Đêm Sâu
Những ngày hôm sau, trong trại Hoàng Nghiêu lại vang tiếng hô tập từ sớm.
Mộc Thạnh vừa bại trận, nhưng ai cũng hiểu rõ, hắn sẽ không chịu dừng ở đó, thua một phen ắt sẽ quay về cầu viện. Khi ấy, Hoàng Nghiêu khó tránh khỏi bị để mắt đến.
Trước kia, quân Minh chỉ xem Hoàng Nghiêu như con muỗi nhỏ trong rừng sâu, bay vo ve thì đuổi, đập một cái là xong. Nhưng con muỗi ấy nếu biết né, biết chui, biết cắn đúng chỗ ngứa, thì dẫu nhỏ cũng khiến người ta không ngủ yên. Chính vì thế nếu thực lực lộ rõ, thiên triều ắt dồn quân nghiền nát, còn nếu không đủ sức, thì tự mình cũng không sống nổi.
Bởi vậy, Nguyễn Chích tăng cường thu nạp thanh niên khắp cả nước, người có sức dùng sức, kẻ có tay dùng tay. Ngày ngày luyện kiếm, tập cung, không phân biệt mới cũ. Trại tuy nhỏ, nhưng phép tập rất nghiêm.
Từ sau thất bại của Đế Quý Khoách, trong lòng người người đều mang một nỗi chờ đợi mơ hồ. Ai cũng mong sẽ có một vị anh hùng lớn, đủ mạnh, đủ danh, như Đức Thánh Trần năm xưa, dựng cờ hiệu triệu bốn phương. Nếu ngày ấy đến, quân Hoàng Nghiêu may ra còn có chỗ nương theo, hợp sức mà chống lại giặc Minh.
Còn hiện tại, chủ tướng chỉ thở dài:
“Việc của ta là làm cho Hoàng Nghiêu đứng vững.”
Chúng tôi chỉ biết cố hết sức mình. Còn sống hay chết, thắng hay thua, đành gửi lại cho ông trời và mảnh đất Nam này. Đất thiêng đã nuôi bao đời người, hẳn cũng sẽ không nỡ bỏ rơi những kẻ còn biết cầm gươm vì nó.
Những buổi sớm của tháng Chạp, còn mờ trong màn sương bạc, mái nhà thấp thoáng ở dưới làng Ó, ruộng đồng loang loáng nước, khói bếp bay lên mảnh và thẳng, hòa vào màu trời xám nhạt.
Vụ mùa cũ đã xong. Lúa được gặt từ sớm, phơi đầy sân, chất vào bồ. Những gốc rạ khô còn trơ lại ngoài đồng, cứng và sắc, một năm lam lũ đã đi qua. Người làng Ó không để ruộng nghỉ lâu. Ngay khi lúa vừa dọn xong, trâu lại được dắt ra đồng, cày xới lớp đất cũ lên lần nữa.
Trên núi Hoàng Nghiêu, gió núi thổi mạnh hơn, mang theo mùi ngai ngái của bùn đất, mùi khói bếp và mùi thuốc rừng. Căn cứ không nghỉ tay dù ngoài kia là những ngày giáp Tết. Nghĩa binh vẫn tập luyện đều đặn, sáng bắn cung, chiều luyện đao kiếm. Sân tập đất nện in đầy dấu chân, mũi tên cắm dày trên bia gỗ. Tiếng hô nhịp nhàng vang vọng giữa các vách đá, dội đi dội lại, như nhắc rằng những trận đánh vừa qua chưa phải là kết thúc.
Trong trại, người bị thương được chăm sóc kỹ hơn khi thời tiết trở lạnh. Nước thuốc luôn sôi trên bếp, lá rừng được giã sẵn. Anh em thay nhau canh chừng, vừa chữa thương vừa lo tích trữ lương thực. Gạo, củi khô được anh em đi gom về, sắp xếp gọn gàng trong kho.
Bao ngày qua, tôi vẫn giữ thói quen dậy trước canh năm. Khi sương còn phủ dày trên sườn núi, tôi đã mang cung ra bãi đất trống phía đông trại. Dây cung kéo lên, hạ xuống, từng nhịp đều nhau. Ban đầu bắn gần, rồi lùi dần. Có hôm gió núi thổi xiên, mũi tên vừa rời dây đã bị đẩy lệch, tôi vẫn không đổi thế đứng, chỉ chỉnh lại cổ tay, giữ hơi thở cho vững.
Da tay vốn đã rách hôm trước, bôi thuốc rồi nhưng chưa liền hẳn. Kéo dây nhiều, vết cũ lại nứt ra, rát đến tận xương. Tôi chỉ quấn tạm vải, tiếp tục bắn. Đến khi mười mũi liền nhau đều cắm gọn trong vòng hồng tâm, mới chịu dừng.
