Ngoại Truyện: Hào Kiệt Đứng Lên Giữ Cõi Bờ
Mùa Đông năm Canh Tý[1].
Tôi khẽ kéo vạt áo nâu cho kín cổ,gió từ triền núi thổi về, lạnh cắt da cắt thịt, len lỏi qua từng kẽ liếp tre, mang theo cái buốt giá quen thuộc, cái rét mà chỉ cần chạm phải thôi, là ký ức cũng theo đó mà trở mình.
Ngoài kia, núi rừng chìm trong một màu xám đục. Sương mù giăng kín lối, dày đặc đến nỗi con đường mòn dẫn ra bến suối cũng chỉ còn lờ mờ như một vệt khói. Cây cối đứng im thin thít, cành khẳng khiu khẽ rung lên mỗi khi gió quẩn qua, phát ra những tiếng xào xạc khô khốc.
Tôi khẽ thở ra một hơi dài, hơi thở trắng đục trước mặt rồi tan biến.
“Làm răng mà đứng thừ ra thế kia?”
Tiếng gọi cất lên ngay bên cạnh làm tôi giật mình, hoàn hồn trở lại. Quay sang thì thấy Nguyễn Xí[2] đã đứng đó tự lúc nào. Tôi bật cười nhẹ, đáp:
“Có gì đâu… chỉ là chợt nhớ mấy chuyện cũ thôi mà.”
Nói rồi, tôi đưa mắt nhìn xuống. Cậu ta đã quỳ nửa gối dưới sân, tay cầm khúc xương chìa ra trước mõm con chó mực. Con vật vẫy đuôi rối rít, thỉnh thoảng lại khẽ ư ử, hơi thở phả ra thành từng làn khói mỏng giữa cái rét căm căm của buổi sớm.
Tôi bất ngờ ngồi thụp xuống bên cạnh Xí, nheo mắt nhìn rồi hỏi:
“Ối chà chà… khúc xương ở đâu mà to thế?”
Cậu ta vẫn ung dung vuốt ve con chó mực, để mặc nó dụi đầu vào tay một hồi lâu, rồi mới hất cằm, cười khẽ:
“Ha… xương ngựa của đám giặc Minh đấy. Hôm trước nghe tin giặc kéo tới, Chúa công[3] cho mai phục ở bến Bổng còn gì.”
Chuyện ấy tôi cũng có nghe. Trận đó thắng lớn, lão nhà tôi từng kể, giặc chết la liệt, ngựa chiến của chúng bị bắt sống đến hơn trăm con.
Nguyễn Xí bảo, trong số ấy cũng có dăm con gục ngay tại trận, thế là cậu ta sai người róc lấy xương, đem về cho đám chó cưng gặm dần. Nghĩ đi nghĩ lại, cậu Xí này có khi còn giống lão chồng tôi như đúc. Nuôi chim, nuôi chó, cứ phải gọi là cả đàn. Con nào con nấy béo tốt, lông mượt, nhìn qua tưởng một khuôn mà ra.
Đến cái đám “thần khuyển” của cậu ta cũng thế, con nào con nấy đen nhẻm như nhau, chạy loăng quăng cả sân, nhìn hoa cả mắt.
Thành ra tôi cứ tiện miệng gọi đại:
“Mực! … Mực!”
Ấy vậy mà con nào con nấy cũng quay đầu lại, vẫy đuôi rối rít như thể được gọi trúng tên mình thật.
Cách đây dăm ba năm, ở đất Lam Sơn[4] có một người đứng lên dấy nghĩa, truyền hịch khắp chốn gần xa, kể tội giặc Minh mà khuyên dân đồng lòng đứng dậy. Người ấy họ Lê, tên Lợi.
Đến nay cũng đã ngót hai năm. Nghĩa quân khi thịnh khi suy, có lúc tưởng chừng tan tác đến nơi, vậy mà vẫn gượng dậy, bám trụ được đến giờ. Âu có lẽ là mệnh trời chưa dứt.
Lê Lợi vì lo việc lớn, rong ruổi khắp nơi, chiêu mộ anh hùng bốn phương, kết thành một dải mà chống giặc. Bởi vậy, chúng tôi đều kính cẩn gọi một tiếng Lê Chúa cho phải đạo. Dẫu mai sau cuộc khởi nghĩa này thành hay bại, thì cái công dựng cờ khởi nghĩa, giữ lòng dân của Lê Chúa, ắt hẳn cũng còn lưu danh với hậu thế.
