2. Bông hoa ép khô
Tối hôm ấy, khi khách khứa mấy lượt đều đã ra về hết, không khí cũng loãng ra, trầm lại và tĩnh hẳn xuống. Thầy giáo Thỉnh đứng lặng nhìn đồ đạc của cậu con trai cả đã được sắp xếp gọn gàng, để hết ở gian nhà trước. Sáng sớm mai, chỉ đợi xe đến là cậu cả nhà ông sẽ đi. Đi một lần cũng năm năm, dễ gì mà gặp được, dễ gì mà được tin. Vốn đã biết là thế, vậy mà giờ khi chẳng còn cái cớ bận rộn đón tiếp chuyện trò người ra người vào, ông có thời gian để mà nghĩ đến chuyện đó, để mà thoáng buồn.
Nước chè êm ái chảy vào cái chén tử sa, rót thế nào cũng không thành tiếng, dòng chảy đều đặn, êm ái và liền mạch. Hôm nay ông giáo Thỉnh tự tay rót ra hai chén, một chén đưa cho cậu cả nhà mình.
“Đây, mọi khi vẫn biết anh không hảo cái thứ nước đắng chát này, thế nhưng cũng sắp đi xa rồi, thôi thì chịu khó uống với thầy một ngụm.”
“Dạ, con xin.”
Cậu cả đưa hai tay lễ phép đón chén trà.
Ông giáo Thỉnh tuổi cũng mới chỉ ngoài ba lăm, sớm theo nghiệp dạy học, được nhà nhà kính trọng gọi là ông, vợ ông cũng thơm lây được gọi là bà, chứ tính ra thì cả ông với bà hãy còn đương trẻ lắm. Cái nghiệp dạy học giữa thời buổi này ngày càng khác thời xưa, đã chẳng thể gọi dân dã là cái nghề gõ đầu trẻ được nữa rồi. Ông vẫn hay bảo tụi trẻ giờ khôn lắm, muốn gõ được đầu chúng nó thì phải cao được hơn chúng nó, cả về tri thức lẫn tầm nhìn. Không thể cao hơn thì đành phải để chúng bay đi. Đám chim đã ra ràng đủ cánh đủ lông, muốn bay cao thì sao giữ lại tổ được nữa.
Bởi vậy khi cậu con trai cả này nói muốn sang Lang Sa học, ông đã đồng ý. Muốn giữ nó lại bao nhiêu thì lại càng hiểu phải để nó đi bấy nhiêu.
Ông lặng lẽ nhìn cậu con trai mình đã nuôi nấng mười sáu năm nay và chở che dưới đôi cánh này. Kìa ngón tay thon dài, chưa từng kinh qua chuyện đồng áng, lại quen tay bút thước. Kìa cái vết chai tay luyện chữ vẫn gồ lên trên ngón giữa, lòng bàn tay mịn màng đầy đặn. Kìa đôi lông mày khẽ nhíu lại khi nhấp ngụm chè ấm nóng mà thoảng vị đắng chát. Thằng con cả nhà ông đấy, vẫn là đứa trẻ con hảo ngọt ông nuôi ra mười sáu năm nay đó thôi. Ngày mai là cậu học trò lên tàu thủy sang Tây học hành, năm năm nữa về liệu có thành cái kẻ một câu bẻ đôi, nửa bên này tiếng An Nam, nửa bên kia chữ Lang Sa bồi mà ông vẫn hay gặp trong đám giáo viên ở trường không nhỉ.
Cậu cả nhấp lấy một ngụm, lại e rằng có khi đây là cơ hội cuối cùng trong mấy năm tiếp sau mới được uống với thầy, với cha mình một chén chè xứ Thái, vậy là bấm bụng uống.
Chén chè nhỏ xíu đã vơi, cậu cả vẫn chưa thấy thầy mình lên tiếng, chỉ đành lặng lẽ đặt cái chén vào khay, nhỏ giọng hỏi.
“Thầy, con đi kỳ này, thầy có dạy bảo thêm điều gì không ạ?”
Ông giáo Thỉnh khẽ thở dài. Bảo không lo thì rõ là nói dối; bảo lo lắm, dặn này dặn kia thì lại càng chỉ làm người đi xa thêm rối lòng.
“Không. Chuyện gì cần dạy, cũng đã dạy suốt mười sáu năm nay. Anh cả đi năm năm, chắc sẽ không vì thế mà quên hết những gì mười sáu năm đã học đâu nhỉ.”
Nước trong chén vơi rồi lại đầy. Ông giáo Thỉnh rót thêm một lượt nữa, xua tay ngăn cậu cả muốn vươn ra đỡ lấy cái ấm. Tất thảy đều diễn ra trong im lặng, để cả hai người cùng lặng lẽ nghĩ suy.
