Sương Tan Nắng Sớm
Cảnh báo
Những ngày cuối năm trôi qua chậm rãi mà rộn ràng lạ lùng. Mưa phùn đã thưa, chỉ còn sót lại đôi trận lất phất mỏng như khói, rồi tan nhanh trong gió núi. Thay vào đó là nắng nhạt trải đều khắp sườn Hoàng Nghiêu, thứ nắng không gắt, chỉ hong khô mặt đất, làm lá rừng se lại, gió thổi lên mát rượi, mang theo mùi rơm cũ và khói bếp từ các làng dưới chân núi.
Dẫu ngoài kia vó ngựa quân Minh còn giẫm nát đất đai, tin dữ vẫn truyền về từng trạm, thì trong các xóm làng quanh Hoàng Nghiêu. Dân gian xưa nay vốn vậy, loạn hay trị, Tết đến vẫn phải có chút hương vị Tết, như để níu lấy một phần sinh khí còn sót lại của đời sống.
Lương thực thiếu thốn, thịt cá chẳng nhiều, song anh em vẫn chắt chiu từng chút để anh em được ăn Tết ấm no, trọn vẹn. Mứt bí, mứt cà pháo, toàn là những món kẹo Tết dân dã, chẳng phải cao lương mỹ vị, nhưng lại quý hơn vàng giữa lúc binh đao. Phần lớn những việc ấy do anh Trầm đảm đương. Người vốn trầm tính, ít nói, nhưng tay nghề lại khéo. Bí được thái đều, ướp đường vừa đủ, phơi nắng cho trong. Cà pháo muối xong đem hong gió, rồi đem rim đường, ăn giòn mà không chát. Anh em trong trại ăn thử, người nào cũng gật gù, miệng khen không dứt, anh chỉ cười nhạt, cúi đầu tiếp tục làm, chẳng mấy khi đáp lời.
Những thứ khác thì được dân làng Ó gánh lên núi. Đến vụ cuối năm, họ thu hoạch xong vụ cũ, lại tranh thủ sửa soạn đất đai, gieo mạ cho vụ Đông Xuân, nhưng hễ gom góp được thứ gì, vẫn dành phần mang lên cho nghĩa quân. Bí, cà, đậu, khoai… không thứ gì là dư dả, nhưng tấm lòng thì đầy.
Có hôm, tôi theo người xuống đón, gặp lại cụ Tía. Cụ gầy đi trông thấy, mái tóc bạc phơ, song lưng vẫn thẳng, giọng nói vẫn rõ ràng. Cụ bảo, năm hết Tết đến, không có mấy thứ bánh trái thì lòng người dễ nguội. Rồi cụ sai con cháu khiêng lên nào bánh chưng, bánh dày, củ kiệu, thịt gác bếp, toàn là đồ dân làng góp lại. Bánh gói bằng lá dong còn xanh, nếp mới thơm nức. Nhìn cảnh ấy, tôi bất giác thấy cổ họng nghẹn lại.
Trong trại, bếp lửa đỏ lên suốt mấy ngày liền. Anh em quây quần, người chẻ củi, kẻ vo gạo, tiếng nói cười râm ran xen lẫn tiếng gió núi thổi qua mái lán. Trẻ nhỏ theo người lớn lên núi, chạy loanh quanh bên bếp, mắt sáng rỡ khi thấy bánh trái.
Tối ấy, trại Hoàng Nghiêu sáng rực lên bởi mấy đống lửa lớn. Gió núi thổi về, lùa khói bếp bay nghi ngút, mùi nếp bánh chưng quyện với mùi lá dong, thơm đến lạ. Anh em ngồi quây tròn, người cầm bánh, kẻ cầm bát canh nóng, vừa ăn vừa cười nói râm ran. Tiếng cười vang lên giữa núi rừng, nghe vừa ấm, vừa hiếm hoi giữa những ngày binh lửa.
