Gấm Hoa Giữa Trời

Bầy Chim Trong Sương




Đêm ấy, trăng lên cao, sáng vằng vặc như tấm lụa bạc phủ khắp núi rừng. Ánh trăng len qua tán lá, rơi thành từng vệt sáng trên mái lều, soi rõ những sợi khói mảnh đang tan dần trong gió đêm. Doanh trại lặng, chỉ còn nghe tiếng côn trùng rả rích và tiếng lửa lép bép như nhịp thở của đêm.

Trong lều nhỏ, chúng tôi quây quần bên nhau, tôi, Nhuế, Diêu và Đa Cấu. Cái hơi ấm từ bếp lửa lan ra, khiến ai nấy đều thấy lòng dịu lại sau một ngày mệt mỏi.

Diêu đang ngồi gọt khúc tre nhỏ, bỗng buông một câu vu vơ:
“ Chủ tướng mình lạ thiệt hỉ! người chi mô mà ra trận thì cứng như sắt, còn đánh cờ lại nhẹ tênh như mây.”

Tôi và thằng Nhuế nghe vậy liếc nhau, gật gù nhại lại giọng của Diêu.

 “Ờ, văn võ song toàn là rứa đó! Tay cầm gươm thì cứng như đá, mà cầm quân thì tài tình…chật chật…”

Tôi chưa dứt câu thì Diêu đã quay phắt lại, đôi mắt sáng lên trong ánh lửa.
“Cha cha, bọn mi dám nhại giọng quê tau à? Có biết cái câu “chém cha không bằng pha quế” không hả? Cái tội bọn mi là… là nặng lắm đó nghen, liệu mà giữ thần hồn cho kỹ!”

Nghe xong, tôi với Nhuế ôm bụng cười ngặt nghẽo, đến mức ngã dúi vào nhau. Một hồi lâu mới hoàn hồn, Nhuế vừa lau nước mắt vừa nấc lên từng chữ:
“ Bọn em xin lỗi anh Diêu… há há… sống chung với anh lâu quá nên nhiễm theo anh luôn rồi!”

Diêu vẫn giữ vẻ nghiêm, nhưng khóe môi đã khẽ nhếch, ánh mắt cũng dịu hẳn đi. Anh làm bộ quát:
“Tụi bây liệu mà thần hồn đi nghe chưa!”

Rồi cả bọn lại phá ra cười, tiếng cười vang ra tận ngoài lều, hòa với tiếng dế râm ran, tiếng gió lùa qua kẽ núi.

Ngoài kia, gió đêm thổi qua hàng tre, lá xào xạc nghe như tiếng thì thầm. Trong bếp trại, lửa sắp tàn, mấy tàn tro bay tản ra rồi rơi xuống đất, đỏ rực như đom đóm. Tôi nằm im, nghe tiếng gió, tiếng người, mùi khói thoang thoảng, mà thấy trong lòng mình ấm lạ. Giữa cơn binh lửa, giữa những ngày gian khổ, chừng như có thứ ánh sáng nhỏ nhoi mà bền bỉ, thứ niềm tin của người lính, tin vào chủ tướng, tin vào cái đạo làm người giữa thời loạn.

Tiết trời đông năm ấy rét buốt đến mức tưởng như gió từ phương Bắc quét xuống đã cướp sạch hơi ấm của đất trời. Mặt trời còn chưa ló rạng, bầu trời phủ một màu xám chì nặng trĩu, từng vạt mây dài xơ xác như bị gió đông xé rách, trôi lững lờ mà chẳng có dấu hiệu tan đi. Gió lùa qua núi Hoàng Nghiêu hun hút, luồn cả vào những khe đá, thốc xuống bãi đất trống khiến hơi thở của bất kỳ ai đi ngang cũng lập tức hóa thành khói trắng mỏng manh rồi tan mất.

Trên những tán cây cổ thụ ven chân núi, sương đêm đọng lại thành từng giọt nặng trĩu, bám đầy trên các nhánh khô khốc. Lá còn sót lại chỉ đếm trên đầu ngón tay, héo quắt, run lên như chính chúng cũng đang chịu đựng cái lạnh cắt da. Một vài con chim rừng kiệt sức vì đói rét, co mình trong hốc đá, thỉnh thoảng mới bật ra tiếng kêu yếu ớt, nghe như tiếng rên hơn là tiếng hót. Có con vội vã bay ngang, cánh quệt vào màn sương dày đến mức để lại một vệt trắng nhòe như vẽ.

Xa xa, tàn tro của những bếp lửa dập vội đêm qua vẫn còn âm ỉ, khói xám nghi ngút len theo gió, lẫn vào sương đến mức chẳng biết đâu là hơi ấm con người, đâu là hơi lạnh của đất trời. Toàn bộ bãi đất dưới chân Hoàng Nghiêu ướt sũng, in hằn từng dấu chân của đội tuần đêm, như thể đất cũng thở dài vì sự khắc nghiệt đang đè nặng lên nó.

