4. Giống như ánh sáng
Mùa xuân đánh dấu sự kết thúc của mình bằng một con đường cánh hoa. Những cành đào đã phai màu, chỉ khẽ rung nhẹ cũng rụng cánh, đúng độ tàn phai sẽ bị rút khỏi lọ độc bình, đem vứt đi. Trên con đường từ trong nhà ra đến ngoài ngõ, ngoài đường ấy, những cánh hoa rụng đầy thành con đường lấm tấm thắm màu. Mùa xuân rời đi mỗi nhà một khác.
Khi Doãn đưa em gái đến thì mùa xuân vừa rời khỏi nhà cô giáo Diệu Hương. Trong những ngôi nhà khác, xuân đã rời đi từ lâu. Xuân này đi muộn, có lẽ bởi nó đã đến rất muộn.
Cô Diệu Hương thường ngồi dưới tầng trệt, đón từng đợt học sinh, kiên nhẫn chờ chúng tạm biệt cha mẹ rồi mới lên lớp. Căn nhà của cô có mặt tiền không lớn lắm, mảnh đất đi sâu vào bên trong, phía trên dẫn lên một lối cầu thang lên tầng hai. Bên cạnh cửa chính, mặt tiền căn nhà được trổ ra một cửa gỗ có thanh chắn, nếu cần có thể đóng lại từ bên trong. Tuy nhiên hai anh em Doãn thường ít khi thấy cô đóng cánh cửa nhỏ này lại. Từ bên ngoài có thể dễ dàng nhìn thấy chiếc đàn dương cầm được đặt dưới tầng trệt, phía trên phủ vải ren trắng, đôi lúc có thêm một bình hoa nhỏ. Đi qua chiếc dương cầm là lối lên cầu thang. Từ đây, cậu Doãn có thể nhìn thấy dấu vết cánh hoa đào rơi rớt trên chiếc đàn dương cầm rồi kéo ra đến tận ngoài cửa.
Lớp học vẽ của cô mở vào chiều thứ Bảy. Người phụ nữ đó đôi lúc thường tỏ ra niềm nở với những phụ huynh đưa con em mình đến học nhưng Doãn luôn nhận ra vẻ xã giao giả tạo của cô. Nụ cười lấy lệ vẽ trên đôi môi đầy đặn. Màu son không quá đậm, vừa đủ tôn lên nước da trắng. Ở đuôi mắt hình như có chút màu. Gương mặt cô được trang điểm tỉ mỉ, thế nhưng vẫn không thể che hết nỗi buồn lẩn trong đôi mắt.
Đôi mắt cô Diệu Hương lúc nào cũng có vẻ như chứa cả một hồ nước, luôn sóng sánh như muốn trào ra.
“Bonjour.”
Môi cô chu lên khi chào hai anh em Thục bằng một câu tiếng Lang Sa. Kiểu tiếng Lang Sa với những âm gió mờ nhạt dù chỉ thổi bằng hai âm tiết ngắn nhưng qua miệng cô lại rất khác. Không ham hơi gió, không phóng đại nó qua đầu lưỡi, vừa đủ nhưng cũng có chút khoe khoang vì cách nói gần giống nhất với người Lang Sa. Thục khoanh tay, lễ phép chào cô bằng tiếng An Nam.
“Con chào cô ạ.”
Từng chữ rành mạch.
“Ngoan lắm, chào anh đi rồi vào đây nào.”
“Em chào anh ạ.”
Thục chào anh rồi vui vẻ chạy vào. Doãn nhìn theo một thoáng, thấy em gái bước lên cầu thang rồi mới thôi. Cô Diệu Hương không đi theo, như thể còn đứng đợi những học sinh khác. Không có Thục, cô dường như còn chẳng buồn đoái hoài đến Doãn, dù chỉ là vài câu hỏi thăm xã giao hay một cái gật đầu tạm biệt theo phép lịch sự.
Đấy đã lần thứ mấy Doãn đưa Thục đến đây, thái độ của cô dành cho cậu đều như vậy, một cái nhìn nhiều cũng dễ thành chán ghét. Quả nhiên lời đồn có lẽ cũng chẳng sai, cô giáo dạy vẽ này của Thục thực sự chán ghét đàn ông, à không, có lẽ chỉ ghét đàn ông bản xứ.