Tôi đang cắn dở miếng bánh chưng, nếp dẻo dính đầu lưỡi, thì Nhuế đặt bát xuống, đứng dậy nói khẽ:
“Để em vào thay thuốc cho anh Đa Cấu.”
Chị Quế hôm ấy đã xuống núi từ sớm, lo liệu đủ thứ cho những ngày cuối năm, nên việc chăm nom trong trại tạm giao lại cho Nhuế. Tôi chỉ gật đầu, mắt vẫn nhìn vào đống lửa, nghĩ đến anh Cấu nằm mê man đã mấy ngày nay, lòng chợt se lại.
Một lúc sau, anh em vẫn còn đang nói chuyện, Diêu kể mấy chuyện tiếu lâm dưới làng, khiến cả đám cười ồ lên. Đột nhiên, từ phía lều thương binh, có tiếng chân chạy huỳnh huỵch. Chưa kịp quay đầu lại, đã nghe giọng Nhuế vang lên, gấp gáp đến lạc cả hơi:
“Cấu… anh Đa Cấu… tỉnh rồi!”
Cả trại như chết lặng trong một nhịp thở. Rồi ngay sau đó, tiếng xôn xao bùng lên như lửa gặp gió. Người đứng bật dậy, kẻ đánh rơi cả bát canh. Diêu là kẻ phản ứng trước tiên, chẳng nói chẳng rằng, nhào thẳng về phía lều, miệng gọi liên hồi tên anh Cấu.
Tôi cũng lập tức chạy theo sau. Vừa tới nơi, đã thấy Diêu đứng sát bên giường, mặt mừng đến không giấu nổi, hai tay run run nắm lấy tay anh Cấu, miệng lẩm bẩm như sợ người ta tỉnh rồi lại ngủ mất. Nhuế đứng cạnh, mắt đỏ hoe, nhưng khóe môi thì cười. Nhìn cảnh ấy, tôi bỗng thấy trong lòng nhẹ hẳn đi, niềm vui lan sang như lửa bén rơm.
Không kịp chần chừ, tôi quay sang Nhuế:
“Báo chủ tướng đi.”
Chúng tôi lập tức chạy về phía lều lớn. Tôi chạy trước, Nhuế theo sau. Vì quá phấn khích, tôi quên khuấy phép tắc, cứ thế xông thẳng vào lều riêng của chủ tướng, chưa kịp lên tiếng xin vào.
Và rồi, cảnh tượng trước mắt khiến tôi đứng sững lại.
Ánh đèn dầu treo thấp hắt xuống, chiếu nghiêng một mảng lưng trần của chủ tướng. Da anh sạm lại vì gió sương, căng lên trên từng thớ cơ rắn chắc. Những vết thương cũ mới chồng chéo lên nhau, có vết đã liền sẹo, có vết còn hằn rõ, lồi lên như gân đá. Chúng nằm đó, im lặng, nhưng đủ nói rằng người đứng trước mặt tôi đã đi qua bao nhiêu trận sống còn.
Ngay giữa lưng anh, hình xăm giao long hiện ra rõ mồn một.
Thân nó uốn khúc theo cơ bắp, từng vảy đen sẫm như hút hết ánh đèn. Đầu giao long ngoảnh sang một bên, miệng há rộng, răng nanh nhọn hoắt, trông như đang gầm lên không tiếng. Mỗi lần anh cử động, hình xăm ấy lại chuyển động theo, cuồn cuộn như vật sống bị nhốt dưới da, khiến người nhìn có cảm giác chỉ cần ánh lửa mạnh thêm chút nữa, nó sẽ phá da mà lao ra.
Tôi đã từng thấy không ít lần, vậy mà mỗi lần nhìn lại, vẫn không khỏi gai sống lưng.
Hoảng hồn, tôi quay phắt người lại, vội bước ra ngoài đúng lúc Nhuế cũng vừa định chạy vào.
