận sự thay đổi của thời cuộc. Mỗi ngày ông đi dạy học trên lớp, thỉnh thoảng cũng sẽ dạy học miễn phí cho đám trẻ con nghèo, cũng dạy cả tiếng An Nam cho người Tây. Với ông, văn hóa, ngôn ngữ và kiến thức, tất cả đều cần được chia sẻ, dung dưỡng và truyền đi cho nhau. Đất nước bị đô hộ thực ra cũng nào khác gì ngày xưa vua quan ngồi lên cổ dân nghèo. Cả đời ông coi trọng tri thức, cũng không phân biệt sang hèn hay dòng máu, chỉ cần lan rộng tri thức và văn hóa, bỏ cái xấu, lấy cái tốt, xã hội lý tưởng trong lòng ông hẳn cũng sẽ tốt lên.

Ông thích ông Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích, lại nghĩ đến cái ngạo nghễ của Ngô Thì Nhậm mà tự đem an ủi mình.

“Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế.”[1]

Sống trên đời này, ông giáo Thỉnh tự an ủi mình rằng ông sống vì dân mình và tri thức, cũng chẳng vì một cô giáo dạy vẽ me Tây mà kỳ thị, ngăn Thục học vẽ.

Còn bà giáo Thỉnh thì lại nghĩ khác. Bà lấy ông giáo Thỉnh, vốn đã không chê cái tính ông bao đồng, tấm lòng quảng đại mà hại đến thân. Ngày đó, ông giáo Thỉnh làm ra tiền nhưng cũng tiêu tiền mua bút mực dạy học cho đám trẻ con nghèo, lại ra tay hào phóng giúp sang sửa trường học, còn lại trong tay cũng chẳng được bao nhiêu. Bà là con gái nhà buôn vải, theo ông về thì lại mở tiệm may, mọi việc tiền bạc trong nhà đều một tay bà quán xuyến. Tất cả xem đi xét lại cũng chỉ vì một chữ tình. Bà giáo Thỉnh coi trọng chữ tình, cũng hy vọng con gái mình không bị ái tình làm khổ. Nếu nàng thích đàn ông An Nam nghèo khó cũng được, thích đàn ông Lang Sa đẹp trai cũng chẳng sao. Bà giáo Thỉnh chỉ một lòng hy vọng con gái mình yêu và được yêu, được một người tốt yêu thương, dù bất kể vấn đề còn lại là gì, bà cũng có thể giúp cô.

Ông bà Thỉnh cứ nghĩ mình đã hết lòng đối với thời cuộc, mong con được tự do và hạnh phúc, ai dè thời cuộc vẫn có cách khiến cô con gái này vương vấn muộn phiền. Cũng chỉ là một lớp học vẽ với cô giáo mà con bé ngưỡng mộ, đâu ngờ vào miệng người đời lại thành chuyện khuấy trời động đất.

Sau một hồi nói chuyện từ trường học cho đến tiệm may, hàng xóm, bà giáo Thỉnh chợt nhắc lại những gì mà khách đến tiệm may có nói, ngồi sát bên ông giáo Thỉnh mà hỏi:

“Ông này, tôi với ông có vô tư vô tâm với con bé Thục quá không nhỉ?”

Ông giáo Thỉnh rót thêm trà cho vợ.

“Mình nói xem, giả sử mà cái Thục thực sự lấy chồng Tây, bà tính sao?”

Bà giáo Thỉnh nhìn chén trà nhưng cũng không nâng lên, chợt thở dài một cái:

“Vậy tôi hỏi mình, nếu cái Thục nó lấy chồng Tàu, chồng Oa, thì chúng ta tính sao?”

“Tôi hỏi mình, mình lại hỏi tôi.”

“Tôi nói thật đấy. Vốn từ xưa đến giờ, có lúc nào mà chỉ có người An Nam trên cái chốn này không. Giờ trên cái mảnh đất này thiếu gì người Tây người Tàu, cũng chỉ đâu Lang Sa, người Bồ, còn có cả dân da đen như cục than ấy. Ngày xưa, thầy u tôi chẳng bao giờ phải tự hỏi nhau xem liệu tôi có lấy Tàu lấy Tây không, sao bây giờ chúng ta lại phải nghĩ nhỉ.”

