Chương 31: Gọi là mợ Ba (1)
Hai đứa tôi nán lại ở căn nhà ngói cũ đó lâu hơn tôi tưởng.
Ban đầu, tôi cứ đinh ninh trong bụng cậu Ba Thuận chỉ ở lánh mặt chừng vài ba hôm, gắt gao lắm là đôi ba tuần đặng chờ cho chuyện ngoài kia lắng xuống. Ngờ đâu ngày qua tháng lại, tuần này nối tiếp tuần kia, đồ đạc sắm sửa trong nhà mỗi ngày một tăng thêm.
Mới đầu là cái tủ áo bằng gỗ được người ta khiêng tới. Kế đó là mấy cái ghế mây, rồi chén dĩa, nồi niêu, mùng mền,... Có hôm tôi thức dậy, trong nhà bỗng dưng mọc đâu ra một cái bàn viết nhỏ, bên trên bày sẵn giấy mực tươm tất cùng vài ba cuốn sách chữ Pháp dày cộm. Tôi đứng dòm một hồi lâu, cuối cùng quay sang cất tiếng hỏi cậu Ba:
"Cậu mua cái này làm chi vậy cậu? Em thấy cái bàn viết ở nhà cũng còn xài được mà?"
Cậu Ba Thuận đang mặc áo, nghe thấy tiếng thì quay đầu lại nhìn tôi:
"Cho em đó." Anh đáp cùng một nụ cười. "Qua thấy em cứ ngồi đọc dưới cái bàn bếp hoài, nên sắm luôn một cái về cho em."
Tôi nghe vậy thì hai mắt sáng rỡ, mừng quá nên không kìm được, bèn nhào lại ôm chầm anh một cái cảm ơn.
Chẳng những sắm đồ đạc, trong nhà còn tự dưng xuất hiện thêm hai người mần việc mới. Chị Nụ thì cỡ tầm ba mươi, chịu trách nhiệm bếp núc dọn dẹp; chú Tòn lớn hơn chị cỡ vài ba tuổi, lo việc săn sóc vườn tược và mấy chuyện nặng nhọc trong nhà. Ngày đầu tiên tới, hai người vừa dòm thấy tôi đi chợ về thì đã cúi đầu, chắp tay chào:
"Lạy mợ Ba mới về!"
Tôi nghe tiếng "mợ Ba" mà hết hồn, luống cuống phân bua rằng mình hổng phải mợ Ba mợ Tư chi hết, xin đừng gọi vậy kẻo người ta hiểu nhầm vì tôi cũng chỉ là người mần cho cậu Ba hệt như hai người mà thôi. Chị Nụ với chú Tòn ngơ ngác nhìn nhau. Phải một hồi lâu sau, chị Nụ mới cười gượng, mau miệng thưa lại với tôi:
"Dạ... nhưng cậu Ba dặn tụi tui nhất định phải gọi mợ là mợ Ba. Tụi tui cũng chỉ là người mần, đâu có dám cãi lời cậu."
Chú Tòn gãi cầm nghĩ một hồi, liền hỏi bồi thêm:
"Hay là mợ muốn tụi tui gọi theo cái thứ bên nhà ngoại của mợ? Bên tía má mợ, mợ đứng hàng thứ mấy đặng tụi tui dễ bề xưng hô?"
Nghe tới đó tôi bỗng nhiên chưng hửng, phải ngập ngừng đắn đo một hồi mới lí nhí đáp lời:
"Là... chị Ba."
Chị Nụ và chú Tòn lại quay sang dòm nhau, mặt người nào người nấy đều bối rối tội nghiệp. Cuối cùng, chị Nụ mới gãi đầu, rụt rè thưa lại:
"Vậy... tụi tui vẫn gọi mợ là mợ Ba hen?"
Chưa kịp để tôi há miệng chối từ hay gật đầu chấp thuận, thì từ phía góc nhà bỗng vang lên tiếng cười khúc khích. Tôi ngoái đầu dòm lại, thì ra là cậu Ba Thuận. Anh đang ngồi trên cái ghế mây kê sát ô cửa sổ, trên tay vẫn còn cầm tờ nhật trình, nhưng hổng lo coi chữ mà lại chăm chăm dòm về phía tôi mà cười khoái chí.
Thẹn quá hóa giận, tôi trừng mắt lườm anh một cái cho bõ ghét, rồi dậm chân, nguây nguẩy quay lưng bỏ vô buồng. Và chuyện xưng hô của người mần về sau cũng giữ nguyên như thế. Họ sẽ gọi anh là "cậu Ba Thuận", còn tôi thì là "mợ Ba Mơ".
Nhịp sống ở cái nhà ngói này cũng quá đỗi êm ả, tựa hồ như một giấc chiêm bao. Mỗi sáng thức dậy, tôi sẽ thấy cơm nước được dọn sẵn, quần áo thay ra cũng có người đem đi giặt rồi phơi gấp gọn gàng. Chị Nụ nhất quyết không cho tôi đụng tay vô bếp. Tôi ngỏ ý muốn phụ dọn dẹp thì chú Tòn đã lẹ tay giật cây chổi lại, than thôi mợ Ba nghỉ ngơi dùm tụi tui. Bởi vậy thành ra tôi hổng có việc chi để mần nữa, chính thức rảnh tay rảnh chân, ở không cả ngày trời.
