Ngoại truyện: Vạt Áo Níu Lại Tỏ Luồng Nhớ Thương.
Sau này nên duyên, trời đất cũng như dịu lại đôi phần. Tôi dậy từ tinh mơ, khi sương còn giăng mỏng trên lối cỏ, lặng lẽ ra sau lều hái mấy cành đào vừa hé nụ, đem về cắm vào chiếc chum đất nhỏ đặt nơi góc bàn. Hoa đào phơn phớt hồng, lay nhẹ trong làn gió xuân, làm sáng bừng cả một khoảng không gian vốn quen với khói bếp và mùi binh lửa.
Hôm ấy, theo lệ thường, tôi lén ra bờ sông hẹn gặp chàng. Trời vừa xế chiều, nước sông lững lờ trôi, lòng tôi cũng thấp thỏm mong ngóng. Nào ngờ chẳng biết từ đâu, Nhuế, Diêu rồi cả anh Chính lại kéo đến, nhất quyết lôi tôi đi đánh cờ. Tôi tìm cách thoái thác mà không được, đành bị giữ chân ở đó, nhìn trời dần sẫm lại mà ruột gan nóng như lửa đốt. Cuộc hẹn riêng tư thế là tan, để lại trong lòng cả hai nỗi khổ sở không sao nói hết.
Đến khi gặp lại, chàng bỗng nói, giọng nửa bực nửa quyết:
“Không được, thế này là không xong đâu, Bành à. Ta nghĩ suốt cả một đêm rồi… chúng ta phải làm lễ cưới!”
Tôi nghe mà giật mình, hoảng hốt trước ý nghĩ táo bạo ấy, vội lắc đầu:
“Sao mà được… Giữa thời loạn lạc thế này, giữ được mạng sống đã là may. Lễ cưới hay hình thức gì… ta đâu dám mong. Chỉ cần còn được ở bên nhau, sống qua ngày đoạn tháng… thế cũng đã đủ rồi.”
Chàng nghe vậy thì hậm hực ra mặt, giọng vừa bực vừa như nài nỉ:
“Cùng lắm thì mở một bữa cơm nhỏ thôi. Ta chỉ muốn anh em ở Hoàng Nghiêu biết nàng là vợ của Nguyễn Chích ta. Chứ cứ thế này… ta khổ sở lắm. Có danh phận mà sống chẳng khác gì tư tình, ta chịu hết nổi rồi.”
Năm ấy, chúng tôi quyết định ở bên nhau. Một bữa cơm nhỏ được dọn ra giữa doanh trại, đơn sơ thôi mà rộn ràng tiếng cười. Anh em trong Hoàng Nghiêu ai nấy đều vui mừng, nâng chén chúc tụng không ngớt. Từ dạo ấy, chúng tôi không còn phải lén lút gặp nhau trong những đêm tối mịt mù nữa.
Lúc ấy chàng còn khẽ nói với tôi:
“Đợi ngày thái bình thịnh thế, ta nhất định sẽ cho nàng một lễ cưới đàng hoàng.”
Ít lâu sau, tôi xin được trở về Tĩnh Gia thăm mẹ một dạo dài. Một phần là nhớ nhà, phần nữa cũng để bà yên lòng khi biết tôi vẫn sống khỏe mạnh.
Ban đầu, chúng tôi đã tính sẽ cùng nhau về quê, dẫu sao cũng nên thưa với mẹ một tiếng cho phải đạo con cái. Nhưng việc nghĩa quân dồn dập, chồng chất như núi, chàng không thể rời đi. Đành hẹn một ngày khác, khi gánh nặng trên vai vơi bớt, sẽ cùng tôi về gặp mẹ sau.
Khi nghe tin tôi xin về quê, chàng chỉ gật đầu, vẻ mặt bình thản như không có gì.
Ấy vậy mà đến ngày tôi sửa soạn rời Hoàng Nghiêu, chàng lại lặng lẽ đứng bên. Đợi tôi quay lưng bước đi, chàng chợt đưa tay nắm lấy vạt áo, giữ lại. Bàn tay siết không chặt:
“Người về… ta chẳng yên tâm được.”