“Thôi lần này thầy đánh cược, thầy tin anh, cũng tin cả cách dạy dỗ của thầy.”
“Dạ.” Cậu cả ngoan ngoãn cúi đầu, khi ngẩng lên lại nhìn thầy mình bằng đôi mắt sáng trong, lấp lánh như giấu cả những ánh sao. “Nhưng sao thầy lại chịu cho con sang Lang Sa học ạ. Chẳng phải thầy không thích, thậm chí hận…”
Ông giáo giơ tay ra hiệu dừng, ngăn cậu cả nói thêm nữa. Có những lời nói hết ra, biết đâu phải tai vách mạch dừng thì lại dây dưa đến khổ.
“Ghét thì ghét người, hận thì hận cảnh, chứ chữ nghĩa, kiến thức thì có tội tình gì. Mình muốn thắng người ta thì phải học cho mở mang mà biết, mà giỏi hơn người ta, chứ đâu thể khư khư ngồi mãi dưới đáy giếng. Nhìn mãi cái mảnh trời bé tí bằng nắp vung mà lại cứ đòi bàn chuyện ao chuôm, rừng thẳm thì ấu trĩ lắm. Anh bảo có đúng không?”
“Dạ, thầy dạy phải.”
Thấy con trai lớn mỉm cười nhẹ nhõm như trút bỏ được vướng mắc cuối cùng trong lòng, ông giáo Thỉnh cũng yên dạ.
Hai người nói thêm mấy chuyện ở trường thì chợt bên ngoài có tiếng bà Thỉnh gọi.
“Đâu, anh cả đâu, ra mẹ nhờ tí nào.”
Bà Thỉnh mượn nhà bán gạo đầu phố được cái cân đòn với cái thúng gánh, liền vội vàng gọi cậu cả lại gần. Anh con trai thứ ít nói giúp mẹ mang cái cân vào, rồi lặng lẽ đứng cạnh đợi nghe sai bảo.
“Nào, ngồi vào đây mẹ cân lên cái nào.”
“Kìa mẹ.” Cậu cả nhăn mặt xấu hổ nhìn cái đòn gánh với cái cân đòn, liền từ chối không chịu. “Hồi đầu năm con có cân sức khỏe ở trường rồi mà.”
“Đấy đã là chuyện từ hồi đầu năm rồi. Từ đầu năm đến giờ anh đã cao thêm phân rưỡi, biết đâu cũng nặng thêm mấy hoa. Thôi đừng có lằng nhằng, mẹ chẳng kiếm được cái cân Tây, đành mượn cân của cô Hoa bán gạo đấy. Nào, ngồi vào đây mẹ cân thử xem nào.”
Bà Thỉnh nói vậy rồi đẩy nhẹ cậu hai, cậu hai lại lập tức xách cái cân lên. Đương lúc bà tính sang nhờ chú hàng xóm qua cân hộ thằng con trai thì bỗng ông giáo Thỉnh lại xắn tay lên bảo.
“Đừng phiền người ta, mà có thêm người ngoài, anh cả lại ngại. Thôi thằng hai với thầy cân anh cả mày lên cho mẹ mấy đứa vui lòng nào.”
Cả nhà nhao nhao đổ vào can ông giáo Thỉnh, sợ ông đau lưng hay mỏi gối, lại bị ông cười.
“Ơ kìa cái nhà này. Tôi năm nay mới gần bốn mươi thôi nhé, nào đã già. Ở quê là vẫn còn trai tráng ra cày ruộng được chứ kém gì đám thanh niên. Năm xưa mẹ các anh hoài thai các anh chín tháng mười ngày còn đau mỏi gấp mấy, tôi vác anh một tí thì nào có xá gì. Ngày nào còn là khúc ruột liền tâm bé tí lọt thỏm trong lòng mẹ, ngày mai anh đi xa, mẹ anh muốn cân xem anh đã lớn khôn thế nào, có gì mà ngại ngùng.”
Cậu cả nghe xong thì cúi đầu vâng dạ, cúi xuống cởi dép, để lộ gan bàn chân trắng trẻo, hồng hào, trong lòng bàn chân còn điểm một nốt ruồi báo hiệu số phải đi xa. Anh xoa xoa hai bàn chân vào nhau trong lúc ông giáo Thỉnh hết chỉ bà giáo xỏ cái đòn gánh vào cân lại kể chuyện về cái nốt ruồi ở lòng bàn chân đúng là để chỉ số mệnh phải đi xa, chẳng cách chi giữ lại được. Thục với anh Hảo cũng đã ùa đến từ lúc nào. Mọi người đều vây quanh nhìn cậu cả cúi mình cố chui vào cái thúng, co chân ngồi thu lu trong đó.