Nghe nói người chồng trước thực ra chưa từng cho cô Diệu Hương một danh phận. Gã là một sĩ quan nhỏ ở Lang Sa, sau khi dính phải một phong trào phản chiến tự phát thì ăn một vết thương ở chân. Nghe nói cái kẻ bần nông đâm gã được một dao đó đã lập tức bị mang đi chém đầu còn gã thì lập tức xin phép về nghỉ dưỡng ở mẫu quốc. Chẳng biết trước khi vội vàng bỏ đi, gã đã kịp nhắn gửi lại gì cho cô Diệu Hương mà làm cô đợi đến giờ cũng đã bốn năm. Hoặc cũng có thể bởi hắn đi đột ngột quá, chẳng kịp nhắn gửi gì nên cô mới đủ kiên nhẫn mà chờ đợi lâu đến thế. Một thiếu nữ nức tiếng xinh đẹp, lại đã từng học chút tiếng Tây, biết chơi đàn, biết hát, biết vẽ, dù có xuất thân cũng phường con buôn nhưng đặt trong giới thượng lưu thì cũng có chút tiếng tăm. Vậy mà lại sớm đóng cửa lòng.
Tuổi thanh xuân của phụ nữ như đóa quỳnh hương, nở trong đêm rồi cũng lụi tàn trong đêm. Ngắn ngủi như thế, dù đẹp đẽ đến đâu thì cũng chẳng kịp đem khoe ai, chẳng kịp chờ đợi ai. Mấy năm trước, những bức vẽ của cô Diệu Hương đã từng cực kỳ nổi tiếng, được đánh giá cao, được mang đi triển lãm. Nhờ vậy mà cô nhanh chóng có tiếng tăm để mở một lớp dạy vẽ. Thục cũng vì si mê bức tranh cô vẽ một lâu đài châu Âu cùng với cánh đồng hoa mênh mông mà nhất quyết xin thầy cho theo cô học vẽ. Nghe nói cô chưa từng rời khỏi An Nam nhưng chỉ qua lời kể của chồng, tâm hồn của cô đã đi khắp nơi, đến mọi ngóc ngách trên thế giới. Ngày đó, cô Diệu Hương có đủ mọi thứ, tiền, nhan sắc, danh vọng… Vậy mà chỉ một nhát dao đã dễ dàng khiến cô rơi khỏi đài cao. Nhiều người tự hỏi cô có thực xinh đẹp như thế không, tài năng như thế không…, hay tất cả chỉ là ảo ảnh được dựng lên dưới bóng ông chồng hờ. Thục thì vẫn luôn mê mẩn bức tranh Chiều thu rực rỡ ấy. Thỉnh thoảng vẫn còn những kẻ cố chấp như vậy. Như Thục, như cô Diệu Hương vẫn đang quyết tâm chờ đợi. Cũng có thể là sau khi đã được nếm một miếng thịt béo, người ta sẽ không còn muốn quay lại ăn phần bì lợn vừa dày vừa dai nữa. Cậu hai Doãn lặng lẽ bỏ đi.
Thục đã bước vào trong phòng. Lúc bước ngang qua cây đàn dương cầm, nàng quay lại nhìn một chút. Nước gỗ bóng lấp ló dưới chiếc khăn thêu ren phản chiếu cái bóng nàng lướt qua.
Lớp học vẽ được đặt ở trên tầng hai, cách xếp đặt cũng rất khác với những lớp học thông thường. Bàn và ghế không được xếp thành dãy thẳng hàng mà thường chỉ là ghế và giá vẽ. Mỗi đứa trẻ được ngồi trong một bộ bàn ghế nhỏ, thỉnh thoảng cái bàn được thay bằng một tấm bảng gỗ dựng lên làm giá vẽ. Trong căn phòng có mùi bột mì nướng, mùi ngai ngái của nhựa cây, mùi gỗ và cả chút mùi ngòn ngọt.
Ba cô gái trong phòng đang truyền nhau một chiếc hộp nhỏ. Hẳn là một chiếc hộp chứa phấn sáp hay một loại bột thơm. Nó được truyền qua những ngón tay thiếu nữ nôn nóng thành một vòng khép kín, mùi thơm lây dính lên những ngón tay, lan đi cùng những tiếng cười, tiếng thì thầm.
