Gấm Hoa Giữa Trời

Hơi Tàn Sưởi Ấm Sương Sa




Đầu tháng Mười, trời bắt đầu trở dạ sang đông. Gió heo may từ triền núi thổi xuống, se se mà thấm tận da thịt. Rừng Hoàng Nghiêu phủ một màu lam xám mờ ảo, lá cây khẽ run, rụng lả tả như những đốm tro vừa buông khỏi tay trời. Con dốc dẫn lên doanh trại vốn gồ ghề nay càng thêm ẩm ướt, sương sớm bám trắng từ ngọn cỏ đến mỏm đá.

Tôi đang vừa đi ra khỏi chiếc lều ấm áp thì trông thấy chị Quế lọ mọ bước qua cổng trại, áo tơi khoác vội phất phơ trong gió lạnh. Tôi liền reo lên mừng rỡ:

“Aaa…Chị Quế…chị lên đây có việc ạ?”

Chị Quế kéo khăn dày che bớt gió, gương mặt vẫn dịu, nhưng đôi mắt hoe đỏ vì sương lạnh đường dài. Chị cười nhẹ một tiếng, hơi thở trắng phả ra từng luồng:

“Ừ, chủ tướng bảo trời trở rét, sợ mấy anh em có vết thương cũ lại đau nhức, nên gọi chị lên bốc thêm mấy gói thuốc phòng cho mà uống.”

Tôi cười hề hề, hai tay còn dính bụi tro nhưng mắt sáng lên như vừa gặp mùa xuân giữa tiết đông.

Vì từ ngày tòng quân đến nay, chỉ có mỗi chị Quế là người con gái duy nhất mình thân thiết. Cũng chỉ có chị là người biết tôi vốn không phải “gã lính trẻ gầy gò” như thiên hạ tưởng, mà là một cô gái giả trai để được góp sức cứu nước. Bởi vậy mỗi khi gặp chị, bao nhiêu dè dặt, bao nhiêu bứt rứt khi phải sống giữa đám đàn ông thô kệch… đều tan sạch như hơi sương trên ngọn cỏ.

Nói rồi, chị quay nhìn về phía những mái lều lúp xúp trước mặt, mái nào cũng dằn thêm đá để khỏi bị gió tốc, khẽ thở dài thương cảm. Trên cao, gió đông vi vút xuyên qua rặng thông, âm thanh nghe như một khúc hát dài của núi rừng, vừa hoang vu vừa ai oán.

Tôi vừa cười xòa vừa đón chiếc túi trên vai giúp chị:

“Lạnh kiểu này, có chút thuốc của chị là quý như vàng. Chứ đêm qua anh em rét run, ho tới đỏ cả mắt.”

Chị Quế nhìn , ánh mắt vừa thương vừa lo, y như nhìn đứa em gái lẩn thẩn trong nhà:

“Đông này coi bộ dữ lắm. Võ nghệ có giỏi hơn khối đàn ông trong trại, chị không cãi. Nhưng rốt cuộc… em vẫn là phận con gái. Thân mình quý như vàng, gặp gió rừng sương núi thế này, mạnh đến đâu cũng phải giữ. Nhìn thân gầy cứ phơi gió như này, chị chẳng yên tâm chút nào.”

Nói xong chị bật cười khẽ, còn tôi thì đỏ mặt, hoay hoay né đi ánh nhìn ấy.

Gió heo may lại thổi qua, cuốn theo mùi lá rừng mục và hơi đất lạnh. Nhưng đứng cạnh nhau giữa rừng núi âm u, hai người vẫn thấy ấm như trong bếp nhà. 

Sau khi chị em tôi nói chuyện dăm ba câu, chị Quế bỗng thở dài một hơi dài như trút cả mớ lo trong lòng. Chị ngồi xuống tảng đá kê trước lều, vuốt lại tà áo tơi còn dính sương rồi lắc đầu:

“Mấy ông lính các chú… toàn ăn uống qua loa cho xong chuyện. Nóng cũng ăn cơm nguội, lạnh thì nhai cơm khô. Rồi đau bụng, đau dạ… lại ta, lại mình phải chữa.”