“Khoan!” tôi dang hai tai ngăn cho Nhuế bước vào
“Chủ tướng đang thay đồ.”
Vừa dứt lời, sau lưng tôi bỗng vang lên giọng nói:
“Có chuyện gì?”
Tôi giật nảy mình, suýt nữa thì nhảy dựng lên. Nguyễn Chích đã đứng ngay sau lưng từ lúc nào. Anh đã khoác lại áo, nét mặt tuy còn mệt, nhưng ánh mắt vẫn bén.
Tôi và Nhuế vội cúi người:
“Dạ chủ tướng… anh Đa Cấu tỉnh rồi.”
Trong khoảnh khắc, tôi thấy rõ vẻ sững lại nơi ánh mắt anh. Rồi niềm vui hiện lên rất nhanh, không phô trương, nhưng đủ để người đối diện nhận ra. Khóe môi anh nhếch lên, như trút được một tảng đá lớn trong lòng.
“Vậy là tốt.”
Anh nói ngắn gọn, nhưng giọng nhẹ hẳn đi.
Chỉ chốc lát sau, anh em trong trại đã kéo nhau sang lán thuốc, người trước kẻ sau, nói cười rì rầm nhưng vẫn giữ ý, không dám làm ồn.
Trong lán, Đa Cấu được đỡ ngồi dậy nửa chừng. Thấy Nguyễn Chích bước vào, anh gắng chống tay, định nhổm người lên chào. Vai vừa động, sắc mặt lập tức tái đi, môi mím chặt vì đau.
“Không cần,” chủ tướng đưa tay ngăn lại, giọng trầm và gọn. “Cứ nằm nghỉ cho yên.”
Mấy anh em vội giữ anh nằm xuống. Lúc ấy tôi mới nhìn rõ hơn. Vai trái của Đa Cấu được nẹp chặt bằng ván gỗ, quấn vải dày, trông là biết đã bị gãy hoặc ít nhất cũng trật khớp nặng. Nửa người anh cứng đờ, chỉ cần trở mình một chút là mồ hôi đã túa ra.
Bên mắt trái, lớp băng quấn kín từ thái dương xuống gò má. Vết chém hôm đó quá hiểm. Dù không nói ra, nhưng nhìn cách anh cau mày mỗi khi có người chạm nhẹ gần mắt, tôi biết… e rằng con mắt ấy khó mà còn thấy được. Cơn đau ở đó không giống đau thịt xương, mà như thứ gì đó cứ nhói sâu vào tận óc.
Vậy mà anh vẫn cố cười, cười yếu nhưng thật.
“Phúc anh dày thật đấy,” ai đó lên tiếng trước, phá tan bầu không khí nặng nề. “Ăn một nhát vậy mà còn tỉnh dậy được.”
“Đúng là số chưa tận"
Có kẻ cười hề hề:
“Thế này mà cô Quế biết được, chắc khóc hết nước mắt.”
Đa Cấu thoáng đỏ mặt. Làn da vốn ngăm sạm vì nắng gió giờ lại ửng lên thấy rõ. Anh quay mặt đi một chút, nhưng vẫn nói gì đó nhưng chẳng nghe được. Có lẽ ngủ quá lâu khiến giọng vẫn chưa về lại.
Cả lán cười rộ lên, tiếng cười không lớn nhưng ấm. Có người bảo phải báo tin ngay cho chị Quế, người ngóng Đa Cấu nhất trại này. Có người còn vỗ đùi cái đét, nói Tết này coi như đủ mặt đủ người rồi.
Nguyễn Chích đứng thêm một lát, dặn dò mấy câu ngắn gọn, rồi để mọi người lần lượt tản ra, trả lại sự yên tĩnh cho lán thuốc.
Cuối cùng chỉ còn lại tôi, Nhuế và Diêu. Diêu đứng khoanh tay dựa cột, nhìn Đa Cấu từ đầu tới chân, lắc đầu mấy cái, không nói gì.