Thục bước vào, vừa lúc nhìn thấy chiếc hộp nhôm được truyền qua trước mặt.
“Gì đấy? Gì đấy?”
Nàng khe khẽ reo lên như một chú chim tò mò. Vân, cô bé đã nắm được chiếc hộp nhôm liền nắm nó giấu trong lòng bàn tay, giống như giấu trong tay chiếc chìa khóa nhỏ xinh để chạm đến cánh cửa trở thành thiếu nữ. Mỗi cô gái khi ấy đều có hình dung về hình ảnh một thiếu nữ cho riêng mình, một bức tranh để dành khi trưởng thành, một khung hình để dành đến ngày được công nhận đã trở thành thiếu nữ, tự nàng sẽ vén một vạt áo, bước chân vào, vừa vặn in trong cái khuôn tranh đã dựng sẵn.
Nhưng dù thế nào, họ cũng đều có những điểm chung, những sở thích và sự tò mò vì một thứ mà mình còn chưa biết rõ ràng.
“Ôi hết hồn, con ma xó này.” Vân thấy rõ là đứa bạn mình liền thở phào, vỗ nhẹ lên ngực tự trấn an rồi vẫy tay với Thục. “Thục, xem này, là sáp thơm của người Khách đấy.”
Thục cúi xuống nhìn, thấy trong tay cô ba Vân nhà ông đội Nghĩa chính là chiếc hộp đang lặng lẽ tỏa ra mùi thơm nức. Trên mặt chiếc hộp có vẽ hình những bông hoa nhỏ đối xứng nhau qua một cái tâm hình tròn. Nhìn thoáng qua thì chiếc hộp giống hộp đựng thuốc lào của các bà, thứ được giắt trong áo, thỉnh thoảng lại mở ra, xé lấy một chút, cuộn giữa miếng trầu.
Người Khách sang đây hay bán thuốc, bán quà vặt, đôi lúc mang đến cả những món đồ trang điểm nhỏ xinh. Họ cứ tràn đi khắp đường, ê a mấy tiếng rao dài lạ tai, có người còn biết cả đặt vè, gieo vần sao cho vui tai. Đồ của người Khách thì nhiều thức lạ, trang trí hoa lá tỉ mỉ khiến đám thiếu nữ luôn luôn tò mò, thích thú.
Chỉ riêng cái hộp được trang trí cầu kỳ đã lập tức thu hút sự chú ý của Thục. Vân truyền cái hộp cho Thục, để nàng lại gần và ngửi mùi sáp thơm tản ra từ khe chiếc hộp nhỏ.
“Mở ra được không?” Thục níu tay Vân.
“Đừng, đừng.” Giang, đứa lớn nhất ở đây, vội chạm vào tay Thục ngăn lại. “Mở ra để nó tỏa mùi thì cô vào cái là biết ngay.”
“Phải đó. Con Thục nó toàn xui dại thôi.” Mấy đứa kia cũng lập tức hùa theo.
Mọi hôm, đám con gái lén mang theo nào là son môi, phấn má hay kem dưỡng da tay và những món trang sức nhỏ, muốn giấu đi hay truyền nhau trong cái nắm tay cũng thật dễ dàng. Nhưng hộp sáp thơm này mà mở ra thì chắc chắn cô Diệu Hương sẽ biết ngay. Thục tò mò đưa hộp sáp lại gần mũi, ngửi ngửi qua cái nắp nhôm.
“Thơm thật đấy. Chẳng giống mùi hoa nào mà tao biết cả.”
Giang, đứa mang cái hộp này đến lớp, cũng sát lại gần, ngửi mùi hương ngòn ngọt qua kẽ hộp.
“Nghe thầy tao bảo đây là phấn Bách Hoa. Bách Hoa làm từ hương thơm của cả trăm loại hoa. Thế mà mùi của cả trăm loại hoa thì lại chả giống loại hoa nào.”
“Thế là mỗi chỗ pha một tí nên không còn rõ mùi nào với mùi nào nữa chứ gì.” Con bé An ít tuổi nhất háo hức nhìn mấy chữ Tàu dưới đáy hộp.
“Ừ, thôi biết thơm là được rồi.” Vân nhăn mũi, hít vào một hơi.