Mỗi bận rảnh rỗi như vậy, tôi lại lấy một cuốn sách rồi kéo cái ghế đến ngồi sát bên cậu Ba Thuận. Anh hay ngồi ở cái bàn viết bên cửa sổ. Lúc thì cặm cụi viết thư, lúc thì trầm ngâm nghiên cứu sổ sách chi đó. Tôi tò mò gặng hỏi thì anh chỉ mỉm cười kêu đang thu xếp chuyện bên nhà, mà cái này tôi không có ra mặt được nên thôi đừng quan tâm.
Rồi ngày lại ngày trôi qua, càng ở lâu, tôi càng thấy cậu Ba bận rộn.
Mới đầu chỉ là đôi ba lá thư tay gửi tới, sau đó khách khứa dập dìu ra vô càng lúc càng đông. Trên cái bàn viết của anh lúc nào cũng chất đống thư từ, bưu phẩm gửi từ xa đến. Có mấy lần tôi tò mò coi thử, thấy nào là giấy nợ, khế ước ruộng rồi thư riêng. Cứ mỗi khi trời vừa hửng sáng cho tới tối muộn, anh sẽ ngồi coi hết, đôi lúc tôi còn thấy anh lấy bút gạch dưới vài ba cái tên lạ, rồi sai người dò thám tin tức đem về đây.
Mà, hành tung thần bí vậy thôi chớ cậu Ba Thuận cũng không cố tình giấu giếm chi. Cứ hễ đêm nằm trên giường, chẳng cần tôi gặng hỏi thì anh cũng thong thả giải thích. Anh nói giục tốc thì bất đạt. Theo thầy Luật sư Nhơn học mấy năm trời cũng đủ để anh tường tận cái tầm quan trọng của nhân chứng vật chứng ra sao. Tôi nghe qua mớ dây mơ rễ má đó mà không hiểu lắm, nhưng cũng lờ mờ đoán ra anh muốn đào bới ra xem kẻ nào là người đã dắt dây đưa bà Hội đồng Từ tới hội kín Bách-chi Đồng-căn.
"Vậy cậu định làm gì sau khi thu thập đủ chứng cớ?" Tôi ngoái đầu lại hỏi nhỏ.
"Qua cũng chưa biết nữa..." Anh thuận miệng đáp, vùi mặt vào tóc tôi. "Chắc là ngồi xuống ba mặt một lời, rồi chờ coi thử ông Hội đồng ngả về bên nào, quyết định tin ai."
Một hôm nọ, thầy ký Canh từ sở cao su ở Thủ Dầu Một đột ngột mò tới trước sân nhà. Tôi ngạc nhiên, nhưng rồi cũng mời ông vô nhà đặng uống nước bàn chuyện với cậu Ba Thuận. Ngồi ở phòng khách nghe hai người bàn luận vắn tắt, tôi cũng không rõ đầu đuôi chi sất. Đến chừng thầy ký Canh nhắc tới chuyện bà Hội đồng Từ khiếp đảm khi nghe chuyện cậu Ba mần trên sở cao su hồi một năm về trước, tôi chợt thấy khóe môi anh hơi nhếch nhẹ lên:
"À, vậy là hiểu rồi." Anh trầm giọng nói. "Tính ra là tại bả sợ cậu Hai nhiễm cái nết đó, thành ra mới giở quẻ cản ngăn."
Tôi với thầy ký Canh chưa hiểu ý nghĩa câu nói đó lắm, song cũng không hé môi tò mò. Tự dưng lúc đó trong đầu tôi sực nhớ tới thằng Tư Rỗ. Hôm ở Thủ Dầu Một, tụi nó rõ ràng chỉ hoảng khi nghe tới tên cậu Ba Thuận, chớ không chỉ đơn thuần là sợ cái vị "chủ" của sở cao su.
Nuốt không trôi cái cơn thấp thỏm, tôi canh lúc cậu Ba vô buồng sửa soạn đồ, bèn lẹ chân kéo thầy ký Canh vô một góc đặng hỏi cho ra lẽ chuyện. Ông Canh ban đầu cũng nín thinh, mặt lấm la lấm lét dòm ra cửa buồng đắn đo mất một bận. Nhưng rồi, có lẽ thấy tôi là người được cậu Ba kề cận lúc này, ông mới thở dài một tiếng, rồi ghé sát tai tôi mà khai thiệt:
"Dạo trước sở cao su có thằng mần phu, bản tính hung hăng, ỷ có sức vóc nên hay gây sự, đè đầu cưỡi cổ mấy người mới. Hôm đó không biết đầu đuôi cớ sự ra sao, tự dưng nó xách dao đi chém mấy người mần trong sở, rồi cố thủ trong nhà suốt mấy ngày trời. Cậu Ba nghe tin thì từ Sài Gòn chạy lên dẹp loạn. Vừa hay lúc cậu lên thì thằng đấy cũng đang xách dao gây rối. Nó thấy cậu thì điên tiết, lăm lăm con dao chĩa thẳng vô mặt cậu mà hù, bắt cậu cho tiền đặng nó rời đi."
