Chương 10: 'Phô-mát' của thánh thần (1)
"Khi nào vậy cậu?"
"Chắc là trước lúc cái vụ đó xảy ra cỡ vài tiếng đồng hồ." Cậu Ba chạm nhẹ tay lên cằm, ánh mắt nhìn đâu đó vào khoảng không như cố lục tìm ký ức. "Tối đó vú Thơm có bưng lên buồng cho qua một ly sữa nóng đặng uống trước khi đi ngủ. Đang uống, qua tự dưng thấy có cái gì nhầy nhụa trong sữa chạy tuột vô cuống họng, phải ngừng lại liền. Tới chừng dòm vô đáy ly, qua mới thấy cái thứ vàng vàng này chìm ở dưới. Nhưng mà... cái lượng lúc đó chắc chỉ bằng một phần tư trong lọ thủy tinh này."
Tôi chớp mắt, trái tim trong lồng ngực bất giác đánh thụp một cái rõ mạnh.
"Sao tới giờ cậu mới chịu hé răng nói cái vụ đó ra vậy?"
"Làm sao qua dám khẳng định ly sữa đó có vấn đề đặng kể cho em nghe...?" Cậu Ba nói, điệu bộ nghe ấm ức hệt như vừa bị người ta vu oan giá họa. "Cùng lắm thì lúc đó qua nghĩ bụng có người bất cẩn làm rớt vật lạ vô ly thôi."
Tôi im lặng giây lát, ánh mắt di chuyển trở về cái lọ thủy tinh trên bàn. Cái thứ 'phô-mát' vàng tươi kia nom kỳ lạ, nhưng có vẻ quý giá lắm; hiện tại chỉ thấy xuất hiện ở cái chốn Bách-chi Đồng-căn Hội này chứ ở ngoài chắc khó mà tìm. Cái phản ứng lật đật chộp lấy lọ thủy tinh của hai thanh niên lúc nãy cũng nói lên được phần nào đó. Vậy là cái giả thuyết nhà ông Hội đồng có người đang lén lút giao du với hội kín, chắc giờ chẳng cần phải lăn tăn nghĩ ngợi thêm.
Nhưng nếu hỏi về người tôi nghi ngờ... tôi không tin kẻ đó là vú Thơm.
"Em hổng nghĩ là do vú Thơm đâu cậu..." Tôi hạ thấp giọng, nói gần như thầm thì.
"Qua cũng nghĩ vậy." Cậu Ba gật đầu cái rụp. "Vú Thơm nuôi qua từ hồi còn nhỏ xíu. Với là bà cũng già rồi, bị chứng say xe hơi nặng lắm. Cả đời vú lên Sài Gòn được có mấy bận đâu mà biết tới cái chốn này."
"Vậy, có khi nào..."
Tôi đang định nói ra một cái tên, nhưng rồi nghĩ lại mình hơi bộp chộp khi kết luận quá vội vàng. Tôi nhớ đến lời mà gã chủ trì Bùi Vĩnh Quan vừa nói lúc nãy – về cái điều kiện phải chung dòng máu và cùng giới thì mới làm nghi lễ được. Nếu dùng nó để khoanh vùng thì chỉ còn một hai gương mặt đáng ngờ. Ngặt nỗi, giờ tôi chưa có bằng chứng trong tay, suy đoán tào lao mà sai thì dù cậu Ba không trách phạt thì tự thân tôi cũng thấy áy náy. Ngừng lại một lát để kìm nén nhịp thở, tôi mím môi, nhìn sang cậu Ba:
"Cậu có nghĩ là... cái chuyện mà cậu sống lại, em tự dưng đọc được chữ nghĩa... là do chúng mình đã vô tình làm cái nghi lễ, nhưng mà làm sai hông?"
Cậu Ba Thuận nhìn tôi, gật đầu đồng tình.