Đám con gái líu ríu nói chuyện. Giờ này cô Diệu Hương vẫn chưa lên lớp. Con bé An bảo rằng cô Diệu Hương nói hôm nay sẽ có thêm người đến học. Cả đám lại ngồi đoán già đoán non xem người mới là ai.
“Chắc chắn là con gái rồi.” Thục giơ tay cho ý kiến. Đám con gái cũng lập tức gật đầu.
Cô Diệu Hương vốn đã chẳng thích đàn ông, kể cả đám con trai tuổi choai choai cũng không. Mấy cô bé cũng chẳng nghĩ đến chuyện có mấy thằng con trai tuổi này thích đi học vẽ, nhất là học từ phụ nữ.
Đám con gái đều cùng đồng ý rằng lần này người đến sẽ lại là một cô bé tầm tuổi chúng nó, con gái một nhà giáo, nhà bác sĩ hay ngân hàng nào đó. Thậm chí mấy cô bé còn hỏi nhau xem có quen cô bé nào tầm tuổi này muốn đi học vẽ hay chăng.
“Có thể là cái Linh nhà ông Mùi.” Giang chống má.
“Sao chị lại đoán cái Linh?” An hỏi.
“Tại mẹ nó cũng nhăm nhe muốn nó sau này lấy chồng Tây chứ sao. Ông Mùi buôn gạo với nhiều người Tây lắm, thế nào chả kiếm cho nó một mối, biết đâu lại sang đó rồi ở luôn.”
“À.” Mấy đứa con gái đồng thanh rồi cùng im bặt, trong đầu lại lẳng lặng soát xem còn có thể là ai, xem cha mẹ nhà ai cũng ước mơ cho con gái lấy chồng Tây hay xuất ngoại hay không.
Trong lớp học này, ngoại trừ Thục là con ông giáo, đi học vì thích, thì những cô bé khác đều là con nhà buôn bán hay bác sĩ, bố mẹ đều định sẵn để sau này con gái mình được lấy chồng Tây, ở nhà lầu, đi xe hơi. Đàn ông Tây thì lại khác đàn ông An Nam. Họ không quá quan trọng chuyện thờ chồng, chăm con, lo việc nhà. Những thứ ấy họ đều có người hầu, những con ở người An Nam khác lo liệu. Một cô gái An Nam muốn lấy chồng Tây thì phải biết khiêu vũ, hội họa, âm nhạc hay đơn giản nhất cũng phải biết cách thưởng thức một bữa ăn kiểu Tây, biết dùng dao để cắt bánh mì và bết bát nhất là phải ăn được bơ và uống được cà phê. Lấy chồng Việt thì phải biết hy sinh và cống hiến, lấy chồng Tây thì phải biết thưởng thức và hòa nhập.
Những cô bé kia cũng biết sẵn con đường được thầy mẹ mình vạch ra từ bé. Ở cái độ tuổi còn chưa tỏ chuyện ong bướm, khi cánh cửa thiếu nữ còn chưa mở, dẫn lối vào khoảng trời mộng mơ, những cô bé đều dễ dàng chấp nhận tất thảy. Hát, khiêu vũ hay vẽ cũng đều rất vui, chỉ vậy thôi cũng là đủ với một cô bé. Có người nghĩ rằng những cô bé ấy đều bị ép trưởng thành nhưng thực ra tâm trí họ đã mắc kẹt lại ngay trước cánh cửa bước vào thời thiếu nữ ấy rồi.
Lúc này đây, mấy đứa con gái lại châu đầu bàn tán xem ai là người mới.
“Lâu thế nhỉ.” Con bé An có vẻ sốt ruột, nhoài người ra ngoài cửa sổ mà cố gắng nhìn xuống nhưng chỉ thấy con đường và cửa nhà đã bị giàn hoa giấy che khuất. “Chẳng thấy gì cả.”
Giang túm sau áo nó kéo lại.
“Nếu là con Uyên nhà ông Cảnh Kỳ buôn thịt thì tao cười.”
“Sao? Sao?” Đám con gái còn lại liền hỏi, âm thanh nhao nhao như đàn chim non đòi mớm.
“Tại nó từng bảo tao vội học để bán mình cho Tây. Nghe thanh cao lắm nhưng ngoảnh đi ngoảnh lại vẫn là con lão đồ tể.”