Giữa cái lạnh rát buốt ấy, tiếng tù và hiệu lệnh vang lên chói lòa trong không khí. Nghĩa quân lập tức bị gọi dậy từ tờ mờ sáng. Người nào người nấy khoác trên mình chiếc áo vải thô đã bạc màu vì sương gió, mỏng đến mức gió lùa một cái là cả người run bần bật. Có người cắn răng, có người nén tiếng ho khẽ, nhưng tất cả vẫn phải đứng thẳng thành hàng, vai kề vai, như những thân cây đã bị gió đông vùi dập nhưng vẫn trơ trọi mà không cho phép mình ngã xuống.

Phần lớn bọn họ vốn chẳng phải quân lính gì, chỉ là những người dân cày lam lũ quanh năm. Anh Trầm bước ra khỏi hàng, trên áo vẫn còn phảng phất cái mùi rơm rạ của những ngày còn lăn lộn nơi sân phơi. Anh là người làng Ó, dáng người không cao, vai rộng, nước da sạm nắng. Thuở nhỏ từng theo ông ngoại học nghề bốc thuốc, quen phân biệt rễ cây, lá cỏ, nhưng nhà nghèo, lớn lên vẫn phải bám ruộng đồng mà sống.

Khi giặc Minh tràn tới, ruộng vườn tan tác, người làng Ó kẻ tản người chạy, anh gác lại thúng thuốc, theo trai tráng trong vùng lên Hoàng Nghiêu. Anh nhập trại cùng đợt với tôi, chẳng ồn ào khoe khoang, chỉ lặng lẽ làm việc được giao. Tuy không thân thiết như Diêu hay Nhuế, nhưng anh vẫn để lại trong tôi một ấn tượng rất khác. Không phải vì lời nói, càng không phải vì dáng vẻ, mà bởi cái cách anh lặng lẽ đứng trong trại, như một khúc gỗ chắc đặt giữa dòng người xô đẩy.

Mái tóc anh vương vài cọng rạ vàng khô, như thể chỉ cần cúi xuống là lại thấy cảnh quê nhà hiện về dưới gốc cau đầu ngõ. Anh Bông thì lấm lem bùn đất từ chiếc quần vải, bùn đã khô thành từng mảng, nứt nẻ như chính đôi bàn tay quanh năm vục xuống ruộng sâu. Hoặc như tên Diêu đứng gần đó đeo cái khăn vợ trao trước lúc tòng quân, màu vải đã bạc phếch, sờn mép, chỉ còn lại chút hơi ấm của người ở lại vậy mà trong lúc nào gã cũng giữ khư khư trên cổ, như giữ chút hơi nhà để trấn an lòng mình.

 Những bàn chân chai sạn quen đạp bùn giờ mang đôi dép rơm xơ xác, từng bước trên đất đông mà như dẫm lên cả ngàn nỗi băn khoăn. Trận mạc đời họ chưa từng biết đến, tiếng binh khí va chạm chỉ nghe qua lời kể của mấy ông già quán chợ. Giờ đây, cây giáo lần đầu đặt vào tay, cán gỗ còn thô, chưa quen độ nặng, khiến ai cũng run bần bật. Có người thử xoay cổ tay mà lưỡi giáo rung lên lạnh buốt; có người lóng ngóng đến mức suýt đánh rơi.

Họ đứng đó, thành một hàng dài lổn nhổn áo nâu áo chàm, giống như hàng lúa vụ chiêm còn non, xanh mà mềm yếu, vậy nhưng vẫn phải nghiến răng đứng thẳng trước gió.

Kẻ chỉ có bàn tay thô nhưng muốn muốn giữ lấy mảnh đất dưới chân.

Đa Cấu được chủ tướng giao coi một tốp tân binh. Vốn là người ít nói, tính lại cứng như khúc gỗ, hắn đứng giữa sân huấn luyện mà dáng chẳng khác cây cột đình cắm giữa gió đông. Giọng hắn thì to như sấm chiều giông, mỗi lần cất lên là cả bãi đất rung theo:

“Tay trái thấp xuống! Chân phải bước dài ra! Không đúng làm lại!”

Mắt hắn trợn tròn, cứ như chỉ chực nuốt sống đứa nào cầm giáo không thẳng. Đám tân binh vốn là dân cày nơi xóm dưới, thấy hắn quát một tiếng là ai nấy đứng cứng người như khúc rơm phơi sương, hơi thở cũng phải nén lại sợ thành tiếng.