Tôi bật cười khẽ, quay lại nhìn chàng:
“Em đâu phải trẻ con nữa đâu, chàng lúc nào cũng như thế…”
Chưa dứt lời, chàng đã kéo tôi vào lòng. Cằm tựa lên vai, hít một hơi thật sâu như giữ lại chút gì đó. Lòng tôi bất giác mềm đi.
Từ ngày quen chàng, hễ chàng muốn điều gì, lại cứ dùng cái cách ôm ấp nỉ non này, lúc nào tôi cũng chịu thua, dù có cố cứng lòng đến đâu.
“Như thế ta sẽ nhớ nàng lắm!”
Tôi khẽ lắc đầu, bật cười nhìn chàng:
“Không phải lúc nào ở cạnh nhau mới là yêu đâu. Quê nhà còn đó, người thân còn đó… ta không thể ngoảnh mặt.”
Chàng không đáp. Chỉ còn nghe tiếng thở khẽ bên tai.
Ôm nhau một lúc lâu, chàng mới chịu buông tôi ra. Nhưng vừa rời, lại cúi xuống dặn dò, giọng thủ thỉ sát bên tai, khiến tôi thấy ngứa ngáy không thôi:
“Về quê mạnh khỏe nhé… ăn uống đầy đủ… chớ làm việc quá sức nhé…người nhé!”.
Nói rồi, chàng tiễn tôi ra tận cổng trại. Dường như chàng còn định theo xuống đến chân núi, nhưng bị tôi ngăn lại. Hai đứa cứ đứng bịn rịn một hồi, chẳng ai nỡ rời. Cuối cùng, tôi đành nán thêm một lát, rồi mới rời.
“Người về ta giữ chẳng buông,
Vạt áo níu lại tỏ luồng nhớ thương.
Chiều nghiêng gió thổi bên đường,
Lòng ta gửi cả vấn vương theo nàng.”
Tôi nghe lòng dạ lắng xuống, khẽ đáp lại:
““Em đi chẳng dứt tơ vương,
Xa nhau giữ trọn yêu thương đợi ngày.”
Nói xong, tôi khẽ cười, giấu đi chút nghèn nghẹn trong lòng:
“Thôi nào, em đi nhé… chần chừ mãi rồi trời lại tối mất. Trong trại có việc gì, chàng cứ nhắn qua bồ câu là được.”
…
Tính ra cũng đã gần một năm trời kể từ ngày tôi theo nghĩa quân. Nghĩ lại, mới đó mà thời gian trôi nhanh đến lạ. Dọc đường trở về, cảnh vật vẫn vậy, chẳng khác gì một năm trước, vẫn lối đất cũ, hàng tre nghiêng bóng, cánh đồng trải dài theo gió. Chỉ có lòng tôi là đã khác.
Ngày ấy, tôi còn mịt mù, chẳng biết vận nước rồi sẽ trôi về đâu, chỉ ôm một niềm tin đơn sơ rằng giặc rồi sẽ bị đánh tan. Còn bây giờ, trong lòng đã tỏ hơn, không còn cái cảm giác lạc lối như trước nữa.
Đi suốt một ngày đường, đến giờ Dậu tôi mới về tới làng. Làng quê vẫn yên như thuở nào. Ngoài đồng, lúa đang độ trổ bông, vàng ươm một dải. Người trong làng vẫn sống, mà trong lòng ai nấy đều giữ một niềm chờ đợi, chờ đến ngày có thể đứng lên mà đánh giặc.
Vừa bước tới đầu ngõ, tôi đã trông thấy thằng cu Bình, con chị Liễu. Mới ngày nào còn chạy lon ton theo sau, giờ đã cao lớn hơn trước cả tấc. Không biết chị đã cho nó đi học chữ chưa.
Nó vừa nhìn thấy tôi thì khựng lại. Hai đứa đứng đối diện nhau một lúc. Tôi chỉ cười, không nói gì, thử xem nó còn nhớ mình không. Còn nó thì mở to mắt, ngơ ngác nhìn, như đang cố lục tìm trong trí nhớ một điều gì đó.
Tôi khẽ gọi:
“Nhớ ai đây không hử, Bình?”
