Gấm Hoa Giữa Trời

Thương Ai Giữa Núi Canh Dài




Nhuế ngồi ôm bát canh ngồi cạnh tôi, ngơ ngác hỏi:

“Anh Diêu có con chưa?”

“Có rồi,” Diêu đáp, giọng nhỏ đi hẳn, “một đứa. Mới lên ba. Tau đi đánh giặc, nó mới cai sữa.”

Cả đám lặng đi một nhịp.

Không phải vì bất ngờ…
Mà vì thương, vì chiến tranh khiến người ta phải xa những người đáng được ở gần nhất.

Tôi chợt nhớ đến mẹ, đôi bàn tay gầy quắt, lúc chia ly cứ dúi dúi vào tay tôi mấy chiếc bánh mang theo đường dài, miệng dặn hoài mà giọng thì run run.

Rồi nhớ đến chị Liễu, chị cả của tôi, cái người gánh hết mọi thứ trong nhà, từ chuyện đồng áng đến chuyện họ mạc. Lúc tiễn chồng đi, mắt chị đỏ hoe như sắp khóc, nhưng vẫn cố giữ mặt cứng, nói mấy câu mạnh mẽ để tôi yên lòng.

Nỗi nhớ như một làn khói mỏng, len vào ngực, cay mà âm ấm.

Bỗng Nhuế quay qua Đa Cấu hỏi một câu ngớ ngẩn mà thành ra cả lều lại rộ tiếng cười:

“Thế… còn anh Cấu? Anh có ai thương chưa?”

Đa Cấu đang cầm cái que gảy gảy vào đống củi, nghe tới tên mình liền khựng lại như bị ai đánh vào lưng. Mặt anh đỏ bừng, tai còn đỏ hơn, bàn tay vội giấu que xuống đất như đứa trẻ bị bắt quả tang đang bậy bạ.

Anh chống chế có phần hơi run run:

“Ta… ta lo đánh giặc. Nghĩ chi mấy chuyện đó.”

Tên Diêu nghe vậy cười ré lên:

“Trời đất ơi, nói câu chi mà nghe sách vở dữ! Ta hỏi có ai thương chưa, chớ có ai biểu mi cưới ngay mô mà run!”

Tôi ngồi một bên, nghe mà miệng bất giác mỉm cười.

Nhớ tới cái ngày nọ, hôm ấy trời lành lạnh, gió Đông thổi hun hút qua rặng tre bên bờ Hoàng Giang. Tôi vốn định đi lấy nước, nào ngờ vừa tới lưng chừng dốc thì thấy hai người họ đứng đó. Không gần, cũng chẳng xa, chỉ cách nhau có mấy bước chân mà không khí đặc quánh đến mức tôi tưởng như chỉ cần đưa tay là chạm trúng cái sự bối rối đang bay lơ lửng giữa hai người.

Gió mạnh quá, át cả tiếng họ nói. Tôi chẳng nghe được chữ nào, nhưng nhìn ánh mắt thì hiểu.
Chị Quế tay cứ xoay xoay cái khăn trắng trước ngực, còn anh Cấu đứng tần ngần, dáng điệu khựng lại như người quên mất phải thở.

Sau một hồi ngó lom lom không biết có nên lùi lại hay đi tới, tôi quyết định chuồn mất cho nhanh  ai đời đứng giữa cái cảnh rõ ràng “hai người nói mà như chẳng nói” vậy, ở lại là tự biến mình thành gốc tre thứ ba.

Lúc ấy là tầm năm ngày sau khi tôi gặp chị Quế, hai chị em tôi đã tâm sự thủ thỉ, lần lên núi Hoàng Nghiêu này hẳn chẳng phải là cần tìm tôi để tỉ tê hay gặp chủ tướng có việc cần giúp, mà là gặp anh Cấu.