Nghe tin Lê Lợi dấy nghĩa, chồng tôi mừng lắm. Vài tháng trước đã đem quân Hoàng Nghiêu lên Lam Sơn theo về dưới trướng Lê Chúa.
Mới đây, chồng tôi theo Lê Chúa mai phục ở bến Bổng[5], đánh một trận thắng lớn, giờ đang lui về nghỉ ở Mường Nanh. Từ ngày nhập vào một đội quân đông mạnh hơn trước, lòng tôi lại càng thêm nặng. Việc lớn đã gánh trên vai, đường lui e rằng chẳng còn.
Tôi vẫn hiểu, phen này mà lỡ dở, thì e đến cái đất Đại Việt này… cũng chẳng còn ngày trở lại mà nhìn thêm lần nữa.
Nhìn ra màn sương trắng xóa trước mặt, tôi buột miệng hỏi Nguyễn Xí, mà cũng như tự hỏi chính mình:
“Nếu lần này… mà không thành thì sao? Hay là… cũng chẳng sao cả nhỉ? Việc mình làm, mấy ai để tâm đâu…”
Nguyễn Xí nghe vậy thì khẽ cười. Cậu ta ngước mắt nhìn xa xăm về phía núi mờ trong sương, một lúc sau mới chậm rãi nói:
“Đã là việc nên làm… thì sao lại không làm cho đến cùng.”
Cậu ta khẽ thở ra, hơi trắng tan vào không khí lạnh:
“Lúc xông pha trận mạc, cái chết bủa vây tứ phía, có khi lại tự hỏi… mình liều mạng thế này để làm gì, trong khi thiên hạ mấy ai biết, mấy ai ghi nhận.”
Nói đến đó, cậu ta khẽ lắc đầu:
“Nhưng rồi nghĩ lại… ta làm việc này đâu phải để người đời công nhận. Cũng chẳng cần ai báo đáp.”
Cậu ta quay sang nhìn tôi:
“Chị Bành nghĩ tôi làm việc này là để thành tướng oai hùng, cứu thế cứu dân ư?”
Ngừng một chút, cậu ta lại cười nhẹ:
“Không phải vậy đâu. Chỉ là… việc này cần phải có người làm. Mà đã cần, thì phải có kẻ đứng ra.”
Gió lại thổi qua, lay động hàng tre trước sân.
“Mà chẳng qua… người đó là chúng ta thôi.”
Hơi lạnh cùng những lời của Nguyễn Xí thấm dần vào da thịt, len lỏi từng chút một, khiến tôi bất giác rùng mình. Ngay từ thuở ban đầu, tôi theo nghĩa quân cũng chỉ mang một tấm lòng giản đơn, trả nợ nước, đền thù nhà. Nếu đã sợ hãi, thì hẳn tôi đã dừng bước từ ngày mẹ níu tay, ngăn tôi rời đi.
Nguyễn Thị Bành này xưa nay chưa từng sợ chết.
Vậy mà đứng trước cục diện lúc này, lòng tôi lại có lúc chao đi.
Sương xuống mỗi lúc một dày, hơi ẩm thấm lạnh cả sống lưng, lại khiến đầu óc tôi tỉnh táo hơn bao giờ hết.
Đúng lúc ấy, phía sau bỗng vang lên một giọng nói ồm ồm:
“Sao mới dăm ba tháng không gặp… trông ngươi gầy rộc đi thế kia?”
Một người đàn ông từ phía sau bước tới, dáng đi khoan thai mà rắn rỏi, tóc đã điểm bạc búi gọn trên đỉnh đầu, nước da ngăm màu đồng, bộ râu lưa thưa theo năm tháng.. Theo sau ông là hai người nữa, trông đều là kẻ từng trải.
Nguyễn Xí vừa nghe tiếng đã bật cười, quay lại:
“Ha ha, lâu lắm mới gặp lại anh đấy! Vẫn khỏe chứ?”
Người kia chưa kịp đáp, chợt như cảm nhận có ánh nhìn, liền quay sang phía tôi. Ánh mắt ông dừng lại một nhịp, rồi nở nụ cười có phần trêu chọc:
“Ái chà… ở đâu ra lại có người đẹp thế này?”