Ông giáo Thỉnh nghiêng đầu, nghĩ một hồi thì thấy vợ nói cũng phải. Có đất thì đóng xe, chạy bộ; có nước thì đóng tàu đóng thuyền; con người ta lúc nào mà chẳng ham mê vượt đi khỏi cái chốn chôn nhau mà tìm đến nơi khác. Có đi xa thì cũng mới có quê hương. Có đi xa thì văn hóa và tri thức mới chảy thành dòng. Ông nghiền ngẫm nhìn về bức tranh chữ trước mặt, thoáng suy nghĩ. Trong phòng khách của nhà họ Trần có đặt vài bức tranh chữ. Một bên là bài Vi nhân cầu giáo của đại nhân Phan Phu Tiên[2], một bên là bài Chức phận làm con của đại nhân Nguyễn Bỉnh Khiêm[3], ở giữa là đôi câu Công cha, nghĩa mẹ.

“Mẹ nó này, tôi với mình, cả đời này chỉ dạy chúng nó làm con, sao không ai dạy chúng mình làm cha làm mẹ nhỉ?”

Bà giáo Thỉnh hơi ngạc nhiên trước suy nghĩ của chồng, nhíu mày hỏi lại:

“Mình bị làm sao đấy? Có thầy mẹ mình, có thầy mẹ tôi đấy, chúng mình nhìn đó mà học làm cha làm mẹ. Ông thì học cao hiểu sâu, tôi thì biết buôn biết bán, vậy chứng tỏ là thầy u mình dạy đâu có sai.”

Ông giáo Thỉnh lắc đầu.

“Học cao hiểu sâu là học cho tôi. Biết buôn biết bán cũng là học cho mình. Ai dạy chúng mình phải làm thế nào để sinh ra một đứa bé có cuộc sống tốt đâu.”

“Ai bảo mình thế, như vợ chồng mình lúc này chẳng tốt hay sao?”

Ông giáo Thỉnh cười nhẹ:

“Này nhé. Như vợ chồng mình, nếu tôi cũng biết kiếm tiền, có phải mình đã chẳng phải nhọc lòng hay không?”

“Sao mình lại nói thế. Mình học cao, biết dạy con. Tôi chẳng tài giỏi gì, chỉ biết buôn bán. Vừa đẹp.”

“Nhưng chẳng phải các cụ lo rằng tôi mới là người phải xông xáo kiếm tiền, mình nỏ no chuyện trong nhà dạy con. Chính ra vợ chồng ta đâu có đúng chuẩn của các cụ.”

Bà giáo Thỉnh chẳng còn kiên nhẫn nữa, xua xua tay.

“Thôi thôi, kể gì chuyện của các cụ. Mình cứ càng nói càng quẩn mãi thôi.”

“Đấy. Các cụ nhà mình với các cụ nhà tôi cũng còn chẳng dạy ra được con cái đúng chuẩn. Tôi đọc sách đấy mà nghèo trắng tay, chả lo được cho vợ con. Mình thì phải buôn bán tối ngày. Vậy mà mình vẫn còn hài lòng.”

Bà giáo Thỉnh khẽ vỗ lên cánh tay chồng, lừ mắt một cái.

“Chỉ nói linh tinh.”

“Nói thật mà. Đấy là đang nói mỗi đứa trẻ được nuôi một kiểu, chả theo được cái khuôn nào mà lần. Tôi với mình ăn may mà lần được nhau, may mà cũng chẳng oán thán gì. Còn chúng nó, mỗi đứa một tính, sau này thế nào thì thật khó nói trước.”

“Thế giờ mình bảo phải làm sao?”

Ông giáo Thỉnh thở dài, chợt bảo:

“Lần trước cu Doãn đi đón em từng bảo mấy hôm đó là cô Diệu Hương giữ con mình với cậu con trai Công sứ Thái Nguyên ở lại làm mẫu vẽ. Nghe nói cũng vẽ xong rồi, treo ngay trước cây piano nhà cô Diệu Hương. Từ hôm đó tin đồn cũng ngày một ác. Trước giờ tôi luôn nghĩ thanh giả tự thanh, người làm trời nhìn, con gái mình sinh ra thì chẳng lẽ mình lại không biết nó có làm chuyện gì xấu hổ hay không sao. Nhưng nó thì còn nhỏ. Ý cô Diệu Hương cũng không khó đoán nhưng cô ta cũng không dám làm gì quá phận. Chỉ là cậu trai kia có ý ra sao với cái Thục không mới lại là nhức đầu.”