Họ gặp nhau nói chuyện bao lâu, tôi cũng chẳng rõ, chỉ biết là anh Cấu đã bỏ cả giấc trưa để gặp chị ấy, một người trầm tính như anh, đã chịu dùng cả quãng nghỉ hiếm hoi của mình cho một cô gái 

Nói không để ý nhau, tôi cũng chẳng tin.

Không nhịn được, tôi bất giác nén một nụ cười, rồi làm bộ chỉnh lại vạt áo, hắng giọng thật đĩnh đạc như bậc quân tử luận thơ:

“Một thương ánh mắt bên thềm,

Hai thương tay thuốc êm đềm gió mơ.”

Mấy anh em đang sưởi lửa đều khựng lại, đưa mắt nhìn tôi như nhìn người từ trên trời rơi xuống. Anh Chính người vốn lanh lợi trong khoản ứng khẩu liền phì cười, xoa tay như đã chờ dịp này từ lâu, rồi đối lại rành rọt:

“Ba thương bóng ngả lời thơ,

Bốn thương chàng đứng ngẩn ngơ trông nàng.”

Nghe anh Chính đối lại câu thơ của tôi xong cả đám cười ồ lên ngạc nhiên, tiếng cười vọng ra ngoài hiên lều, lẫn vào tiếng mưa đêm đang rơi rả rích trên mái lá. 

Riêng Đa Cấu ngồi một góc tai đỏ như máu, im thin thít không nói lời nào, trên tay cầm cái bát canh mà xoay tới xoay lui, như muốn tìm chỗ chôn giấu chính mình. 

Thấy cảnh ấy, tôi không khỏi bật ý muốn trêu thêm. Liền đưa tay khẽ vỗ vạt áo, rồi nói bằng giọng trịnh trọng như khảo quan:

“Còn anh nào dám đối tiếp câu thơ của anh Chính nữa không nhỉ?”

Cả bọn vừa cười vừa nhao nhao. Bỗng Diêu, đang ngồi bên đống lửa ngẩng mặt lên, đôi mắt tinh ranh quen thuộc bỗng nghiêm lại lạ thường.

Hắn đặt bát xuống, vuốt lại vạt áo, rồi đọc rành rọt, giọng Diễn Châu nghe rõ từng chữ:

“Năm thương lòng nhớ ngổn ngan

Sáu thương duyên thoáng lay hương Quế nồng”

Chữ “Quế” hắn nhấn một hơi dài, nghe rõ như chuông đồng gõ vào trưa vắng.

Vừa thoát ra khỏi miệng Diêu, cả lều lại nổ tràng cười như sấm đầu mùa.

Có người vỗ đùi, có kẻ ôm bụng lăn qua lăn lại, còn tôi suýt cắn phải đầu lưỡi vì cố nhịn cười.

Đa Cấu tai đỏ đến cổ, cổ đỏ đến má, má đỏ đến tận chân tóc, trông như trái gấc chín đang ngồi trong góc lều.
Hắn chỉ kịp thốt lên một câu nhỏ đến mức nghe chẳng rõ:

“Các ngươi… chớ có nói càn.”

Nhưng chính cái dáng lúng túng của hắn lại khiến cả đám càng cười to hơn.

Trong tiếng cười ấy, trong ánh lửa reo lập lòe, trong mùi gạo rang và tro củi quyện vào nhau…Tôi bỗng thấy lòng mình ấm lại.

Nhìn Diêu khoe vợ, nhìn Cấu bị ghẹo đến đỏ tai, nhìn thằng Nhuế còn non nớt mà cười toe toét theo, lòng tôi bỗng ấm lạ.

Trong cảnh núi gió mưa gào thét, giữa cuộc đời chạy loạn vì giặc giã, vậy mà những người quanh tôi vẫn giữ được chút hạnh phúc, chút thương mến, chút hiền hòa của phận người.

Tôi thấy mình cũng vui lây vui một cách lặng lẽ, như than hồng âm ỉ dưới đống củi, không cháy bùng nhưng tỏa hơi ấm suốt cả đêm dài.

