Ngoại truyện: Trăng Khuyết Chứng Lòng
Tôi nghe chị Liễu nói mà miếng cơm trong miệng bỗng đắng ngắt, nghẹn ứ nơi cổ họng. Thương chị, thương u, mà lòng tôi cũng tự dưng dâng lên một nỗi bất an mơ hồ khó tả. Đêm đó, tôi nằm trên chõng tre, gác tay lên trán, trằn trọc mãi không ngủ được. Ngoài kia gió thổi qua rặng tre xào xạc, tiếng dế kêu râm ran càng làm lòng thêm rối bời, bóng hình Nguyễn Chích với cái nắm vạt áo bịn rịn hôm nào cứ chập chờn hiện ra trong tâm trí.
Mấy ngày sau ở Tĩnh Gia, lòng dạ tôi cứ bồn chồn không yên. Làm gì cũng thấy lơ đãng, trong bụng cứ như có lửa đốt, đứng ngồi không đặng.
Chiều bữa đó, tôi đứng ngoài hiên, đưa mắt nhìn về phía rặng núi xa xa, lòng còn đang mải nghĩ ngợi. Bỗng đâu một cơn gió thổi ngang qua, mang theo cái mùi khét lẹt lạ hoắc xộc thẳng lên mũi.
Tôi khựng lại, hít thêm một hơi cho rõ. Cái mùi nồng nặc, ngai ngái, hắc đến khó chịu… không lẫn đi đâu được mùi phân trâu bò bị đốt.
Đầu óc tôi chợt lóe lên một ý nghĩ. Tôi sực nhớ lại bữa ở Hoàng Nghiêu, Nguyễn Chích từng kể truyền tin gần thì đánh trống, còn truyền tin xa thì đốt phân trâu bò cho khói bay lên làm hiệu. Lỡ như có khi không dùng được bồ câu đưa thư, thì phải theo cách trong binh pháp mà làm.
Nghĩ tới đó, ruột gan tôi thắt lại. Linh tính trong người cứ mách bảo có chuyện chẳng lành đang xảy ra ở Hoàng Nghiêu. Chắc hẳn bị vây bủa tứ phía, đường cùng lắm rồi nên anh mới phải phát tín hiệu cầu viện kiểu này.
Tôi đứng không yên nữa. Trong lòng nóng như lửa đốt. Không lẽ ngồi đây mà nhìn người đàn ông của mình lâm nguy?
Nghĩ vậy, tôi lập tức chạy thẳng ra đầu làng, vừa chạy vừa gọi lớn, hô hào trai tráng trong làng tụ lại. Một mình tôi mà băng đêm tới Hoàng Nghiêu cứu viện thì khác chi nộp mạng.
Tôi gom góp được chừng trăm người trong làng, kẻ cầm gậy, người xách dao, lôi thêm mấy cây giáo cũ với vài lá cờ xí. So với quân giặc thì chẳng đáng là bao, nhưng phen này tôi đành liều một ván lớn, được ăn cả, ngã về không.
Đêm hôm ấy là một đêm thu. Trời cao và trong vắt, ánh sao rải đầy như vừng, nhưng không gian lại tĩnh lặng đến lạ. Gió heo may thổi nhè nhẹ qua những rặng tre, phát ra tiếng xào xạc khô khốc, nghe mà lạnh cả sống lưng.
Tôi dẫn anh em lặng lẽ men theo đường rừng, tiến về phía căn cứ trong đêm tối. Trời chỉ có ánh sao leo lét, ai nấy bước chân mà lòng nặng trĩu. Đi gần tới nơi, nhìn từ xa đã thấy ánh đuốc sáng rực một vùng, quả nhiên doanh trại đã bị bao vây kín mít.
Tôi bắt gặp một người dân làng Ó đang lẩn trong bụi tre, liền kéo lại hỏi thăm.
Người đó thở hắt, giọng đầy lo lắng:
“Bọn Lương Nhữ Hốt kéo quân tới vây thành cũng hai bữa ni rồi. Mà lạ cái là tụi hắn không đánh ập vô như mọi khi, cứ án binh đó, chờ Chủ tướng mình cạn lương mà phải đầu hàng đó thôi…”
Nghe tới đó, ruột gan tôi như thắt lại. Nhưng càng lúc tôi càng hiểu, chỉ lúc này, nếu không có người bên ngoài đánh vào, thì nghĩa quân chỉ còn đường chết đói trong vòng vây.
Tôi siết chặt tay, mắt dán về phía doanh trại đang le lói ánh lửa giữa vòng vây. Quân mình thì ít ỏi, nếu cứ xông thẳng vào mà đánh, khác chi lấy trứng chọi đá, chỉ có đường chết uổng.
