Gấm Hoa Giữa Trời

Ván Cờ Gỗ Mít




Chiều hôm nọ, nắng chiều vàng như mật. Ánh nắng vắt qua mấy ngọn đồi, lấp lánh trên những tấm áo nâu sờn. Doanh trại lặng lẽ, chỉ còn tiếng ve vang vẳng trong bụi tre cuối sân và tính quân lính đập giặt áo vang lóc cóc ở bờ Hoàng Giang. Tôi ngồi vá lại mấy đường chỉ áo, còn Đa Cấu với anh Diêu thì bày cờ ra giữa sân, dưới gốc cây muỗm già. Thấy vậy tôi mới chạy ra xem họ đánh cờ.

Hai người ấy tính tình trái ngược nhau lắm. Diêu thì vừa đanh đá vừa nóng nảy, nói năng đốp chát, còn Đa Cấu lúc nào cũng trầm ngâm, điềm tĩnh, lâu lâu hay cười khờ. Vậy mà không hiểu sao cứ mỗi chiều nhàn rỗi là lại lôi bàn cờ ra đấu, như thể có món nợ chưa chịu trả.

Tấm ván cờ làm bằng gỗ mít, đã sờn góc, quân cờ thì được khắc thô, nhiều con còn thiếu nét , vậy mà quý lắm, vì là món duy nhất trong trại khiến người ta tạm quên được khói lửa chiến chinh.

Lúc tôi lại gần, ván cờ đã vào hồi gay cấn. Diêu đánh bên đỏ, Cấu bên đen. Hai người đang vào thế “Thuận Pháo”, quân đỏ tấn công dữ dội, cờ đen chỉ lo thủ. Mỗi lần Diêu đi một nước, anh lại cười hềnh hệch:

“Tướng của mi sắp bị bắt rồi nớ, Cấu ơi!”

Cấu không nói chi. Mắt dán vào bàn cờ, mồ hôi rịn trên trán. Tôi nhìn mà thấy thương, vì rõ ràng ảnh sắp thua thật. Xe bị kẹt, Mã nằm góc, mà Pháo thì bị Diêu dồn sát mép bàn.

Nguyễn Chích khi ấy từ phía doanh chính đi ngang. Anh hình như vừa đọc sách viết chữ xong, trên tay áo còn dính chút mực, thấy vậy nên dừng bước. Chúng tôi thấy chủ tướng tới thì đứng dậy, nhưng anh phẩy tay:

“Ngồi đi. Cho ta xem một ván.”

Không khí chợt lặng. Tôi thấy Cấu lúng túng hơn, còn Diêu thì càng hăng, giọng to hơn thường lệ.
“Thưa chủ tướng, hạ được hấn rồi! Ba nước nữa thôi, là tướng đen hấn truốt[1] luôn nớ!”

Giọng Diêu trọ trẹ mà phấn khích lạ thường. Tôi dẫu chẳng nghe tường tận, cũng đoán ra, chỉ ba nước nữa thôi là Đa Cấu bại trận.

Nguyễn Chích không nói gì, chỉ cúi xuống quan sát. Mắt anh trầm như mặt nước suối. Một lát, anh chỉ tay vào quân Xe của Cấu, khẽ hỏi:
“Nếu mất con này, cờ có loạn không?”

Cấu nhìn bàn cờ, ngập ngừng:
“Dạ... mất Xe thì coi như hết đường phản công, chỉ còn nước thủ.”

Nguyễn Chích mỉm cười, nói một câu tỉnh bơ:
“Thế thì thử hi sinh đi. Lui một bước xem nào.”

Cấu nghe mà ngẩn ra. 

“ Nhưng Xe là hồn của cờ, bỏ đi thì coi như tự sát.”

 Nhưng chủ tướng chỉ gật đầu, ánh mắt bình thản như đã thấy hết trước mắt.

Cấu run run cầm quân Xe, kéo ngang một nước, hi sinh thật. Diêu thấy vậy cười ngất, vừa đi vừa nói:
“Hết cứu nổi rồi, Cấu ơi… mi tự đâm mi rồi, răng mà khun rứa…”
Nhưng chỉ qua hai nước sau, bàn cờ đổi hẳn. Xe đỏ ăn Pháo đen thì để hở Tốt lộ bảy, Cấu liền đưa Mã sang chiếu. Diêu chống, nhưng lại quên con Pháo ở cánh còn lại, thế là Cấu nhân lúc ấy trượt qua, chiếu tướng một đòn chí mạng.

Tôi thấy vậy ngạc nhiên vô cùng, vô thức mà ồ lên một tiếng. Diêu mặt đỏ bừng, ngẩn người như bị mất sổ gạo. Cấu cũng không dám tin, chỉ cúi đầu nhìn bàn cờ, rồi nhìn Nguyễn Chích.
“ Đôi khi, lui một bước không phải là thua. Đó là để tiến hai bước. Trong chiến trận cũng thế, đừng để cái thắng thua trước mắt làm mờ đi đường dài.”