Đột nhiên tôi cảm nhận mấy ánh mắt liền quay sang như bầy chim sẻ vừa nghe động.
Tôi đang đưa bát canh lên miệng thì suýt nghẹn. Nhuế ngó tôi lom lom, còn Diêu chống nạnh cười hềnh hệch:

“Sa, tới lượt mi. Nói thiệt coi, mi thương ai chưa?”

Cả đám im một nhịp. Chỉ còn tiếng củi nổ lách tách và mưa ngoài hiên lều rơi thưa dần.

Tôi… thương ai chưa ư?

Một câu hỏi nghe tưởng như giỡn chơi ấy, vậy mà lại đâm thẳng vào lòng tôi một nhát bén như lưỡi giáo. Tôi chẳng hiểu sao trong khoảnh khắc ấy, hình bóng đầu tiên hiện lên lại là chủ tướng.

Người đàn ông đứng trong trận mưa chiều hôm trước, áo ướt sũng, lưng rộng vững như cây tùng già, tay vẫn buộc từng mối dây hàng rào, ký ức đó chợt ùa về.
Nhớ cả khoảnh khắc anh đội lại chiếc nón lên đầu tôi, tay anh chạm nhẹ qua ngón tay tôi, vừa lạnh vừa ấm như thể có cái gì chạy rần trong lồng ngực.

Tôi thấy hai tai mình nóng bừng, tim như bị ai gõ trống bên trong.
Trời đất ơi…Mình đang nghĩ cái gì vậy?

Tôi vội cúi mặt xuống, nhìn chằm chằm vào bóng mình in trên mặt canh. Trong lòng như có con cá quẫy mạnh làm nước đục ngầu. Một người như tôi  phận lính, áo vải, tuổi đời còn dài mà trách nhiệm còn dài hơn sao có thể đem lòng tơ tưởng đến chủ tướng?
Tôi chỉ là kẻ núp dưới bóng cờ nghĩa quân.

Mà cái cảm giác dạo gần đây mỗi lần nhìn ông, rõ ràng không giống điều tôi từng biết trước kia. Có khi nào tôi lầm? Có khi nào chỉ là do được đối tốt mà nảy ra suy nghĩ dại dột?
Không được. Tôi lắc đầu mạnh đến nỗi tóc rơi xuống vai ướt sũng mưa hôm trước mà còn chưa khô hẳn.

Tình cảm ấy nếu có thì cũng chỉ nên để trong lòng, chôn dưới đáy đất, dẫm đạp lên mà đi tiếp. Thời buổi loạn lạc này, thương ai chỉ khiến lòng thêm mềm yếu.

Tôi hít một hơi thật sâu, ép trái tim đang đập loạn trở về chỗ. Ngước lên, tôi làm mặt tỉnh như không có chuyện gì, rồi buông một câu gọn lỏn:

“Thù nước chưa trả, làm gì còn tơ tưởng đến ai.”

Tôi tưởng đã nói xong là trốn được. Nào ngờ mấy anh liền “Ồ” lên một tiếng dài nghi hoặc. Diêu thì huýt sáo, còn thằng Nhuế bật cười khanh khách:

“Không tơ tưởng hả? Rứa coi chừng lòng mi nói khác nha Sa.”

Tôi đỏ mặt như than hồng trong bếp, hơi nóng vừa từ lửa, vừa từ chính lòng mình bốc lên hầm hập. Tôi cúi thấp người, vớ lấy que củi, giả bộ chọc vào đống lửa như thể chăm chú lắm, nhưng tay lại run khẽ, đầu ngón tay cứ chạm hụt vào nhau. Đống lửa trước mặt nổ lách tách, ánh sáng hắt lên mặt tôi làm tôi càng thấy rõ sự ngượng ngập của chính mình.
Dù đã quay mặt đi, tôi vẫn cảm giác trái tim mình đang nảy từng nhịp, dồn dập như trống trận. Lồng ngực như bị ai bóp mạnh, mỗi nhịp đập đều khiến tôi thấy nóng rát cả người, còn hơi thở thì chẳng hiểu sao lại mỏng như sợi chỉ.