Nó nghe xong, mắt bỗng sáng lên như nai con. Chỉ một thoáng, rồi quay phắt người, chạy vụt vào trong nhà, vừa chạy vừa la to:
“U ơi! Bà ơi! Dì hai về rồi! Dì hai về rồi u ơi!”
Tiếng gọi lan nhanh như lửa bén rơm khô. Chưa kịp bước thêm bước nào, người trong nhà đã ùa ra. Một vòng tay ôm chầm lấy tôi, siết chặt đến nghẹn.
“Ối dồi ôi… con Bành… Bành về rồi à con…”
Tôi khựng lại. Là mẹ. Mới gần một năm thôi mà mái tóc bà đã bạc đi nhiều, như phủ một lớp sương mỏng. Tôi chưa kịp nói gì, cổ họng đã nghẹn lại.
Theo sau là chị Liễu. Chị nhìn tôi, mắt đỏ hoe, dáng người gầy hơn trước, nét lam lũ hằn rõ trên khuôn mặt.
“Em hai về rồi thì tốt quá… chị với u cứ ngỡ… em đã…”
“Thôi thôi, con út về là tốt rồi… mau, mau vào rửa mặt đi. Mày đúng là có lộc ăn lắm đấy, hôm nay nhà mình nấu vịt om măng!”
Cả nhà bật cười, rộn ràng kéo nhau vào trong. Gian nhà nhỏ bỗng chốc ấm hẳn lên. Giữa thời buổi loạn lạc này, chỉ cần còn được ngồi lại bên nhau đã là điều hạnh phúc hiếm hoi.
Tôi ngồi xuống, nhìn mâm cơm rồi tò mò hỏi:
“Mà sao hôm nay nhà mình ăn ngon thế, có chuyện gì vui à u?”
Mẹ phẩy tay:
“Ai da, vui vẻ gì đâu. “Ai da vui vẻ gì, thích thì cứ ăn vậy thôi, có chi mô phải vui vẻ mới ăn ngon được à”
Nói rồi bà lại không giấu được vẻ hồ hởi, quay sang kể:
“Hồi sáng con Liễu lên núi bẻ được hai ụ măng to đùng, từng ri nè…”
Vừa nói, mẹ vừa dang hai tay ra, tả ụ măng to như nào
“Nửa thì u đem om với vịt xiêm, còn lại đem ngâm chua hết. Ăn dần cho đỡ phí.”
Tôi vừa gắp miếng măng, chợt nhớ ra, liền hỏi:
“À u… dạo ni có hay tin gì của chồng chị Liễu không?”
Câu hỏi vừa dứt, không khí trong nhà như chùng xuống. Tiếng đũa chạm bát cũng nhỏ lại. Tôi nhìn sang chị, trong lòng chợt thắt lại, hóa ra lâu nay anh ấy vẫn bặt vô âm tín.
Chị Liễu thở dài, đặt bát xuống, giọng chua chát:
“Haiz… cái thời giặc giã, thiệt là khổ dân mình quá trời…Tao chỉ mong bọn chúng nó, đời đời kiếp kiếp ly tán như ri, không nhà không cửa, không nơi mà về, cho biết cảnh người ta chịu chi.
Mà nghe đâu bữa trước bên Kim Bôi[1], có đôi vợ chồng giàu có lắm, ai ngờ cũng tan đàn xẻ nghé. Bà vợ thì bị giặc bắt đi, tại đẹp quá nên tụi nó không tha, còn ông chồng thì bặt vô âm tín, sống chết cũng chẳng ai hay.
Nghĩ mà rầu…Hên cho nhà mình còn người còn kẻ, còn có thắp nhang, còn có người lo hương khói cho tổ tiên. Chớ như cảnh lưu lạc mỗi người mỗi ngả…thì thiệt… khổ không chi nói xiết…”
* Chú thích:
[1] thôn Kim Bôi, xã Ngọc Bôn, xứ Thanh Hóa. Vùng đất nổi tiếng cả nước với truyền thống hiếu học, từng có nhiều người đỗ đạt làm quan hoặc làm thầy dạy của vua.