Đa Cấu lúc ấy mới thở ra một hơi dài, như trút được thứ gì đó đè nặng trong ngực. Anh quay đầu về phía chúng tôi, giọng hạ thấp, gần như thì thầm:
“Chắc… cô ấy lo cho tôi lắm.”
Nói đến đó, anh dừng lại, khóe miệng khẽ run.
“Tôi thật có lỗi.”
Tôi bật cười, tiếng cười khẽ, đáp lại Cấu:
“Lỗi lầm gì. Lỗi là ở mấy bọn giặc Minh kia kìa, đâu phải ở anh.”
Tôi nghiêng đầu nhìn anh, nói tiếp:
“Anh yên tâm đi. Sớm mai cô Quế lên Hoàng Nghiêu, bảo đảm vui ra mặt cho xem. Giờ thì lo nghỉ ngơi cho tử tế đã.”
Đa Cấu nhìn tôi một lúc, ánh mắt sâu hơn thường ngày, rồi khẽ gật đầu.
“Cảm ơn cậu.”
Tôi xua tay ngay, nhăn mặt:
“Cảm ơn cái gì, anh còn tỉnh lại như thế là tốt rồi. Mau mau khỏe lại còn đấu võ với tôi nào, dạo này không ai thắng lại tôi chán quá!!”
Cấu nghe thấy bật cười khục một tiếng, quay đi chỗ khác. Nhuế cũng cười theo, không khí trong lán thuốc bỗng nhẹ hẳn ra. Đa Cấu tựa đầu xuống gối, khóe miệng nhếch lên một chút, như người vừa đặt được gánh nặng xuống.
Sáng hôm sau, bầu trời trong vắt lạ thường. Từ đỉnh núi nhìn xuống, bầu trời trải ra một màu xanh nhạt, cao và sâu, không một gợn mây. Sương đêm còn vương trên ngọn cỏ, ánh nắng sớm vừa chạm tới đã tan dần, để lộ những lối mòn đất ẩm quanh trại.
Tôi dậy sớm như mọi ngày. Trong tay là bát cháo loãng còn bốc hơi, ăn kèm ít dưa muối mặn giòn. Tôi ngồi tựa gốc cây, vừa húp từng ngụm cháo sột soạt, vừa liếc mắt trông xuống con đường mòn dẫn từ Làng Ó lên núi.
Quả nhiên, chưa bao lâu sau, bóng người quen đã hiện ra nơi khúc quanh. Chị Quế hôm ấy mặc giao lĩnh màu tía sẫm, sắc áo nổi lên giữa màu núi rừng xanh xám. Tay chị xách theo một túi vải đựng thuốc, bước đi vội vã nhưng vẫn giữ vẻ gọn gàng quen thuộc. Tôi vừa trông thấy đã đứng bật dậy, bát cháo suýt nữa thì đổ.
“Chị Quế!”
Tôi gọi to, chạy về phía chị, lòng vui không nén nổi.
Chị vừa ngẩng lên, còn chưa kịp hỏi, tôi đã nói liền một mạch, giọng lẫn cả hơi thở:
“Đêm qua… anh Cấu tỉnh rồi. Tỉnh thật rồi. Người còn yếu lắm, nhưng đã mở mắt, còn nhận ra mọi người.”
Chị sững lại trong chốc lát, như chưa dám tin vào tai mình. Rồi đôi mắt đỏ hoe bỗng sáng lên, tay siết chặt quai túi thuốc.
“Thật sao?” Giọng chị khẽ run.
Tôi gật đầu.
“Thật. Ai trong trại cũng mừng cả.”
Chị không nói thêm lời nào nữa, chỉ bước nhanh hơn, gần như chạy theo tôi về phía lán thuốc. Tà áo màu tía khẽ lay trong gió sớm, còn bước chân chị thì gấp gáp, như sợ chậm một khắc thôi là niềm vui kia sẽ tan mất.