Gấm Hoa Giữa Trời

Chim Về Đậu Nhánh Quen Thân

Cảnh báo

truyện chỉ lấy yếu tố về lịch sử, không có giá trị tham khảo
 

 

Gió đêm thổi mạnh, tàn than bay lên, sém vào tay, rát buốt. Ta khẽ rụt tay lại, coi như một lời nhắc. Bèn đứng dậy, lặng lẽ rời khỏi bếp lửa, men theo lối cũ về lều. Bước chân tuy đều, nhưng trong lòng đã có quyết định.

Không thể cứ để việc này treo lơ lửng mãi.

Ngày ngày đối diện chủ tướng, trong dạ luôn phải dè chừng từng ánh mắt, từng lời nói. Đợi đến lúc sự tình bị khui ra trong thế bị động, chẳng bằng tự mình thưa rõ, còn giữ được chút ngay thẳng.

Đêm ấy, ta nằm trong lều, mắt nhìn lên nóc vải sẫm màu, nghe gió núi thổi qua rừng cây xào xạc. Ngoài kia, doanh trại vẫn im lìm như cũ. Chỉ có trong lòng ta, bí mật kia không còn là thứ để trốn tránh, mà đã trở thành một lời chưa nói, lặng lẽ treo giữa ta và người đứng đầu nghĩa quân.

Sáng sớm hôm ấy, sương còn dày đặc, hơi lạnh ngấm dần vào da thịt như kim châm. Cả dãy núi Hoàng Nghiêu chìm trong một màu xám nhạt, cây cối mờ đi sau màn sương dày đến mức đứng cách vài trượng đã chỉ còn thấy bóng. Doanh trại vẫn im lìm, tựa như còn đang ngủ vùi sau một đêm dài. Chỉ lác đác vài bóng người đã thức từ canh tư, khoác áo cũ, bước chậm trên nền đất ẩm, tiếng chân khe khẽ như sợ đánh thức núi rừng.

Lửa bếp còn âm ỉ trong những hố đất đào sâu, than hồng đỏ lẫn trong tro xám. Khói mỏng bốc lên, không bay cao mà quẩn quanh, hòa vào sương sớm, treo lơ lửng trên những mái lều thấp lợp lá. Thỉnh thoảng có tiếng củi nổ lách tách, tiếng ai đó khẽ ho một tiếng rồi lại im bặt. Không trống thúc, không tiếng hô quân, chỉ có hơi thở đều đều của doanh trại nghèo, yên tĩnh đến mức nghe rõ cả tiếng gió lùa qua tán cây ướt sương, mang theo mùi đất lạnh và mùi khói bếp quen thuộc của những ngày đóng quân nơi núi rừng.

Trong trại, tài sản quý giá nhất không phải lương thảo, càng không phải binh khí, mà là mấy con ngựa gầy. Tổng cộng chỉ chừng ba, bốn con, dùng để truyền tin, cho trinh sát, hoặc khi chủ tướng cần đi gấp. Phần lớn anh em đều xuất thân nông dân, cả đời quen cày cuốc, hiếm ai từng được chạm tay vào ngựa. Bởi thế, chuồng ngựa được chăm chút kỹ lưỡng, nước uống, cỏ ăn đều không dám sơ suất.

Phần việc sáng nay của tôi là gánh nước về chuồng ngựa, rồi cắt cỏ khô ở bìa rừng. Việc nặng, nhưng trong quân, ai cũng làm như thế. Tôi tự nhủ đã quen rồi, không dám hé miệng than nửa lời.

Tôi gánh thùng nước từ giếng nhỏ dưới chân dốc lên. Nước lạnh buốt, thấm qua thùng tre làm hai bàn tay tê dại. Vai vẫn còn âm ỉ đau từ những ngày tập luyện trước đó, bước chân có lúc chao nhẹ, nhưng tôi cắn răng giữ lưng cho thẳng. Chỉ cần chậm lại một chút thôi, tôi sợ người khác sẽ nhìn ra sự yếu mềm mà tôi cố giấu.