Bà giáo Thỉnh nhấp một ngụm trà, thấy chỉ còn hơi ấm thì khẽ lắc đầu:

“Thực ra thứ tôi để tâm nhất là ý của cái Thục nhà mình. Nó thích thì mình mới phải đi dò ý người ta xem người ta có tử tế hay chăng, có ý với nó hay chăng. Nó mà không thích thì cứ bỏ đi là xong.”

Ông giáo nhìn về phía cửa, ánh mắt lướt qua mái tóc xoăn dày bồng bềnh của vợ, chợt nói:

“Nhưng mà thằng cu Doãn có vẻ phản đối lắm.”

“Nó bảo với mình thế à?”

“Ừ. Sau cái lần đấy, mấy lần nói bảo tôi khuyên cái Thục nghỉ lớp học vẽ.”

“Nó…” Bà giáo thở dài. “Thằng Doãn ít nói chứ thực ra nó suy nghĩ nhiều lắm. Với cả… nó không ưa đám Tây.”

“Ừ.” Ông giáo Thỉnh lại nhấp một ngụm trà. “Thằng hai trông vậy chứ rạch ròi yêu ghét, cũng quyết không thỏa hiệp với cái thời cuộc này đâu.”

“Thế nếu nhỡ mà cái Thục nó quyết ý thì làm sao hở mình?”

Ông giáo Thỉnh không trả lời. Hai vợ chồng cùng nhấc chén trà, uống nốt chút nước đã lạnh rồi lặng lẽ đặt xuống khay. Những vết nước tròn in trên khay gỗ lồng vào nhau. Nếu cứ để nó khô đi như vậy thì chắc chắn sẽ để lại những vết khó rửa. Hai vợ chồng ông giáo lặng lẽ ngồi bên nhau.



[1] Đôi câu đối nổi tiếng của Đặng Trần Thường và Ngô Thì Nhậm:

Sau khi nhà Nguyễn thay thế Tây Sơn, Ngô Thì Nhậm bị phạt roi ở Văn Miếu. Đặng Trần Thường nhớ chuyện xưa muốn xin đầu quân cho Tây Sơn, bị Ngô Thì Nhậm đuổi về, nay đổi lại được xử phạt Ngô Thì Nhậm mới kiêu hãnh ra vế câu đối cho Ngô Thì Nhậm:

“Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai đã biết ai.”

Ngô Thì Nhậm khảng khái đáp:

“Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế.”

[2] Ấu nhi vô học lão vô văn,

Tự tiếu khu khu lão thử thân.

Vị đắc thăng đường na nhập thất,

Bất tòng ôn cố hại tri tân.

Đãn tương lễ nhạc tòng tiên tiến,

Nguyện bả thi thư thục hậu nhân.

Hà thí quần sinh triêm vũ hóa,

Phát sinh tư trưởng vọng lai xuân.

[3] Phận làm con phải thông đạo hiếu,

Phận làm dân phải hiểu chữ trung.

Trên ra lệnh, dưới phục tùng,

Cha làm việc tốt, con cùng làm theo.

 

Của cải nhiều dùng lâu cũng hết,

Chữ hiếu trung hưởng mãi vô cùng.

Bàn mưu tư lợi thì đừng,

Bàn điều chân chính, nên cùng tham gia.

 

Làm tốt chớ ba hoa kể lể,

Hoa sớm nở, thì hoa dễ sớm tàn.

Cẩn thận đáng giá ngàn vàng,

Phải suy nghĩ kỹ hãy làm mới hay.

 

Người tốt hay xắn tay làm phúc,

Giúp ai không lợi dụng người ta.

Người biết lỗi, sửa thì tha,

Trị người có tội, chớ mà quá nghiêm.

 

Dạy điều thiện, đừng nên tham quá,

Để người học có khả năng theo

Khoan hòa sẽ được tin yêu,

Siêng năng cần mẫn ắt nhiều thành công.

 

Nói thận trọng thì không sợ lỗi,

Làm thận trọng đỡ hối về sau.

Thế lực dù mạnh đến đâu,

Nếu đem dùng hết, ắt sau hại mình.

 

Hoặc cậy thế tạo thành phúc lộc,

Hẳn rằng sau cũng chẳng ra gì.

Cứ đường chính đạo mà đi,

Hiếu, Trung, Nhân, Nghĩa nghĩ suy mà làm.

Bình luận đoạn văn

Bình luận

Chỉnh sửa bình luận

Thiết lập văn bản

Xem trước

Nội dung sẽ hiển thị như thế này

Chọn font chữ

Cỡ chữ

12px 30px
{
}