Thương làm gì… khi bước chân còn ngập bùn chiến trận?
Ở cái thời loạn này, người ta chết vì gươm đao thì ít, mà chết vì mềm lòng thì lại nhiều. Tôi biết chứ. Biết rõ như biết đường gân trên bàn tay mình.

Nhưng nói thế… mà lòng thì không sao chịu nghe.Bởi chỉ cần nhắm mắt lại một khắc, tôi lại thấy bàn tay người đàn ông chạm vào tay mình dưới mưa.
Tôi cắm que củi sâu vào đống lửa, nghe củi kêu rốp một tiếng. Mùi khói bay lên cay mắt, nhưng tôi biết… cay mắt chưa chắc là tại khói.

Tự dưng tôi thấy lòng mình như bãi đất sau cơn mưa mềm oặt, nhão nhoẹt, chỉ cần ai đặt bước cũng đủ lưu lại dấu chân. Mà dấu chân ấy… tôi lại không dám nhìn thẳng. Không dám nhận. Cũng không dám gọi tên.

Trời chiều nhuộm vàng những tán lá bên bờ Hoàng Giang. Mặt nước lặng lẽ phản chiếu ánh hoàng hôn đỏ rực. Tôi mang y phục ra bờ sông giặt, lựa chỗ vắng dưới rặng tre già, nơi ít người qua lại. Gió thổi nhẹ, mang theo mùi bùn non và cỏ dại.

Tôi cúi người, xắn tay áo, vừa giặt vừa nghĩ vẩn vơ. Không ngờ khi lùi lại mấy bước để tráng áo, gót chân vấp phải một hòn đá nhọn ẩn dưới lớp rêu xanh trơn. Chỉ kịp khẽ “ối” một tiếng, thân người đã chúi về phía trước. Vai trái quệt mạnh vào mép đá bén, đau buốt như có lưỡi dao lạnh cắt ngang da thịt.

Tôi ngã quỵ xuống bờ sông, đầu óc choáng váng trong chốc lát. Đến khi hoàn hồn, mới thấy cánh tay trái tê rần, nóng rát. Máu từ vai chảy xuống, thấm đỏ cả tay áo nâu. Vết rạch dài, sâu vừa đủ khiến da thịt hở ra, trông chẳng khác nào dấu thương do mũi tên lướt qua.

Tôi hít sâu một hơi, cố nén cơn đau. Chung quanh vắng tanh, chỉ có tiếng nước chảy và tiếng lá tre xào xạc. Không dám để áo dính máu thêm, tôi vội tháo áo ngoài, gấp lại đặt sang một bên. Làn gió chiều lùa qua, lạnh ngắt, khiến tôi khẽ rùng mình.

Tôi múc nước sông rửa vết thương. Nước chạm vào da, buốt đến tận óc, làm tôi cắn chặt môi, tay run lên nhưng vẫn cố dội thêm mấy lượt cho sạch bùn đất. Máu loãng dần, trôi theo dòng nước, để lại vết thương đỏ sẫm, dài sát bờ vai, nhìn mà phát hoảng.

Chẳng dám chần chừ lâu, tôi ôm lấy cánh tay đau nhức, lén men theo lối mòn quay về lều. Giữa ban ngày ban mặt, nơi doanh trại đông người qua lại, tôi không thể liều lĩnh cởi áo mà băng bó. Dẫu biết để vết thương như vậy thêm lúc nữa cũng chẳng an toàn, tôi vẫn chỉ còn cách nén đau, chạy một mạch về lều để xử lý.


0

Bình luận

Thiết lập văn bản

Chọn font chữ

Nội dung sẽ hiển thị như thế này