Đang đi, bỗng có bóng người áp sát bên cạnh.

Chưa kịp hiểu chuyện gì, thùng nước trên vai đã nhẹ hẫng. Một bàn tay thò tới, nhấc luôn cả đòn gánh, động tác gọn và chắc, như thể đó là việc rất đỗi bình thường.

Tôi giật mình quay sang.

Nguyễn Chích.

Anh xách thùng nước đi trước, không nói lời nào. Tôi vội thốt lên, theo phản xạ:

“Tôi làm được ạ.”

Anh đáp gọn, không quay đầu:

“Ta biết.”

Lời nói nghe như một lời xác nhận hiển nhiên. Tôi đứng khựng lại một nhịp, rồi bước theo sau.

Vừa đi, anh vừa nói, giọng thản nhiên như buột miệng:

“Hôm qua có người còn than thân thể nóng lạnh, đầu đau như búa bổ, nên xin khất đấu vật sang lần sau.”

Tim tôi đánh mạnh một cái. Đó chính là lời tôi đã bịa.

Anh nói tiếp, giọng vẫn đều đều:

“Nếu hôm nay ta lại bắt người đó gánh nước từ sớm…”
Anh dừng một nhịp.
“Lỡ ngất xỉu giữa đường, chẳng phải là lỗi ở ta sao?”

Tôi cứng họng.

Bao nhiêu lời định biện minh, bao nhiêu cớ chống chế vừa kịp nhen lên trong đầu, đều bị câu nói ấy chặn đứng. Lý lẽ của anh quá thẳng, quá trơn tru, không có chỗ nào để cãi. Tim tôi đập dồn, lòng rối như tơ vò, chỉ sợ mình lỡ buột miệng nói thêm điều gì càng lún sâu hơn.

Nhưng Nguyễn Chích không chờ tôi đáp.

Anh bước thêm vài bước, rồi nói như đã quyết xong một việc rất nhỏ:

“Ngươi đi cắt cỏ đi.”

Anh nói tiếp, giọng bình thản:

“Cỏ non phía bìa rừng, ngựa thích hơn.”

Nói rồi, anh xách nước đi thẳng về phía chuồng, không ngoái lại.

Tôi đứng yên giữa làn sương lạnh, thở ra một hơi thật khẽ, rồi lọ mọ cầm liềm xuống dốc quanh co dưới Hoàng Giang, cắt cỏ non cho bầy ngựa.

Cắt cỏ xong, bó cỏ còn vương hơi sương lạnh, tôi gánh về trại. Đi ngang qua lều chủ tướng, bước chân chợt chậm lại.

Trước lều, Nguyễn Chích đang ngồi xổm bên bãi đất khô, rắc từng nắm vụn thức ăn xuống. Dưới đất, mấy con bồ câu trắng muốt tụ lại, con nào con nấy lông sạch, cổ ngẩng cao, bước đi khoan thai như đã quen chốn này từ lâu. Tôi từng nghe người ta nói, mấy con chim này dẫu có bay xa đến đâu, cũng biết tìm đường quay về chốn cũ.

Chúng không sợ người, thấy anh đưa tay là tự bay lên, đậu gọn trên cổ tay, mổ thức ăn rất khẽ.

Tôi chưa vội đi, cứ đứng đó, nhìn mấy con bồ câu trắng muốt đang lúp xúp nhặt hạt. Chúng nhìn lạ lạ, mà cũng thích mắt một cách khó hiểu.

Nguyễn Chích như cảm được ánh nhìn của tôi. Anh ngẩng lên, rắc thêm một nắm cám nữa, rồi chậm rãi nói, giọng bình thản như đang kể chuyện chẳng mấy quan trọng:
“Con này là Tuyết Hoa. Con kia Tuyết Mai. Con đậu bên trái là Tuyết Đào.”