"Nhưng mà, em cũng hơi khó hiểu." Tôi hạ giọng xuống, ánh mắt nhìn xuống bàn. "Lúc nãy cái gã thanh niên kia khẳng định chắc nịch là hễ làm sai quy tắc, cả hai đứa đều phải chết. Ấy vậy mà... sao cậu với em đều còn sống nhăn răng đứng đây? Cái này em nghi lắm! Hông lẽ cái lũ trong hội này đang che giấu điều gì đó, phao tin đặng bịp bợm người ta?"
"Mà họ bịp bợm như vậy để làm cái chi?"
"Sao cậu lại đi hỏi em..." Tôi ngước mắt dòm cậu. "Cậu thông minh, học rộng biết nhiều như vậy... mà tự dưng đi hỏi một con hầu."
"Qua nghĩ bụng có khi hội này cũng chả biết cái sất gì về trường hợp của hai chúng mình." Cậu Ba tự dưng ghé sát đầu vào tôi, khóe miệng khẽ nhếch lên. "Không ấy thì. Em cầm dao lụi qua thêm bận nữa thì có khi kiểm chứng được nhanh hơn."
"Em lạy cậu đó! Lúc này mà cậu còn giỡn được nữa!" Tôi lật đật giơ tay đẩy người cậu ra. "Em nghĩ chắc mình phải vô buồng nói chuyện với gã chủ trì, đặng mình còn tỏ tường cái nghi thức quái quỷ này nó vận hành ra sao."
Cậu Ba Thuận đưa mắt nhìn về phía lối đi dẫn ra phía sau sảnh tiệc, dán vào những gã phục vụ đeo nơ cổ màu đen đang hướng dẫn những quan khách vô buồng. Khi cậu nhổm người dậy toan bước tới đó, tôi nhanh tay chụp lấy cổ tay cậu, kéo ngược trở lại.
"Cậu ở lại đây đi!" Tôi thì thầm, nhưng giọng đầy kiên quyết. "Lúc nãy cậu không nghe người ta dặn chi hả? Chỉ có những người cùng một dòng máu thì mới có thể thực hiện nghi thức! Lần đầu tiên cậu tới đây, cậu xưng tên thật thì bị đuổi thẳng cổ, nhắm không chừng người ta đã liệt tên cậu vô danh sách đen của Hội rồi! Giờ mà cậu mò tới buồng riêng, tụi nó phát hiện rồi giết cậu thì sao?!"
Cậu Ba Thuận chớp mắt, nghiêng nhẹ đầu.
"Vậy chứ em tính sao?"
"Để em đi cho!" Tôi nói bằng giọng chắc nịch. "Em chỉ là con ở trong nhà, mặt mũi lạ quắc, hổng ai biết em là ai. Em sẽ vô đó dò hỏi, rồi lỡ có chuyện chi thì cũng dễ bề chuồn ra ngoài."
Lần này cậu Ba Thuận cũng dòm thẳng vào mắt tôi, nhưng không còn hốt hoảng như hồi bàn chuyện ở dưới quê nữa. Có điều, nét lo lắng thì vẫn còn đọng lại đó. Cậu siết nhẹ bàn tay tôi, mấy ngón tay cậu run run như không nỡ để tôi đi vào chỗ nguy hiểm. Cuối cùng, cậu Ba nhắm mắt, trút ra một hơi thở dài thườn thượt. Cậu buông tay tôi ra, hạ giọng thì thầm:
"Được rồi... Qua tin tưởng em." Cậu nói. "Nhưng phải thật cẩn thận, có chuyện gì là phải chạy ra liền, nghe chưa?"
Tôi gật đầu, đứng lên bước lại gần những người phục vụ nơ đen để hỏi về việc muốn vào buồng riêng.
Muốn bước chân vô buồng sau để đàm đạo riêng với chủ trì, mỗi vị khách phải móc túi trả trước hai chục đồng.