Nghĩ một hồi, tôi liền nảy ra kế nghi binh.
Tôi hạ giọng dặn anh em rằng giương cao hết cờ xí lên, ai nấy khi đi thì dậm chân thật mạnh xuống đất, cứ thế mà tiến, tạo cho được tiếng động rầm rập. Trống không có thì lấy gậy đập xuống đất, xuống thân cây cho vang. Làm sao cho bọn giặc ở trong kia nghe mà tưởng có đại quân kéo tới.
Chẳng mấy chốc, cả một vùng rừng đêm rung lên bởi tiếng chân người dồn dập, tiếng hò khe khẽ, cờ xí phấp phới trong gió thu. Nhìn từ xa, khác gì một đạo quân lớn đang áp sát.
Tôi đứng phía sau, lòng thầm tính toán. Lương Nhữ Hốt vốn đa nghi, lại tham sống sợ chết. Chỉ cần hắn thấy động mà không rõ thực hư, ắt sẽ sinh lo, sinh sợ.
Chỉ cần hắn dao động một chút thôi, là thế cục sẽ đổi.
Bọn giặc canh gác vừa trông thấy cờ xí phấp phới dưới ánh sao mờ, lại nghe tiếng chân dậm rầm rập như đất chuyển, chắc mẩm tụi nó đã vội vàng chạy về báo với Lương Nhữ Hốt.
Tôi đứng phía sau, lòng căng như dây đàn. Lần này mà hắn vẫn liều lĩnh kéo quân ra đánh, thì coi như chúng tôi khó toàn mạng. Nhưng nghĩ lại những lần từng giáp mặt, tôi hiểu rõ tính hắn, nên vẫn tin kế này sẽ thành.
Tôi không thể để cơ nghiệp mà Chủ tướng dày công gây dựng bao năm lại tan tành chỉ trong chốc lát.
Vì quân ít, chúng tôi cũng không dám tiến nhanh, cứ từ từ mà áp vào Hoàng Nghiêu. Mỗi bước chân đều dậm thật mạnh xuống đất, tay cầm gậy thì đập vào thân cây cho vang. Nhiều trai tráng còn hô hoán râm ran, làm như khí thế ngút trời.
Đêm thu vốn se lạnh, vậy mà lúc ấy không khí lại nóng hầm hập. Ai nấy đều nín thở chờ đợi, tai căng ra nghe từng động tĩnh phía trước, tim đập thình thịch trong lồng ngực, mồ hôi rịn ra dù gió vẫn thổi qua lạnh buốt. Cả cánh rừng như cũng lặng đi, chỉ còn tiếng chân dậm đều và tiếng lá khô xào xạc.
Ấy vậy mà chưa đầy hai khắc, phía bên kia đã rối loạn. Đuốc đổ nghiêng ngả, quân Minh mạnh ai nấy chạy, bỏ cả hàng ngũ mà tháo lui tán loạn.
Nhanh hơn cả những gì tôi dự liệu.
Canh ba, bầu trời phủ một màu đen đặc quánh, tĩnh mịch đến ngột ngạt. Trăng đã khuất sau tầng mây mỏng, chỉ còn vài vì sao le lói như sắp tắt. Gió thu thổi về từng cơn, lạnh len lỏi qua da thịt, khiến ai nấy gai cả óc, sống lưng cứ rờn rợn. Ngoài bụi rậm, tiếng côn trùng rỉ rả không ngớt, lúc gần lúc xa, nghe càng thêm quạnh quẽ. Thỉnh thoảng lại có tiếng chim đêm kêu khan một tiếng rồi im bặt. Sương xuống mỗi lúc một dày, phủ mờ cả lối đi, bám ướt vai áo, khiến bước chân nặng trĩu. Cỏ cây im lìm, rặng tre đứng sững trong đêm, lâu lâu lại rung lên khe khẽ theo từng cơn gió, phát ra tiếng xào xạc như tiếng người thì thầm.
Tôi men theo con lối nhỏ quen thuộc dẫn lên Hoàng Nghiêu. Đường đêm trơn ướt vì sương, cỏ dại quệt vào ống quần lạnh buốt. Lên tới nơi, thấy anh em ngồi túm tụm dưới gốc cây, người tựa lưng vào nhau mà nghỉ ngơi, mặt mày ai nấy hốc hác, phờ phạc. Mấy ngày bị Lương Nhữ Hốt vây riết, cơm không yên bữa, ngủ chẳng trọn giấc, nên nhìn là biết mệt đến cỡ nào.
May sao giờ giặc đã rút, doanh trại lại im ắng, chẳng còn tiếng binh đao gấp gáp nữa. Như vừa trút được tảng đá đè nặng trong lòng bấy lâu.