“Ngồi chắc vào nhé. Ái chà, mẹ các anh còn thương cậu cả lắm nhé, mượn cái cân nhà bán gạo chứ không phải cái cân nhà bán thịt lợn đâu. Tươi cái mặt lên. Đây, cậu hai cũng cố gắng tí nhé. Nào hai ba thì lên.”
Theo lời ông giáo Thỉnh, cả nhà vừa cảm động vừa buồn cười, lúc hai người đàn ông lớn cùng hò lấy đà hai ba, cả nhà cũng xúm lại hô vang. Cô Thục út ít nhất nhà hoan hỉ vỗ tay, nhìn cậu cả xấu hổ ngồi thu lu trong cái thúng.
Mẹ vội vàng chạy đến chỉnh quả cân cho đến khi thăng bằng, rồi lại vội vàng nhẩm đọc chữ số.
“Bốn mươi bảy cân, bảy lạng, đấy là còn hơi tươi. Phải trừ đi mấy hoa.”
Ông giáo Thỉnh với cậu hai buông phịch cậu cả xuống, rồi lại cười cười.
“Đấy, anh hỏi tôi có dặn anh gì, thôi thì sang đấy chịu khó rèn luyện sức khỏe, đừng tiết kiệm quá mà sụt cân, sau này anh về, thế nào mẹ anh cũng kiểm tra, sụt mất hoa nào là chết đòn đấy nhé.”
Cả nhà lại cùng nhau cười rộn ràng.
Cậu cả lóng ngóng muốn chui khỏi thúng, không thể đứng thẳng lên, đành phải chật vật bò ra. Thục đứng ngoài nắc nẻ cười.
Bà Thỉnh còn bắt cậu cả đứng sát vào cái cột trong buồng của mình, đứng ở cuối giường, cẩn thận đặt cái đũa so từ đỉnh đầu anh sang, tỉ mỉ nhắc anh đứng thẳng lưng, đánh dấu lên cái cột. Rồi sợ như năm năm khiến nét vạch ấy dễ phai màu, bà cầm con dao, chẳng ngại ngùng mà vạch lên cái cột gỗ lim một vệt dài thẳng nằm ngang.
“Đấy, con đi thì mẹ lại nhìn đó mà nhớ về.”
Cậu cả đã cao nhỉnh hơn mẹ mình, lúc này đứng dưới, ngước nhìn mẹ đứng ở đuôi giường, rướn người sang mân mê vết cắt trên cái cột. Trước khi anh đi, cả nhà đã đi ra hiệu chụp vài kiểu ảnh, nhưng với người làm mẹ thì mãi mãi là chẳng đủ.
Tối hôm ấy, gần như cả căn nhà họ Trần đều thao thức. Họ tắt đèn cũng muộn hơn mọi hôm. Những đứa trẻ cảm nhận được bầu không khí là lạ trước khi chia xa. Trong nhà có mùi, một mùi lạ mà nhiều năm sau này Thục mới nhận ra đó là mùi của biển. Mùi của những vật dụng mới, được bôi sáp thơm, được quấn kỹ và xếp gọn gàng, mùi của một chuyến lênh đênh vượt đại dương.
Hoài Anh đứng nhìn vết vạch cao hơn tầm mắt mình trên cái cột, rồi lại dựa vào đó nói chuyện với bà về việc thầy giáo ở Lang Sa đã đồng ý cho cậu ở nhà trong một buồng phụ nhỏ dưới tầng. Thỉnh thoảng, những đứa trẻ đi qua, lấy cớ tìm mẹ để ngó nhìn cậu cả thêm một cái. Cả Doãn, cậu thứ ít lời cũng dúi vào tay Hoài Anh một gói ô mai mơ gừng vừa chua vừa cay vừa mặn, tiện hỏi xin mẹ một que diêm. Bà Thỉnh phì cười đưa cả bao diêm cho đứa con thứ, nhìn nó lúng túng rời đi, cuối cùng mới khẽ đẩy cậu con lớn ra khỏi phòng, giục cậu ngủ mau mới có sức để sáng mai đi.
“Mẹ thấy bảo đi tàu cũng bị say lắm đấy. Này anh mang hộp cao mà để vào túi, mùa đông có lạnh thì cũng có cái mà bôi vào gan bàn chân. Thôi, giờ thì đi ngủ đi, mai còn đi sớm.”
Bà Thỉnh xua tay nói vậy rồi gấp tờ giấy nhỏ ghi số cân nặng chiều cao của cậu cả làm tư, đoạn cho vào dưới đáy cái hộp đựng nữ trang của mình. Tờ giấy vô tri ấy bỗng hóa thành của báu mà bà sẽ nâng niu suốt mấy năm tới. Cậu cả thấy vậy cũng chỉ tần ngần.
Thục luẩn quẩn đứng chơi từ nãy, thấy anh bị mẹ đẩy đi liền kéo tay anh, nhỏ to thì thầm.
