Chương 30: Tâm tư giấu kín giãi bày cùng nhau (2)
"Nhưng cậu cũng vậy thôi chớ khác chi đâu?" Tôi cất tiếng phản bác. "Cậu cũng bị người ta kỳ vọng mà?"
"Qua á hả?" Anh bật cười nhẹ hẫng. "Khác chớ! Tại qua học cái chi cũng mau vô lắm!"
Tôi tròn xoe hai mắt. Anh trả lời một cách thản nhiên tới mức làm tôi phải ngẩn người ra một lúc mới ngấm hết ý.
"Qua biết mình là con rơi nên quen cái nết dòm nét mặt người ta mà sống rồi. Đã vậy còn ham chữ nghĩa, biết tự lo thân. Thành thử ra càng lớn, người ta lại càng khoái lôi qua ra đặng so bì với Thành."
Cậu Ba Thuận nhặt một chiếc lá trúc khô mắc trên lòng ghe, cầm thẳng băng như một cây thước gõ đầu trẻ.
"Dòm thằng Ba kìa!" Anh bỗng đổi giọng đanh lại, nhại cái điệu bộ của người lớn tuổi. "Cái hồi bằng tuổi mày nó đã đọc làu làu, còn mày trầy trật có mỗi chữ E cũng không nhớ! Mày mang danh con đẻ bà Hội đồng, mà thua sút con của một bà trong gánh hát là sao?"
Nói rồi anh buông tay ra. Chiếc lá khô nương theo cơn gió, chao đảo trên không một hồi rồi rớt chìm xuống mặt nước đục ngầu.
"Mấy lời đó nghe riết ai mà chịu cho nổi." Giọng cậu Ba mềm lại, ánh mắt dời về phía tôi. "Rõ ràng Thành nó cũng đâu có tối dạ chi, nhưng mở mắt ra là bị chửi mắng như đồ vô tích sự, thì lâu dần sanh ganh ghét cũng là lẽ đương nhiên."
"Cậu nói y như có mỗi mình cậu Hai bị chửi vậy!" Tôi bất bình cãi. "Rồi còn cậu Tư Thưởng, cô Năm Thảo, rồi cậu Út Thế thì sao? Ai mà hổng bị chửi, hổng bị so với người giỏi hơn?"
"Cũng đúng." Anh khẽ mỉm cười. "Nên qua nghĩ có khi cha mới là người đẩy cớ sự tới nước này..."
"Ông Hội đồng á?" Tôi tròn mắt.
"Cha muốn mấy đứa con trai đứa nào cũng phải có tài, đặng ổng còn nở mày nở mặt với thiên hạ. Có mấy bận Thành mần chuyện trái ý, cha nóng máu còn hăm he bắt Thành phải lột cái danh 'cậu Hai' đặng trả lại cho qua."
Tôi nghe mà giật mình.
"Trả cái danh 'cậu Hai' á?"
"Ừ." Anh gật đầu. "Thành nó khao khát được người ta vị nể. Người trong nhà hổng ai coi trọng nó, thì nó bươn ra ngoài tìm thứ nó thiếu. Bởi cớ đó, mỗi bận ra đường, Thành đều lấy cái danh 'cậu Hai' con ông Hội đồng ra đặng lòe thiên hạ. Cha qua biết cái tánh nết đó nên đem ra hù. Mà, lời cha nói ra lúc giận dữ, nói xong rồi thì thôi. Ngặt nỗi chắc người nghe nhớ hoài. Qua nghĩ Thành bị lời đó nhập vô tâm trí, đâm ra lú lẫn nên mới rắp tâm nghĩ tới chuyện ác nhơn đến vậy."
Tôi nghe tới đó thì tự dưng ruột gan nóng như có lửa đốt, chịu không nổi nữa:
"Cậu Ba!"
"Hửm?"
"Cậu đang kể chuyện người ta muốn lấy mạng cậu đó!" Tôi nhíu chặt đôi lông mày. "Sao cậu nói một hồi, em nghe y chang cậu tìm cớ gỡ tội cho người ta vậy?"
Anh dòm tôi, nét mặt vẫn điềm nhiên không có lấy một chút tức giận. Nhưng anh càng bình thản bao nhiêu, tôi lại càng thấy tức trong lòng bấy nhiêu. Cái con người này bị khùng thì thôi chớ, đằng này tới cái chuyện có kẻ muốn hãm hại mình mà anh cũng không thèm oán than hay nói xấu một lời, là làm sao?
"Qua cũng hổng biết nữa." Anh trầm ngâm. "Chắc tại qua hiểu tại sao họ làm vậy."
"Bộ tỏ tường rồi thì cậu đưa cổ cho người ta cắt khơi khơi vậy sao?"