Tôi hơi khựng lại, chưa biết đáp sao thì Nguyễn Xí đã nhanh miệng nói đỡ:
“Đây là Thị Bành, vợ của tướng Nguyễn Chích đấy.”
Người đàn ông nghe đến tên chồng tôi, ông “à” lên một tiếng, rồi khẽ gật gù:
“Ra là Nguyễn Chích… nghe danh đã lâu”
Nguyễn Xí đứng cạnh liền quay sang giới thiệu:
“Chị Bành, đây là anh Lê Sát[6]. Còn kia là Lê Hào[7], người từng dẫn quân đánh vào đồn Quan Du đấy. Người đứng phía sau là Lê Nhữ Tốn, thuộc dưới trướng hai anh.”
Tôi khẽ cúi đầu chào, trong lòng không khỏi dậy lên một nỗi bất ngờ xen lẫn kính phục. Trận Quan Du tôi chỉ được nghe qua lời kể, mà thanh danh thì đã vang xa, khiến quân giặc cũng phải khiếp vía. Không ngờ hôm nay lại được tận mắt gặp những người làm nên trận đánh ấy.
Quan Du[8] vốn là một đồn binh lớn của quân Minh, thành lũy kiên cố, canh phòng nghiêm ngặt. Chúng dựng đồn ở đó để chặn đường tiến của nghĩa quân Lam Sơn, không cho lan rộng thế lực ra các vùng xung quanh.
Thế nhưng, sau nhiều lần bị ta khiêu khích, quấy rối, quân trong đồn dần sinh mỏi mệt, lơi lỏng phòng bị.
Chính vào lúc ấy, Lê Chúa sai Lê Sát cùng Lê Hào dẫn quân đánh úp.
Trận đánh diễn ra như sấm nổ giữa đêm. Nghĩa quân xông vào như nước vỡ bờ, đánh tan quân giặc, chém hơn ngàn tên, thu được vô số khí giới.
Trận Quan Du không chỉ là một thắng lợi lớn, mà còn như ngọn lửa thổi bùng ý chí của quân sĩ Lam Sơn, khiến lòng người trong vùng bị giặc chiếm cũng thêm phần vững dạ, tin vào ngày khôi phục. Nghĩ đến đó, tôi lại nhìn họ thêm một lần nữa, những con người tưởng chừng bình thường, mà lại gánh trên vai những việc lớn của thiên hạ.
“Ta biết ta giỏi thật… nhưng cô đừng nhìn chằm chằm như thế được không?”
Nghe ông nói, tôi giật mình, vội thu ánh mắt lại, lúng túng giải thích:
“Không phải… chỉ là tôi đã nghe danh các anh từ lâu. Thực lòng rất nể phục. Đánh cho quân Minh khiếp vía như thế… tôi đây còn phải học theo dài dài.”
Lê Sát nghe vậy thì bật cười ha hả. Tiếng cười ông vang dội, sảng khoái, tưởng như có thể lan cả vào vách núi, dội lại thành từng hồi. Tôi đứng đó mà chẳng biết nên cười theo hay giữ nghiêm cho phải phép.
Ông nhìn tôi, ánh mắt nheo lại, nửa đùa nửa thật:
"Quả đúng là phu nhân của Nguyễn Chích… nói năng cũng không phải dạng vừa nhỉ"
Nói đoạn, Lê Sát quay sang phía Nguyễn Xí, giọng trở nên trầm lại:
“Mà ngươi nói xem… Lê Chúa hiện đang đóng quân ở Mường Thôi, chẳng hay bao giờ mới hồi doanh?”
Nguyễn Xí chắp tay đáp, giọng điềm đạm:
“Việc ấy tôi cũng không dám chắc. Khi rời đi, Lê Chúa đã sai Đinh Lễ[9], Trịnh Khả[10] cùng Nguyễn Chích đem quân đánh úp. Chỉ là cánh quân của Tông Lỗ[11], thế lực không lớn, nên cũng không đáng lo. Phen này đã thắng trận… chắc chỉ dăm ba ngày nữa là Chúa công sẽ quay về thôi.”