Có dạo, Nguyễn Chích còn cho mở những cuộc đấu vật giữa toàn quân, coi như vừa rèn sức vừa thử gan. Anh em hưởng ứng rất đông, người nào cũng hăm hở cởi trần, cười nói ầm ĩ.
Riêng tôi thì luôn kiếm cớ lánh đi. Không phải sợ thua. Tôi hiểu rõ thân mình, chuyện thân phận sớm muộn cũng phải nói ra. Chưa nói được, tôi đã thấy mình như đang đứng trên đống lửa.
Trong trại, nếu nói người ngang tài ngang sức với tôi trong những cuộc tỷ thí hẳn là Đa Cấu. Ra đòn nhanh, thu thế gọn, sức không hơn người khác bao nhiêu nhưng thân pháp rất vững, chỉ cần chậm nửa nhịp, kẻ còn lại sẽ chiếm thượng phong. Ấy vậy mà giờ đây, người đó vẫn nằm bất động trong lán trong cùng, chưa tỉnh suốt hơn một tuần.
Từ ngày Đa Cấu bị thương, chị Quế lên Hoàng Nghiêu thường xuyên hơn. Chuyện hai người quen nhau, vốn chỉ giấu được một thời gian ngắn. Nay thì anh em trong trại ai cũng biết cả, chỉ không ai nói ra. Người trong quân, vốn đã quen cảnh sinh tử, nên nhìn đôi trẻ ấy lại càng thấy xót.
Có hôm, tôi gặp chị Quế ngồi bên bậc đá sau lán thuốc. Mắt chị đỏ hoe, tôi ngồi xuống bên cạnh, không nói gì trước. Một lúc lâu, chị mới khẽ bảo:
“Nếu chàng không tỉnh lại nữa… chắc tôi cũng chẳng đi lấy ai.”
Tôi giật mình, quay sang nhìn. Chị cúi đầu, tay siết chặt vạt áo.
“Có khi… tôi chờ chàng cả đời.”
Tôi không biết nên khuyên gì cho phải. Chỉ có thể nói mấy lời nhẹ nhàng, rằng Đa Cấu vốn cứng cỏi, mạng hắn chưa dễ rời đi như vậy. Nói là nói thế, nhưng trong lòng tôi hiểu rõ, vết thương lần này của anh nặng hơn rất nhiều so với lần tôi từng trúng mũi tên độc. Khi ấy, tôi còn tự đi lại được, còn Đa Cấu thì nằm yên như đã ngủ quên giữa lằn ranh sinh tử.
Rời lán thuốc, tôi đứng một mình ở bãi tập, nhìn những cọc gỗ dựng sẵn để luyện đao. Bỗng dưng thấy trống trải lạ thường.
Nếu Đa Cấu không tỉnh lại… thì trong cái Hoàng Nghiêu này, e rằng sẽ chẳng còn ai đủ thân thủ để đối địch cùng tôi nữa.
Trong lòng nặng xuống, như vừa mất đi một đối thủ, mà cũng là mất đi một người hiểu mình trong những lần giao tay không cần nói lời nào.
Tôi rời bãi tập, men theo con lối mòn quen thuộc dẫn xuống Hoàng Giang. Cuối đông, nước sông rút thấp, dòng chảy chậm và nặng, màu xám chì như phủ một lớp tro lạnh. Gió từ mặt nước thổi lên buốt đến tận cổ tay, mang theo mùi bùn non và rong mục. Tôi bước chậm, để mặc cho ý nghĩ trôi theo từng gợn sóng lăn tăn dưới chân bờ.
Bên khúc cong của bờ sông, tôi trông thấy một bóng người đứng lặng. Nguyễn Chích. Anh mặc áo vải sẫm, hai tay chắp sau lưng, mắt nhìn theo dòng nước chảy. Dáng đứng ấy, giữa sông núi mênh mang, bỗng khiến lòng tôi chùng xuống. Tôi dừng lại một nhịp, hít sâu, rồi bước tới.
Khoảng cách chỉ còn vài bước, tôi đã nghe rõ tiếng nước khẽ vỗ vào bãi cát. Tôi cúi đầu, giọng hơi run, nhưng vẫn cố nói cho tròn câu:
“Chủ tướng… thực ra tôi có chuyện muốn thưa…”
Chưa kịp nói thêm chữ nào, phía sau bỗng vang lên tiếng gọi choe chóe, kéo dài cả câu theo giọng choe chóe quen thuộc:
“Thằng Sa! Mi mần chi đó rứa? Lại đây mau! Thằng Nhuế hắn kiếm được con cá to cực, không về là hắn làm thịt mất phần nghe chưa!”
Tôi còn chưa kịp quay đầu, đã thấy lão Diêu từ đâu xộc tới, chân bước lảo đảo mà miệng thì không ngừng. Vừa thấy Nguyễn Chích đứng bên cạnh tôi, hắn tỏ vẻ ngạc nhiên.
“Ơ… ơ… Chủ tướng cũng ở đây à?”