"Làm gì có." Anh khẽ mỉm cười, đặt tay lên lại mái chèo. "Có điều tường tận hết rồi thì khó oán hờn lắm. Huống hồ chi... đó còn là người trong nhà..."
Cậu Ba đưa mái chèo sang bên trái, tỳ nhẹ vô gờ đất trước khi mũi ghe đâm sầm vô bờ. Chiếc ghe nhỏ nương theo sức đẩy lại trở về giữa lòng rạch. Anh gác lại mái dầm lên, để mặc cho thuyền tiếp tục xuôi theo dòng mà trôi.
"Thiệt ra cái hôm nuốt phải 'phô-mát thánh thần', qua cũng biết mình sắp chết rồi." Cậu Ba Thuận cất giọng điềm nhiên, như thể anh đang kể lại câu chuyện của ai đó chớ không phải mình. "Qua nuốt hết cho trọn mớ nấm nhầy còn sót ở đáy ly, rồi ngồi yên trong buồng chờ chết. Nào có dè... người bước vô buồng bữa đó không phải cậu Hai Thành, mà là em."
Tôi làm thinh, không biết phải nói lời gì cho phải. Một lúc sau, tôi mới hỏi:
"Cớ sao cậu khoanh tay chịu chết vậy? Cậu biết rồi thì dư sức chạy, hoặc méc ông Hội đồng mà?"
"Qua cũng sợ chớ. Chỉ là, qua cũng hổng biết sau này qua sống làm cái giống gì." Ánh mắt anh lại lảng đi đâu đó dưới lòng ghe. "Qua hổng có thú vui hay ham muốn chi hết. Mấy cái người ta khen qua giỏi, qua mần cho tròn bổn phận chớ bụng dạ nào có ưng. Mà qua thì nợ mẹ Từ, nợ bà cuộc sống này, nợ cái nhà này nhiều bề lắm. Ân tình sâu nặng như vậy, nay mẹ Từ muốn qua chết đặng trả hết cho con ruột của bả... thì qua chết, chớ cãi làm chi?"
"Vậy còn phần cậu Ba Thuận thì sao?"
Anh ngẩng đầu lên nhìn tôi.
"Học trò của ông Luật sư Trần Trọng Nhơn biện hộ cho người khác hết rồi. Ai rắp tâm hại cậu, cậu cũng kiếm ra cái cớ chính đáng cho họ hết trơn." Tôi nghiêng đầu nhẹ. "Còn phần cậu tính sao? Sao cậu hổng thử cãi lý cho chính mình?"
Anh không đáp.
"Huỳnh Văn Thuận có làm gì tới mức phải chết hông?"
"..."
"Huỳnh Văn Thuận có đáng được sống hông?"
Cậu Ba ngẩn ngơ nhìn tôi. Cái nắng chiều muộn đã ngả sang màu vàng ươm, dát lên từng rặng dừa nước bên bãi bồi và vương lên cả mái tóc anh. Tôi vẫn ngồi im chờ đợi, gió thổi qua làm mấy sợi tóc tôi nhẹ bay theo. Rồi tự dưng, khóe môi anh nhếch lên một nụ cười nhẹ nhõm tới kỳ lạ.
"Chắc là có." Anh cất lời. "Thằng Thuận phải sống chớ. Sống thì nó mới cưới được em."
Tôi khựng lại. Gió vẫn thổi, nước vỗ nhè nhẹ vào mạn ghe làm tôi thấy mình hơi chao đảo. Mãi một hồi sau, tôi mới lí nhí cất lời.
"Nhưng mà... hổng có được đâu." Tôi siết nhẹ hai bàn tay vô vạt áo bà ba, ngập ngừng nói. "Mai rày cậu tỉnh lại, cậu quên sạch hết trơn hết thảy... quên luôn cả những thứ cậu đương ôm ấp bây giờ... thì em phải làm sao?"
"Hổng có chuyện đó đâu."
"Có đó, chỉ là cậu hổng nhớ thôi." Tôi cúi xuống lòng ghe, giọng nhỏ lại. "Nên là em nghĩ... em hông..."
Đột nhiên, tôi tiếng mái chèo thả xuống mạn ghe. Anh lồm cồm bò nhích lại gần, rồi xòe lòng bàn tay chìa về phía tôi. Nằm gọn giữa lòng bàn tay cậu Ba là một cái nút áo bằng vải. Nó nhỏ thó chừng đầu ngón tay, được khéo léo kết thành hình một bông hoa nhiều cánh, nhưng vải đã xỉn ố cũ mèm, mấy đường viền quanh cánh hoa cũng bung xơ ra lởm chởm. Tôi chớp mắt, ngơ ngác dòm lên.
"Tín vật của qua." Anh mỉm cười dịu dàng. "Em giữ nó đi."