Mấy đứa con gái rầm rì nói chuyện chợt đồng loạt im bặt, dưới nhà loáng thoáng vọng lên một tràng tiếng Lang Sa. Giọng cô Diệu Hương cao vút. Thường thì cô chỉ dùng cái tông giọng này mỗi lần gặp khách quý hay lúc chếnh choáng một ít rượu rồi vui vẻ đọc thơ bằng tiếng Lang Sa cho tụi nó nghe. Cả năm đứa đều nhón chân lại gần cầu thang, cố gắng lắng nghe xem người còn lại là ai.
Tiếng của đàn ông.
Cả năm đứa con gái nhìn nhau. Tuy âm thanh kia còn chưa trầm xuống như tiếng mấy gã lính Lang Sa nhưng rõ ràng khó có thể nhầm đó là tiếng của một cô gái hay một người phụ nữ.
Đám con gái nín thở, nhìn nhau vẻ khó tin rồi lại bối rối nhìn xuống. Giang thậm chí còn nhón chân bước xuống vài bậc, cố gắng ngó xem ai đang đến.
Thục nhỏ giọng thì thầm:
“Biết đâu chỉ là khách của cô thôi.”
Mấy đứa còn lại cũng gật gù. Chúng cũng không tin cô Diệu Hương nhận con trai vào lớp, nhưng nếu là con trai người Lang Sa thì sao?
Chợt âm thanh nói chuyện và tiếng bước chân lớn dần, có vẻ họ đang đi về phía này. Giang vội vàng nhón chân chạy nhanh lên tầng, đám con gái hoảng sợ như lũ chim ăn một ná trượt, vội vàng tán loạn bay đi. Lần này chúng nhón đi vội vàng quá, khiến cái sàn gỗ cọt kẹt kêu lên một tiếng. Đám con gái hoảng hốt, đến lúc ngồi vào bàn thì vẫn còn đỏ bừng mặt xấu hổ. Chúng vội vàng vuốt tóc và ngồi vào chỗ, vỗ má và chỉnh lại áo chỉ để giấu đi sự hoảng hốt vừa rồi.
Tiếng bước chân đã đến cửa phòng. Đám con gái ngó nghiêng, thậm chí hồi hộp đến độ níu tay nhau.
Cuối cùng cô Diệu Hương cũng bước vào, đi lùi phía sau cô là một chàng trai. Giống như ánh sáng, đó là điều đầu tiên mà Thục nghĩ.
Có thể bởi vì mọi màu sắc trên người cậu ta đều nhạt hơn những người xung quanh, hay bởi vì khi bước vào lại vừa vặn chạm vào một vệt nắng vắt lên ngực.
Mái tóc hoe hoe màu nâu dài và hơi xoăn rủ xuống đôi mắt lớn màu nâu nhạt. Làn da trắng, chiếc mũi cao với lốm đốm chút tàn nhang, lại thêm vệt nắng nhạt màu, cậu ta giống như một gam màu be nhàn nhạt giữa những đốm đen ảm đạm. Những cô gái nhỏ hay cả chính cô Diệu Hương tưởng như rực rỡ kia cũng trở thành những đốm đen vì cậu ấy. Những cô gái với mái tóc đen, nước da vàng, dù được nuôi dạy bằng tiền của nhưng ngay tại nơi sinh ra, thứ màu đen tối và ủ ê đã bám lấy từng sợi tơ tóc trên cơ thể họ. Cả những đôi mắt huyền cũng không thể so sánh với đôi mắt nâu mơ màng kia. Thục đã nhìn thấy đôi mắt ấy, tưởng như cậu ấy đã luôn nhìn thấy ánh sáng ở một vùng đất xa xôi, có thể chính là nơi thiên đường mà người Pháp vẫn luôn ca tụng. Thục cúi đầu, nhìn xuống những ngón tay mình, thấy đầu móng tay mình còn hơi vướng chút màu nâu sậm, có thể là nhựa rau muống mà nàng đã nhặt giúp mẹ. Nàng thu ngón tay và giấu nó dưới bàn.
Cô Diệu Hương đứng sau dường như có vẻ hài lòng trước phản ứng của đám trẻ. Cô ấy quay lại và nói tiếng Lang Sa với cậu thiếu niên kia trước, sau đó mới nhìn xuống đám con gái đang giả vờ rụt rè trong lớp.
“Bonjour. Hôm nay chúng ta có bạn mới.”