Tôi nghe xong mà ngẩng người, thầm nghĩ cái chốn này đúng thật kinh khủng, cái chi cũng quy ra tiền với bạc. Ấy vậy mà mớ quan khách ở đây hình như chẳng có vấn đề chi với việc đó cả, họ cứ thế thản nhiên móc tiền ra trả, hệt như bản thân chỉ quăng vài ba xu.
Trả tiền xong thì cũng chưa được vô liền, mà phải xếp hàng chờ đến lượt. Ở cửa buồng có hai gã bảo vệ cao to, bận đồ tây đen và đeo mặt nạ. Tuy cái hội kín tà ma là thế, nhưng chắc do cái quy luật "phú quý sinh lễ nghi", mấy con người ở đây cũng tự dưng có ý tứ chờ đợi, lịch sự nhẹ nhàng hơn chốn chợ đời.
Trong lúc đợi đến lượt, tôi ngồi ở quầy bar đặt ở sát lối vô. Cậu Ba Thuận thấy vậy thì cũng tới ngồi chung, rồi kêu cho cả hai đứa ly rượu cho phải đạo. Tôi ngồi mà cứ nhấp nhổm, tay cầm ly rượu Cognac pha soda mà ánh mắt cứ ngó về phía cửa buồng hoài. Uống được chừng một phần ba ly, một gã phục vụ với nơ đen cũng tiến đến gần, thông báo rằng đã đến lượt tôi vào trong.
"Qua sẽ chờ em ngoài này." Cậu Ba Thuận đỡ lấy ly nước trên tay tôi, nói thì thầm. "Có biến cố hay bất trắc chi, em cứ kêu lớn một tiếng, qua sẽ vô liền. Cẩn thận nghen."
Tôi gật đầu để cậu yên lòng, rồi xoay người, theo sự hướng dẫn của gã phục vụ mà bước qua bức rèm nhung đen.
Cái "cửa buồng" mà tôi tưởng hóa ra lại là một cái hành lang, dài thăm thẳm dẫn sâu vào trong nhà. Tôi đi theo gã phục vụ mặc đồ đen, vô tình đụng mặt một vị khách ở lượt trước đang đi theo chiều ngược lại. Theo lẽ lịch sự chốn thượng lưu, hai đứa tôi khẽ gật đầu chào nhau một cái, rồi tiếp tục đường ai nấy đi.
Vậy là căn buồng riêng này chỉ có một lối ra vô.
Tới cuối dãy hành lang, trước mặt chúng tôi xuất hiện hai căn phòng với cửa bằng gỗ. Gã phục vụ gõ cộc cộc vô cánh cửa phía bên trái, đợi đến khi bên trong nói vọng ra tiếng "Vô đi." thì mới chậm rãi đẩy cửa mở, cúi người làm dấu mời tôi vào. Tôi nén nhịp thở, từ tốn bước vào trong.
Ngay lập tức, tôi cảm nhận được bầu không khí ngột ngạt quấn trọn lấy phổi mình. Căn phòng này không có cửa sổ, cũng chẳng còn lối đi nào khác ngoài cánh cửa gỗ mà tôi vừa bước qua.
Dưới ánh sáng lờ của bóng đèn điện, tôi thấy một pho tượng đá cao chừng tầm một mét ở góc tường đối diện. Pho tượng tạc hình một người đang ngồi xếp bằng, nom sơ qua thì giống tượng Phật, nhưng khi dòm kỹ lại thì không phải. Gương mặt của tượng bị đục đẽo méo xẹo, ngũ quan lệch lạc, biến dạng một cách dị hợm hệt như tác phẩm vụng về của một gã thợ học nghề.
Song, thứ khiến tôi chú ý nhất là cái tượng này mọc đầy những mảng "rêu" màu vàng rực, nhầy nhụa, và phập phồng nhè nhẹ như một khối thịt sống. "Đám rêu" này bò lan rộng ra chung quanh, leo chằng chịt lên vách tường gạch rồi tràn lên tận trần nhà, phủ kín một góc buồng trong cái sắc vàng tươi quái lạ.