Tôi bật cười, gãi gãi sau đầu:

“Chị nói đúng. Nhuế với em còn đỡ, cữ nào cũng không thể bỏ qua, chứ mấy người như anh Đa Cấu toàn ăn cho có. Em thấy…”

Chưa kịp nói hết câu, chị Quế ngắt lời ngay, giọng nhanh hơn thường lệ:

“Ủa? Vậy à? Anh ta… thường hay ăn gì? Có hay nhịn đói không?”

Tôi liếc sang chị một cái. Cái cách chị hỏi, cái ánh mắt lẹ làng ấy… rõ ràng không phải kiểu hỏi thăm bình giữa thầy thuốc và bệnh nhân, hơi vội… Biết vậy mà tôi vẫn làm bộ ngu ngơ, như chẳng nhận ra gì.

Có lẽ chị cũng ý thức được mình hỏi hơi vội, nên vội vàng chữa lại, mặt thoáng đỏ:

“À… à, chị hỏi vậy… để còn biết đường mà bốc thuốc lúc cần. Chứ… chứ không có ý gì khác đâu.”

Nghe câu đó, tôi suýt bật cười thành tiếng. Nhưng tôi cố giữ vẻ nghiêm, đáp tỉnh bơ:

“Dạ, hình như anh ấy thích ăn khoai nướng. Lần trước em thấy anh ăn một lần sáu củ to như cái bắp chân em này!”

Chị Quế gật gù, mà cái gật lần này trông… dịu hơn hẳn. Mắt chị nhìn đâu đâu, miệng khẽ nhắc lại:

“Khoai nướng… ừ, khoai nướng cũng dễ tiêu.”

Rồi chị im bặt, không nói thêm nữa, nhưng tôi thấy rõ chị đang ghi nhớ điều gì đó trong bụng. Bộ dạng ấy… giống y như mẹ tôi ngày xưa mỗi lần nhớ lời người ta dặn pha thuốc cho cha.

Tôi nhịn cười, cúi mặt xuống che đi khóe môi cứ muốn nhếch lên mãi.

Trong doanh trại lạnh căm căm giữa mùa đông đầu tháng Mười, nhìn chị Quế bối rối vì một người, tự nhiên lòng tôi cũng thấy ấm đến lạ.

Chừng cuối giờ Thân, gió núi nổi từng cơn, len lỏi qua từng khe đá trong doanh trại, lạnh đến mức tay tôi cứng như gỗ. Tôi cùng chị Quế men qua dãy lều, tìm đến một góc khuất sau gốc cây cổ thụ. Ở đó có bếp lửa nhỏ mà cậu Nhuế nhóm từ sớm, than hồng vùi trong tro, chỉ cần khơi nhẹ là ánh lên màu đỏ rực.

Hai chị em tôi ngồi xuống bên cạnh. Gió đông bên ngoài cứ rít hun hút, vậy mà bên bếp lửa này lại ấm đến lạ. Khói bếp quẩn trong không gian chật hẹp, cay nồng nơi khóe mắt, hòa vào mùi thịt phơi gác bếp mà chị Quế mang từ làng Ó lên, mùi thơm vừa quen, vừa giống một góc quê nhà.

Chị Quế chà xát hai bàn tay cho ấm rồi nhìn tôi:

“Sao rồi? Một tháng qua… thân phận của em vẫn an toàn chứ? Có ai nghi ngờ gì không?”

Tôi thở dài, khẽ cúi đầu để tránh làn khói cay:

“Cũng… suýt mấy lần rồi chị ạ. Nhất là lúc tắm giặt, hay khi luyện võ toát mồ hôi…”

Tôi dừng lại một chút, rồi hạ giọng xuống chỉ còn như hơi thở:

“Nhưng may mà… chủ tướng hình như… chẳng để ý lắm.”

Chị Quế quay sang nhìn tôi. Ánh mắt chị như quét một lượt tâm can tôi, sắc sảo của người từng trải, của người hiểu đời hơn tôi rất nhiều:

“Ừ… chủ tướng ấy à? Ông ấy tinh lắm, em ạ... Có khi ông ấy biết rồi, chỉ là không nói thôi.”