Lê Sát gật đầu, ánh mắt thoáng suy tính:
“Vậy thì được. Ta cứ tạm ở đây đợi. Đợi Chúa công về, ta còn có vài điều cần hỏi cho tỏ.”
Gió rừng thổi qua, mang theo mùi cỏ khô và khói bếp thoảng nhẹ.
Tôi đưa mắt nhìn sang người đang đứa phía sau Lê Sát, Lê Nhữ Tốn.
Người ấy dung mạo khôi ngô, nét mặt sáng sủa, nhưng lại mang một vẻ gì đó trầm lặng khác thường. Tôi nhìn mà thấy quen… dường như đã từng gặp ở đâu, nhưng nghĩ mãi vẫn không sao nhớ nổi.
Đôi mắt anh ta hơi trầm xuống, phảng phất một nỗi buồn khó gọi tên. Đầu lúc nào cũng cúi nhẹ, như đang mải nghĩ chuyện gì xa xăm. Mọi câu chuyện xung quanh dường như chẳng chạm đến anh ta, người đứng đó, mà lại như đứng ngoài tất cả.
Tôi khẽ rời mắt đi, chẳng bận tâm nữa.
Trời vừa điểm sang giờ Mão. Ánh nắng sớm len qua từng vạt núi, nhẹ nhàng xua đi lớp sương mờ còn vương trên triền dốc, để lộ ra cảnh vật dần rõ nét trước mắt. Không khí vẫn còn lành lạnh, nhưng đứng dưới nắng, da thịt cũng thấy ấm lên đôi phần.
Tôi ngồi cùng anh em bên bếp lửa, mỗi người một bát cháo trắng còn bốc khói nghi ngút. Chỉ cần húp một ngụm thôi, cái ấm lan xuống tận bụng, xua đi cái rét của núi rừng, ai nấy cũng thấy dễ chịu hơn hẳn.
Sương rồi cũng tan.
Tôi chợt nghĩ, con đường phía trước của nghĩa quân Lam Sơn, dẫu lúc này còn mờ mịt, rồi cũng sẽ có ngày được ánh sáng soi tỏ như thế. Ánh nắng ấy… sẽ dẫn lối cho muôn dân Đại Việt, đi tới một ngày yên bình, no ấm.
-HẾT-
Chú thích:
[1] Năm 1420, Minh Vĩnh Lạc thứ 18
[2] Nguyễn Xí (1397 – 1465) là một vị tướng, nhà chính trị, công thần khai quốc nhà Hậu Lê và là đại thần trải qua 4 đời vua.
[3] Lê Lợi(1385-1433) người đã thành lập một đội quân và lãnh đạo đội quân này chiến đấu chống lại sự chiếm đóng của quân đội nhà Minh từ năm 1418 đến lúc đánh đuổi hoàn toàn quân Minh ra khỏi Đại Việt vào năm 1428 sau đó xây dựng và tái thiết lập đất nước.
[4] Lam Sơn thuộc tỉnh Thanh Hóa, nơi đây từng là vùng căn cứ đầu tiên của nghĩa quân Lam Sơn vào đầu thế kỷ XV.
[5] có lẽ nằm trên thượng lưu sông Chu(Đại Việt Sử Ký Toàn Thư)
[6] Lê Sát là một trong những công thần khai quốc của nhà Lê sơ, là chính khách, nhà quân sự thời Lê sơ. Ông là người làng Bỉ Ngũ, thuộc Lam Sơn, huyện Thọ Xuân.
[8] Lê Hào là tướng của nghĩa quân Lam Sơn.
[9] Đinh Lễ là công thần khai quốc nhà Lê sơ người sách Thùy Cối, nay là Lam Sơn, Thọ Xuân, Thanh Hóa.
[10]Trịnh Khả là chính khách, nhà quân sự, tể tướng Đại Việt thời Lê sơ Ông được xem là một trong những công thần khai quốc của triều Lê
[11] là Giao Chỉ hữu tham nghị, (người Tứ Xuyên) trước làm Tri phủ Tam Giang, bị Hoàng Phúc nhận xét là: "Hỏi đến vốn học thì chẳng biết gì, xét đến việc làm thì không có gì đáng kể, cả phủ chỉ một mình là nhất, nhưng suốt ba năm công việc chỉ nhờ người" (Đại Việt Sử Ký Toàn Thư).