Anh Chính, khổ thân, mới nhấc giáo một chút bị lệch, chưa kịp chỉnh lại thì tiếng quát của Đa Cấu đã nổ bên tai:

“Đứng cho vững vào!”

Anh giật thót cả người, hai tay run bời bời, suýt nữa đánh rơi cây giáo còn mới tinh được phát sáng nay. Mấy người đứng cạnh cũng nín thở, thậm chí có gã ngậm luôn cả hơi vì sợ đến lượt mình bị gọi tên. Chỉ có tiếng gió đông thốc qua những ngọn tre phía sau, hòa với tiếng “hây…ha” của binh sĩ , tạo nên một khung cảnh vừa buồn cười, vừa thương, lại vừa khiến người ta thấy rõ cái sự chật vật của những kẻ lần đầu làm lính.

Nhưng giữa cái run rẩy ấy, trong ánh mắt ai nấy vẫn ánh lên sự quyết tâm kỳ lạ, cái quyết tâm của những người nông dân chân đất, lần đầu rời ruộng mà vẫn muốn đứng cho vững trước giặc phương Bắc.

Từ xa, tôi trông thấy Nguyễn Chích đi ngang qua bãi tập. Áo choàng phấp phới theo gió đông, hai tay chắp sau lưng, bước chậm rãi như thể muốn nghe rõ từng tiếng gió luồn qua tán cây. Hơi lạnh buổi sớm sắc như lưỡi dao, anh hít một hơi thật sâu, nhìn đám người nông dân đang hóa thành binh sĩ trong màn sương dày đặc. Anh chẳng mắng, chẳng khen, chỉ đứng cúi đầu quan sát, ánh mắt trầm như đá núi.

Bỗng phía bên phải có tiếng “bịch” khô khốc. Cậu Nhuế vấp phải cục đá chìm dưới lớp lá mục, té sấp xuống đất, mặt chà nguyên vào vệt sương lạnh ngắt. Đa Cấu định mở miệng quát thì tôi đã ôm bụng cười trước, giọng vang cả bãi:

“Rồi, đứng dậy đi! Té xong lần sau bớt ngu đó!”

Đám lính bật cười ồ, tiếng cười lan ra như một đốm lửa nhỏ bén vào rơm khô giữa ngày đông. Anh Trầm với tay kéo Nhuế dậy, phủi đất trên lưng cho Nhuế. Đa Cấu quắc mắt:

“Cười cái gì! Cười thì giáo có đâm giặc được không?”

Nhưng miệng vừa dứt câu, khóe môi anh ta đã cong lên thành nụ cười nén không nổi. Cái lạnh khiến môi ai cũng tái nhợt, vậy mà nụ cười lại đỏ hơn cả ánh lửa sớm mai.

Khi Nguyễn Chích bước tới, sương bám vào vạt áo anh trắng như bụi phấn. Tôi lập tức thẳng người, giáo run run nhưng ai cũng cố đứng vững. Anh nhìn một lượt, đôi mắt sâu như trải qua trăm trận, rồi chỉ nói một câu nhẹ như gió lùa qua ngọn tre:

“Không cần giỏi ngay. Chỉ cần quen nhau trước. Người với người đã hiểu nhau rồi, lúc đánh giặc mới không bỏ chạy.”

Mấy binh sĩ nhìn nhau, chớp mắt cái đã thấy lòng mình ấm lên đôi phần, như được ai phủ lên vai một tấm áo khác.

Đa Cấu từ đó bớt gắt đi. Hắn chỉnh giáo cho từng người, dằn giọng thì vẫn còn, nhưng trong mắt đã bớt hung. Đám lính thì vẫn vụng về, người bước ngắn, kẻ bước dài, người cầm giáo lệch, kẻ lỡ đập vào chân nhau, nhưng miệng đã quen gọi nhau như anh em trong nhà, không còn e dè.

Buổi tập lại vang lên trong bãi đất cuối đông. Giáo gõ chan chát vào nhau, âm thanh giòn như băng vỡ. Hơi thở của từng người phả thành từng đám trắng, hòa vào màn sương mỏng đang trôi giữa những tán cây trụi lá. Thỉnh thoảng lại có tiếng quát vang, tiếng ai đó chửi thề vì trượt chân, rồi tiếng cười bật ra, trong trẻo đến mức át cả tiếng gió rét quất qua mặt ruộng khô.

Họ chưa phải là quân tinh nhuệ.
Nhưng giữa trời đông giá buốt ấy, dưới bầu trời xám chì, trên nền đất sũng sương, họ đã bắt đầu giống một đội quân của nhau.

Một đội quân biết đứng sát vai, biết cùng té, cùng cười, cùng run, và rồi sẽ cùng đánh giặc.

0

Bình luận

Thiết lập văn bản

Chọn font chữ

Nội dung sẽ hiển thị như thế này