Tôi đỡ lấy cái nút áo, tới chừng dòm kỹ lại mới nhận ra nó được làm theo hình một bông cúc dại. Một cảm giác nôn nao nặng trĩu trong lồng ngực chợt dâng lên. Tôi toan cất tiếng hỏi, nhưng anh đã mở lời giải thích trước:
"Cái hồi qua cớ năm tuổi, gánh hát của mẹ Mộng ghé về đây." Cậu Ba nói, ánh mắt anh như mềm lại. "Đó là bận thứ hai qua được dòm mặt mẹ đẻ. Qua buồn hờn cớ sao mẹ không ở lại nên nhảy bổ vô ôm riết lấy vạt áo, giằng co một hồi thì làm rách luôn bộ đồ bà bận đặng biểu diễn. Lúc đó qua bị người ta túm cổ lôi ra ngoài, nhưng tay vẫn nắm chặt cái nút áo bị đứt, rồi giấu khư khư tới tận bữa nay."
Rồi, anh ngước lên, dòm thẳng vào mắt tôi.
"Mai rày, dẫu cho qua có quên hết những chuyện mới, có mạnh giỏi hay hóa điên hóa khùng... chỉ cần em chìa cái nút áo vải này ra trước mặt qua." Anh nói, khóe môi nhếch lên thành một nụ cười. "Dẫu cho "cậu Ba Thuận gốc" quên sạch trơn chuyện của hai đứa, thì qua cũng sẽ một lòng tin em."
Tôi siết chặt cái nút áo trong lòng bàn tay, cảm nhận được cái hơi ấm còn vương lại trên thớ vải. Nỗi bất an phập phồng trong lồng ngực tôi tự dưng dịu lại, êm đềm tựa dòng nước chảy chậm dưới ghe.
Cậu Ba Thuận trở về, cầm lại mái dầm đặng chèo đưa chúng tôi về bến.
Chiếc xe hơi đã chờ sẵn từ bao giờ. Chúng tôi nhanh chóng trả lại ghe, rồi rời thị trấn lúc trời vừa chạng vạng. Tôi cẩn thận nhét cái nút áo vô túi áo bà ba, ngó qua ô cửa sổ dòm đường xá lùi dần. Nhưng xe hơi vẫn không về nhà ông bà Hội đồng mà lại quẹo vô dừng trước một ngôi nhà ba gian cũ.
Khác với cái dinh thự đồ sộ xa hoa, căn nhà này mang vẻ trầm mặc hơn. Cột nhà bằng gỗ đen bóng, mái lợp ngói đã ngả màu vì thời gian. Hai bên sân, những bụi cây đã rậm rạp như thiếu người săn sóc, nhưng cái lối đi gạch từ cổng vô tới tận hiên nhà thì đã được dọn dẹp sạch sẽ gọn gàng. Lúc bước xuống xe hơi, tôi đã đứng ngoài sân nhìn một hồi, mới quay sang nhìn anh.
"Này là nhà ai vậy cậu?"
"Nhà cũ của qua đó. Đất này là do ông cố để lại cho ông nội, rồi ông nội lại truyền lại cho cho cha. Lúc đón qua về, thì ông bà Hội đồng sống ở đây." Anh bước lên, chậm rãi giải thích. "Giờ ông bà đã có cái dinh thự đồ sộ ngoài kia rồi, mai mốt thằng Út lo chuyện thờ cúng thì cũng ở bên nhà đó. Thành thử cha qua có tính chờ qua đi du học về, lấy vợ xong xuôi thì cho căn này đặng ở riêng."
Nói rồi, cậu Ba Thuận đẩy nhẹ cánh cửa gỗ, kéo theo một tiếng két vang vọng. Mùi gỗ cũ thoang thoảng lập tức tỏa ra.
"Qua có dặn cho người vô dọn dẹp tươm tất hồi hôm kia rồi." Anh quay đầu dòm tôi, ánh mắt chan chứa vẻ áy náy. "Qua tính hai đứa mình tá túc ở đây một thời gian cho mọi chuyện êm xuôi rồi tính tiếp. Em thấy vậy... có khó chịu hông?"
Tôi ngắm nhìn căn nhà gỗ ấm cúng, nhìn khoảng sân gạch rải đầy ánh chiều tà rồi khẽ lắc đầu:
"Cậu Ba nói chi lạ." Tôi đáp. "Có chỗ che mưa che nắng đàng hoàng vầy là em mừng rồi. Em có than vãn chi đâu."
Cậu Ba Thuận khẽ mỉm cười, rồi dắt tôi vô đặng làm quen từng ngóc ngách trong nhà. Đêm dần buông xuống, mấy ngọn đèn dầu cũng được thắp lên sáng rực. Nhưng thiệt kỳ lạ, dẫu đang ở trong một căn nhà xa lạ, tôi lại chẳng thấy sợ hãi khi có anh kề bên.