Nguyễn Chích không trả lời chỉ thấy anh gật đầu nhẹ tỏ ý.
“Dạ chủ tướng, anh em vừa kéo được con cá to lắm. Chủ tướng qua nếm cho vui, coi như lấy hên đầu ngày.”
Nguyễn Chích quay lại nhìn lão, ánh mắt thoáng qua rồi thôi. Anh khẽ lắc đầu:
“Các ngươi cứ dùng. Ta còn việc.”
Diêu “dạ” một tiếng, rồi liếc sang tôi, mắt trợn lên:
“Thằng ni! Mi đứng đây mần chi? Cá to như ri mà còn chần chừ! Đi mau, không về là anh em nó ăn hết phần mi đó!”
Lão nắm lấy tay áo tôi, kéo tuột đi, vừa đi vừa lải nhải, mặc cho tôi khẽ kêu một tiếng không thành lời.
Tôi bị kéo qua trước mặt chủ tướng. Trong khoảnh khắc ngắn ngủi ấy, tôi thoáng bắt gặp ánh mắt anh. Không rõ anh có nghe được câu tôi nói dang dở hay không, chỉ thấy ánh nhìn ấy dừng lại nơi tôi một nhịp, sâu và tĩnh, rồi khẽ dời đi.
Lời định nói mắc lại nơi cổ họng, nghẹn cứng. Tôi để mặc Diêu lôi đi, bước chân mỗi lúc một xa bờ sông. Gió lạnh quất vào mặt, nhưng trong ngực tôi lại nóng ran, như vừa để vuột mất một điều gì đó rất quan trọng.
Hoàng Giang vẫn chảy sau lưng, lặng lẽ và xám ngắt. Còn tôi thì biết, lần khai thật ấy… lại bị số phận gạt sang một bên, thêm một lần nữa.
Lên tới lều thì mùi cá nướng đã lan khắp trại. Than hồng rực lên trong gió núi, mỡ cá nhỏ xuống kêu xèo xèo, khói quyện với mùi muối hạt và lá rừng, thơm đến cồn ruột.
Diêu vừa xé một khúc cá lớn vừa nói oang oang, giọng đã dịu hơn ban nãy:
“Cá ni mà Cấu hắn còn khỏe, kiểu chi cũng tranh phần ni đầu tiên. Hắn khoái nhất cái đầu con cá.”
Nhuế gật gù, cẩn thận gỡ xương, chậm rãi tiếp lời:
“Ừ. Mấy bữa trước còn thấy anh ấy chống nạnh đứng coi tụi mình tập, chê đao pháp người này không chắc tay, người kia chậm tay. Vậy mà giờ…”
Câu nói bỏ lửng giữa chừng. Bỗng dưng anh em chẳng ai nói gì.
Anh Chính đặt miếng cá xuống, lau tay vào vạt áo:
“Lang y bảo vết thương sâu, lại mất máu nhiều. Tỉnh lại được hay không… còn phải coi số.”
Tôi nghe mà lòng nặng trĩu. Anh Trầm với tôi ngồi bên góc lều, từ đầu đến cuối anh ấy chỉ im lặng. Ánh lửa hắt lên gương mặt trầm lắng, không nói lấy một lời, nhưng đôi mày hơi chau lại, đủ biết trong lòng cũng không yên.
Diêu thở dài một cái rất khẽ, hiếm khi thấy ở lão:
“Tội nhất là cô Quế. Con gái nhà người ta, ngày mô cũng túc trực bên giường. Hắn mà có mệnh hệ chi… e là đời cô ấy cũng coi như gãy.”
Chúng tôi đều liếc nhìn ra ngoài lều, nơi ánh đèn lán thuốc còn leo lét.
Không khí chợt lặng đi. Tiếng cá nướng xèo xèo nghe rõ hơn cả.
Tôi cúi đầu, bẻ một mẩu cá nhỏ mà không thấy vị. Trong đầu chợt hiện lên dáng Đa Cấu lúc còn khỏe, mỗi lần tỉ thí với tôi đều không nói nhiều, chỉ cười một cái rất nhẹ, rồi ra tay. Người như vậy, nếu thật sự không tỉnh lại…
Diêu chép miệng, cố xua đi cái không khí nặng nề:
“Thôi thì còn thở là còn hy vọng. Núi rừng Hoàng Nghiêu này linh lắm. Trời chưa nỡ lấy người giỏi của mình đâu.”
Không ai lên tiếng, cả khoảng không chìm vào im lặng.
Tôi lặng lẽ ăn hết phần cá trước mặt. Ngoài kia, gió núi lại nổi lên, thổi tắt bớt mấy đốm than hồng. Trong ánh lửa chập chờn ấy, tôi bỗng thấy rõ hơn bao giờ hết, mỗi người đều đang treo mình giữa sống và chết. Hôm nay là Đa Cấu. Ngày mai… có thể là bất kỳ ai trong chúng tôi.
…