Câu nói ấy làm tôi nhớ trận đánh ở dọc sông Yên[2]. Cái buổi chiều hôm ấy, mưa lâm thâm, trời xám tro, khói bếp còn chưa tan thì quân Minh đã lấp ló bên kia bờ sông. Chúng đông như kiến, cờ xí dày đặc, trống thúc liên hồi nghe mà gai cả sống lưng. Mấy anh em trong doanh ai nấy mặt tái mét. Nhuế đứng cạnh tôi, cứ mím môi, tay nắm chặt thanh đao mà vẫn run. Tôi cũng run, vì biết mình chỉ là quân lẻ, chưa tới nghìn người.

Chủ tướng đứng trước cửa trại, nhìn trời một lát rồi cười khẽ. Anh bảo:

“Giặc nó tưởng ta chết đói, thì cứ cho nó tưởng. Lui đi, lui ba dặm, để lại hết nồi niêu, vải vóc, cho chúng thèm mà sập bẫy.” Nghe xong, ai nấy nhìn nhau, tưởng chủ tướng nói đùa. Lui nghĩa là mất hết, là bị giặc lùa như lùa gà. Nhưng anh vẫn thản nhiên, mắt như nhìn xuyên cả cơn mưa.

Đêm đó, quân ta rút lui, giẫm lên đất bùn kêu lạch bạch. Tôi với Diêu đi sau cùng, quay đầu lại thấy doanh trại trơ trọi giữa đồng nước, cờ gió ướt rũ xuống, ngọn lửa trong trại chập chờn như muốn tắt. 

Đến nửa đêm, trời tạnh, trăng nhú lên khỏi sông. Chủ tướng cho lệnh chia quân ẩn vào rừng tre hai bên bờ. Anh bảo chỉ chờ khi giặc vào cướp trại thì đánh trống hiệu. 

Quả nhiên, khi gà vừa gáy canh ba, từ xa vọng lại tiếng hò reo của giặc. Chúng đốt đuốc đỏ cả một vùng, reo hò như gặp được vàng. Tôi nín thở, bàn tay đẫm mồ hôi lạnh. Rồi tiếng trống hiệu vang lên, ba tiếng ngắn, một tiếng dài. Cả khu rừng như bừng tỉnh. Mũi giáo lóe sáng trong sương, tên bay như mưa. Giặc Minh hoảng loạn, chưa kịp trở tay đã bị chém đổ hàng loạt. Có thằng còn chưa kịp vác bao gạo đã ngã nhào xuống bùn.

Tôi nhớ lúc đó mình lao ra, chân trượt trong vũng nước, máu giặc hòa với nước mưa lạnh ngắt. Diêu hét một tiếng dài, rồi chém phập xuống vai một tên tướng địch. Hắn gào lên, ngã rầm xuống, đầu cắm vào đất. Cả bờ sông Chu bốc khói, mùi tanh nồng đến buồn nôn.

Trận ấy thắng lớn. Quân ta chẳng mất mấy ai, còn giặc thì bỏ xác lại cả trăm, cả nghìn. 

 “Cờ xé mà còn cán, người thua mà chưa tuyệt chí, thì trời không nỡ quay lưng.” Câu ấy, tôi nhớ mãi.

Thế nên mỗi trận cờ cũng là một trận chiến, nơi người thắng không phải là kẻ đi nhiều nước, mà là kẻ hiểu khi nào nên dừng.

Kết thúc ván cờ, Diêu cúi đầu, nhưng giọng vẫn hầm hầm:

“Rứa thì… tôi chịu thua thiệt, nhưng mà nước cờ ni của chủ tướng đúng hay thiệt đó”

Cấu nghe xong cười rồi quay sang chắp tay cảm ơn Nguyễn Chích. 

Tôi thấy ánh nắng cuối ngày nhuộm lên vai họ một màu vàng sẫm. Gió thổi qua sân, mang theo mùi rơm cháy từ làng xa, nghe như mùi quê cũ. 

Khi mọi người tản đi, tôi vẫn còn ngồi lại. Bàn cờ trống không, chỉ còn vài dấu tay mồ hôi in lên gỗ. Tôi chợt hiểu ra, có lẽ, cái thắng thật sự trong đời không phải là đánh bại người khác, mà là học được cách điềm nhiên giữa thắng và bại.

*Chú thích:

[1] Truốt : xong, toi đời.

[2] sông Yên: là dòng sông chảy qua huyện Nông Cống và Ngọc Sơn, là hợp lưu của nhiều dòng sông nhỏ trong vùng.

4

Bình luận

Thiết lập văn bản

Chọn font chữ

Nội dung sẽ hiển thị như thế này