Anh chỉ từng con một, không cần nhìn kỹ mà vẫn không nhầm. Tôi nhìn mà hoa cả mắt. Con nào cũng trắng muốt, đứng cạnh nhau chẳng phân biệt nổi. Tôi từng nghe người ta nói bồ câu đưa thư dù bay xa mấy cũng biết đường quay về, nay tận mắt thấy mới tin. Chúng khôn, lại quen chủ, thấy anh cầm thức ăn là tự động bay lên tay, chẳng cần gọi.

Nguyễn Chích quay sang, chia cho tôi một nắm vụn cơm trộn cám.

“Thử xem.”

Tôi đưa tay ra, còn lóng ngóng. Mấy con chim bay đến đậu thử, mổ mấy hạt, rồi lại bay đi ngay, như thể biết tôi là người lạ. Tôi đang thấy tiếc thì có một con nhỏ hơn, lông không trắng đều mà lấm tấm đốm đen, vẫn cứ ở lại. Nó cúi đầu ăn rất chăm, ăn chậm mà không chịu rời tay tôi.

“Tên nó là Hột Tiêu,” Nguyễn Chích nói. “Ăn nhiều mà chẳng lớn.”

Tôi ồ lên một tiếng, gật đầu ra chiều đã hiểu, rồi lẩm nhẩm một mình:
“Cậu bé Hột Tiêu, ăn nhiều mà chẳng lớn…”

Nguyễn Chích nghe lọt câu đó, bỗng bật cười khẽ, một tiếng cười rất nhanh, như không kịp giấu.

Tôi còn đang mải nhìn con chim thì chợt thấy mu bàn tay ấm ấm, lại nhớp nhớp một cách kỳ lạ. Cúi xuống nhìn, tôi hoảng hồn, theo phản xạ khua mạnh tay. Con chim giật mình, vỗ cánh phành phạch rồi bay vút lên không trung, để lại tôi đứng sững giữa sân.

Nguyễn Chích thấy vậy liền phì cười. Một tiếng cười bật ra rất nhanh, rất tự nhiên, khác hẳn vẻ trầm tĩnh thường ngày của anh.

“Chim chọn trúng tay cậu,” anh nói, “không phải chuyện xui. Là có phúc đấy.”

Tôi thấy trong lòng vừa ngượng vừa bứt rứt, hơi nóng dâng lên tận mang tai. Cho rằng anh cố ý lấy tôi làm trò, tôi chỉ lặng lẽ quay người, rảo bước theo con đường ven trại, lần xuống bờ Hoàng Giang, không ngoảnh đầu lại.

Nước cuối đông xám lạnh, chảy chậm. Tôi cúi xuống kì cọ tay thật mạnh. Rửa một lần chưa sạch, rửa hai lần vẫn thấy mùi hôi hôi bám lại. Tôi cau mày, càng chà càng bực.

Sau lưng chợt có tiếng bước chân. Nguyễn Chích đã theo xuống từ lúc nào, trên tay cầm một nắm lá chè rừng còn tươi.

“Dùng cái này,” anh nói, đưa qua, “chà vào thì hết mùi.”

Vừa nói, anh vừa đưa tay che miệng, rõ ràng vẫn đang cười. Không phải cười nhạo, mà là kiểu cười rất nhẹ, rất đời, như một người bình thường giữa núi rừng.

Tôi nhận lá chè, chà thử. Mùi tanh quả nhiên dịu đi, chỉ còn mùi lá xanh ngai ngái. Nhìn sang, thấy anh vẫn đứng đó, nét mặt đã trở lại điềm đạm, nhưng khóe môi còn vương chút ý cười.

Lần đầu tiên, tôi thấy chủ tướng cười như vậy.

Cơn giận trong lòng tôi tự nhiên tan mất. Chẳng hiểu vì sao, đứng cạnh dòng nước lạnh và bóng người đó, tôi lại thấy lòng mình lắng xuống, như vừa được kéo ra khỏi những toan tính nặng nề mấy ngày qua.


Bình luận đoạn văn

Bình luận

Thiết lập văn bản

Xem trước

Nội dung sẽ hiển thị như thế này

Chọn font chữ

Cỡ chữ

12px 30px