“Anh, anh cầm cái này đi nữa, rồi sau này nhớ viết thư về cho em nhé.”
Cái phong bì hơi lệch được gấp lại bé tí, các mép dán lại với nhau vẫn còn vết gồ ghề, cậu cả sờ lên mép phong thư, đoán chắc bé út dán cái phong bì này bằng cơm nguội. Anh khẽ nói cảm ơn rồi trở về phòng mình.
Lúc về đến nơi, anh mở ra thấy bên trong phong bì thư nhỏ bé ấy là mấy bông hoa giấy nửa hồng nửa trắng, hẳn là của cây hoa trồng ngay trước cửa nhà. Bông hoa đã hơi khô, được dán vào mảnh giấy con con có mấy chữ.
“Anh lên đường bình an, đừng quên Thục nhé.”
Nét chữ tròn xoe, dù cố gắng nắn nót nhưng nét vẫn không đều. Chữ “Anh” to đùng được đặt gần chính giữa tờ giấy, những chữ còn lại bị chèn ép nhỏ dần, để chữ “nhé” út ít cuối cùng không tìm đủ chỗ đứng, rúm rít sát vào mép dưới tờ giấy bé xíu. Cậu cả Hoài Anh khẽ lắc đầu, soi bông hoa giấy nửa hồng nửa trắng dưới ánh đèn vàng vọt.
Người Kẻ Chợ thích trồng hoa giấy trước nhà. Hoa giấy không hương nhưng rực rỡ. Nắng càng đượm, sắc hoa càng nồng. Đóa hoa hai màu đượm mùi nắng An Nam, nay đem soi dưới sắc trời Tây liệu có thể bừng lên rực rỡ được nữa hay không.
Thầy bảo tin cậu, nhưng thế giới ngoài kia phù hoa là thế, chính cậu cũng còn chẳng tin mình…
Hoài Anh đặt đóa hoa ấy vào phong thư, lại kẹp vào quyển sách để mang đi. Thục còn nhỏ lắm, có lẽ cô bé cũng chẳng hiểu một đóa hoa giấy có ý nghĩa với anh biết nhường nào. Vậy cũng tốt, vô tình mới là duyên ý.
Đêm ấy dài thật dài, mà hóa ra cũng thật ngắn, tưởng như mới chỉ mới chợp mắt đã nghe thấy tiếng gà gáy sớm.
Trong tiếng gà lác đác đã lên, giữa một sáng tinh mơ còn phủ hơi sương lành lạnh, chiếc xe lầm lũi đến đón cậu cả Hoài Anh nhà họ Trần. Mới nghe mấy tiếng gõ nhẹ vào cửa trước, ông giáo Thỉnh đã vội vàng chạy xuống đón, bà giáo thì vấn tạm tóc rồi đi sang gọi cậu cả. Dường như họ đã không thực sự ngủ suốt đêm qua. Cậu cả nhìn cả khu phố ngày hôm qua còn nhộn nhịp vì cậu, giờ lại tĩnh lặng vô cùng. Trong ánh sáng mờ ảo, đâu đó có người dậy chuẩn bị đi chợ sáng hay mở hàng sớm. Bà giáo Thỉnh đơm một gói xôi bọc lá chuối nhét vào tay cậu, ủ ấm những ngón tay còn chưa kịp lạnh.
Không ai gọi Thục với Hảo dậy. Hai đứa trẻ vẫn còn đang ngủ. Tất cả mọi người đều đè âm thanh xuống rất nhỏ, đồ đạc chuyển lên xe cũng khẽ khàng. Cậu hai lặng lẽ đứng ở cửa, nhỏ giọng nói lời tạm biệt. Hoài Anh đứng lại, đặt tay lên vai đứa em ít nói, cậu muốn nói gì đó nhưng rồi lại chẳng thể thành lời. Sự trầm lặng của Doãn lây qua cái chạm tay đó, Hoài Anh muốn nói một thứ gì đó cứng nhắc như “Chăm sóc cha mẹ và các em” hay “Giữ gìn sức khỏe”…, đơn giản thế thôi mà chẳng thành lời. Vậy mà Doãn lại gật đầu.
“Anh đi nhé.”
Hoài Anh úp cái mũ trước ngực rồi bước đi.
Những bông hoa giấy hôm qua còn chưa quét, lác đác rụng đỏ hồng trước cửa. Hoài Anh nhét cuốn sách có kẹp đóa hoa giấy và bức thư nhỏ của cô em gái út vào trong chiếc túi đeo bên mình. Chân anh giẫm lên những đóa hoa kia, bước lên xe. Những đóa hoa nát dưới chân người mà chẳng thể lưu lại được chút hương.
Năm năm, bao nhiêu đóa hoa sẽ rụng xuống, bao nhiêu đóa hoa sẽ lại bừng nở trên mảnh đất này?