Nghe câu đó, tim tôi thót lại một nhịp, bếp lửa như cũng nổ lách tách theo.

Chị Quế thở ra một hơi dài, hơi thở trắng tan ra trong không khí lạnh:

“Ông ấy là người có cái tâm, cái tầm. Ông ấy hiểu hết. Thừa hiểu em gan dạ thế này là để đánh giặc, chứ đâu phải để làm điều hèn mọn. Mà người như ông ấy… khi đã hiểu rồi thì không bao giờ làm khó em đâu.”

Ngoài kia, gió đông lùa qua kẽ lá, mang theo mùi đất lạnh và tiếng chim đêm tách lẻ loi. Nhưng bên bếp lửa nhỏ, giữa những lời chị Quế nói, tôi lại thấy ngực mình ấm lên như được phủ thêm một tấm chăn dày.

Tôi không nói gì, chỉ khẽ đưa tay lại gần bếp lửa hơn, nhìn tia than hồng vang lên lách tách.

Một tháng qua, giữa trăm người đàn ông thô kệch, giữa rét núi cắt da, giữa hiểm nguy rình rập… chỉ có khoảnh khắc này làm tôi thấy mình đúng là một cô gái, được che chở.

Và điều đó… khiến lòng tôi mềm lại, dù chỉ một thoáng thôi.

Khi bếp lửa đã tàn bớt và gió đông bắt đầu mạnh hơn, chị Quế đứng dậy, phủi nhẹ tro dính trên vạt áo. Tôi cũng theo chị bước ra ngoài. Cả doanh trại chìm trong mờ sương, ánh lửa lác đác từ các lều hắt ra vàng đục, lay động theo từng cơn gió lạnh.

Chị Quế nhìn quanh xem có ai để ý không, rồi khẽ kéo tay tôi lại. Bàn tay chị lạnh như nước giếng đầu mùa, nhưng nắm rất chặt. Giọng chị chỉ là một hơi thở, thấp đến mức nếu không đứng sát nhau chắc tôi cũng chẳng nghe rõ:

“Chị nghe dân làng đồn… sắp tới giặc có thể lại đánh lớn.”

Tôi khẽ ngẩng lên, ánh mắt chị thoáng run. Dưới ánh lửa hắt từ lều gần đó, gương mặt chị như trầm xuống, lo lắng đến thắt lòng.

“Em nhất định phải cẩn thận, Sa ạ. Giữ mạng sống để còn trả thù nhà… nghe chưa? Đừng có liều lĩnh mà xông pha bừa bãi.”

Tôi sững người trong giây lát. Những lời ấy, tưởng đơn giản như bao lời dặn của chị từ trước, nhưng sao lần này lại nghe nặng như đá đè lên ngực. Ngoài kia, gió đông thổi ào một cái, quất vào mặt lạnh buốt. Lá rừng bay loạn lên, như cũng nghe được tin dữ.

Tôi đáp khẽ, cố làm giọng mình vững:

“Dạ… em biết rồi mà. Em không để chị lo đâu.”

Nhưng thật ra, tôi không chắc mình có giữ được lời hay không. Tôi biết mình là đứa bốc đồng, thấy giặc là chỉ muốn lao vào như con thiêu thân. Vậy mà lúc này, nhìn bàn tay chai sần của chị đang nắm tay tôi thật chặt… tự nhiên tôi thấy mình không thể chết bừa bãi được.

Chị Quế buông tay ra chậm rãi, như còn nuối tiếc. Gió đông mạnh thêm một trận nữa, cuốn tóc chị bay ngang mặt, làm đôi mắt chị đỏ hơn cả khi còn bên bếp lửa.

“Đi đi, kẻo khuya. Gió đông độc lắm.”

Tôi gật đầu, đi được mấy bước mà vẫn nghe tiếng chị trong gió, nhỏ như lời người mẹ dặn con trước cửa nhà.

1

Bình luận

Thiết lập văn bản

Chọn font chữ

Nội dung sẽ hiển thị như thế này