Tôi nín thở, tim đập thùm thụp:
"Rồi cậu Ba mần sao chú?"
"Cậu Ba chẳng những không ngán mà còn thong dong bước tới, thách nó chém mình." Ông vừa nói vừa quệt mồ hôi trán. "Nhưng rốt cuộc cái thằng đó mạnh miệng chớ đâu có dám mần thiệt, huống chi cái thần thái của cậu Ba cũng làm nó hãi lắm. Thừa sơ hở, cậu tước dao gọn hơn, rồi đám người mần mới xúm lại khống chế thằng kia."
Tôi chưng hửng. Nhưng chưa kịp cất lời, thầy ký Canh đã nuốt một ngụm nước bọt, thì thầm kể tiếp:
"Ai cũng tưởng cậu Ba sẽ đánh nó nhừ tử liền, nhưng mà không, cậu hổng đánh mà bình tĩnh ngồi xuống hỏi han tại sao nó đi gây sự. Thằng phu đấy ở nhà thì chửi vợ đánh con, tiền bạc làm ra đem nướng sạch vô sòng bài bạc; nhưng được cái sức vóc to lớn nên không ai dám đụng." Ánh mắt thầy ký liếc về phía cửa buồng một cái, rồi trở lại. "Ấy vậy mà đối diện với cậu Ba, nó tự dưng khóc lóc om sòm. Kêu tại cậu trả tiền ít quá, nó đói, nó hổng có chi bỏ bụng nên mới mần liều đặng kiếm ăn. Cậu Ba nghe xong thì không hỏi thêm câu nào nữa, sai người dọn một mâm cơm rau thịt đầy đủ cho nó ăn."
"Hớ?" Tôi chớp mắt, mặt mày hoang mang cực điểm.
"Nhưng mà... lúc thằng phu ăn xong, cậu Ba liền sai người lôi ra đánh." Thầy ký tiếp tục, hạ giọng thấp hơn. "Bị đòn đau quá thì nó ói mửa. Cậu Ba bắt nó cúi xuống liếm cho sạch cái bãi bầy nhầy đó. Liếm xong, cậu lại sai đánh cho ói ra lần nữa, rồi lại bắt liếm vô... Cái trò hành hạ đó lặp lại tới lần thứ ba thì thằng đó hãi hùng, chắp tay lạy cậu liên tục, thú nhận nó chém người đặng lấy tiền bỏ đi nơi khác chớ hổng có đói khổ chi hết. Chừng đó cậu Ba mới mỉm cười thả cho đi."
Tôi nghe tới đó mà tay chân bủn rủn, đầu óc cũng quay cuồng. Cùng lúc ấy, cánh cửa buồng bỗng kêu lên cọt kẹt. Thầy ký Canh bèn lẹ miệng, nói hết phần cuối cùng:
"Cái chuyện đó trên sở cao su ai cũng biết hết, mấy người ở sở chung quanh cũng hay tin, thành ra từ đó mới có lời đồn đại đừng có đụng vô cậu Thuận." Giọng ông Canh run run. "Thà là cậu dữ luôn, hoặc cậu hiền thì hiền luôn. Chớ cậu hổng la hổng rầy chi hết, ai mà nghĩ cậu tàn bạo như vậy? Rõ ràng cậu bị chứng điên quỷ!"
Vừa dứt lời thì bóng dáng của người chúng tôi vừa bàn tán bước ra. Thầy ký Canh thụt lùi một bước, cúi đầu chào cậu Ba rồi lật đật rời đi. Anh không bắt bẻ chi, chỉ nhìn tôi rồi bước lại gần. Bất thình lình, anh cúi xuống thơm một cái vô má tôi.
"Giờ qua phải lên Thủ Dầu Một một chuyến, chắc đi cũng mất đôi ba hôm." Anh cất giọng nhẹ nhàng. "Em ở nhà nhớ ăn uống đầy đủ, ban đêm nhớ đóng cửa cài then cẩn thận nghen."
"Hở?" Tôi tròn mắt. "Cậu lên trên đó mần cái chi vậy?"
"Xử lý công chuyện đó mà." Anh vuốt nhẹ tóc tôi ra sau tai. "Sắp tới, dù ai có nói cái gì, em cũng tuyệt đối đừng có bước chân tới nhà ông bà Hội đồng nghen."
Tôi thẫn thờ gật đầu. Cậu Ba Thuận mỉm cười hài lòng, quơ lấy cái áo khoác vắt trên ghế rồi thong thả bước ra cửa. Cái xe hơi của anh Trạch đã túc trực sẵn ngoài sân, thầy ký Canh cũng đã yên vị ở băng ghế sau từ bao giờ.
Tôi bước ra hàng ba đứng ngóng theo, cho đến khi xe hơi lăn bánh rồi khuất dạng sau bụi cây um tùm. Lòng tôi bỗng dưng thắt lại, cứ phập phồng thấp thỏm giữa chốn lụa là xa hoa.