Ở góc buồng còn lại, bàn ghế bằng gỗ đã được xếp đặt sẵn, kiểu dáng tựa tựa loại ngoài sảnh tiệc. Trên bàn có một bình trà, xếp thêm vài cái ly thủy tinh nhỏ. Vị chủ trì Bùi Vĩnh Quan thấy tôi bước vô liền đứng dậy, nở một nụ cười nhã nhặn. Gã giơ tay ra chào đón, cất giọng mời tôi ngồi xuống ở ghế đối diện để tiện trao đổi thông tin.
Tôi làm theo.
"Lâu lắm rồi tôi mới thấy một gương mặt quý cô mới." Gã mỉm cười với tôi, giọng vẫn nhẹ nhàng như đang cố vỗ về những tâm hồn nhạy cảm. "Chẳng biết điều gì đã xui khiến một bông hoa kiều diễm như quý cô tìm đến đây vậy? Là vì sự hiếu kỳ, hay cô cũng có tâm sự riêng?"
Tôi giữ nét mặt bình thản, ngồi thẳng lưng để đối diện với Bùi Vĩnh Quan.
"Những chuyện anh nói ngoài sân khấu hồi nãy... tất cả đều là sự thật hả?"
"Tôi không phải một kẻ hay thốt lời dối trá hay lừa lọc đâu." Gã chủ trì tựa nhẹ lưng vào thành ghế. "Người ta đâu thể cứ đến đây hoài chỉ để nghe lời mị hoặc viển vông."
Tôi hít một hơi sâu, không kìm được mà ngoái đầu lại nhìn cái pho tượng một lần nữa. Tôi thò tay vô túi xách, lấy ra cái lọ thủy tinh nhỏ xíu chứa khối vàng tươi rồi đặt xuống mặt bàn. Mi mắt của Quan khẽ cụp nhẹ, dõi theo từng chuyển động trên ngón tay tôi.
"Tôi muốn hỏi... cái thứ này... rốt cuộc là cái gì vậy?" Tôi cất tiếng hỏi. "Anh nói nó là 'phô-mát' của thánh thần, nhưng mà... cụ thể thì nó là cái gì? Tôi có thể biết được không?"
"Cô có vẻ là người rất cẩn trọng ha?" Gã mỉm cười.
Tôi im lặng.
"Nhưng cô nghi ngờ đúng đó. Thật ra, thứ trên tay cô không phải là phô-mát hay đồ ăn thức uống chi hết, mà chính là món quà tuyệt mỹ chúng tôi đã thu hoạch được từ trên bức tượng đá kia." Vĩnh Quan chỉ tay về phía pho tượng quái dị trong góc buồng, nhưng ánh mắt gã vẫn dán chặt vô mặt tôi, khẽ nghiêng đầu nhẹ. "Theo những gì chúng tôi tìm tòi qua sách vở phương tây, thì người ta gọi đó là nấm nhầy. Không biết câu trả lời thành thực ấy đã khiến cô hài lòng chưa?"
Hàng lông mày tôi khẽ cau lại. Nấm nhầy? Đó là cái giống gì vậy đa? Tôi thử lục lọi tâm trí mình, nhưng dường như ngay cả "phép thuật" giúp tôi biết tiếng tây cũng chẳng có chút hiểu biết gì về thứ này.
"Nó là một loại nấm ư?" Tôi cất tiếng hỏi, giọng đong đầy ngờ vực. "Ý anh nói... nó là một loại nấm mang phép thuật hả?"
"Thành thực mà nói, tôi e rằng gọi nó là nấm thì không được đúng cho lắm." Gã thong thả đáp. "Nói về cội nguồn của giống này thì mù mịt vô cùng, ngay cả bản thân tôi chắc cũng không bao giờ mà tỏ tường hết được. Bởi lẽ... chúng không phải sinh ra từ dưới trần gian, mà rơi xuống từ trên trời."