Gấm Hoa Giữa Trời

Ngoại truyện: Mực Chàm Trên Lớp Áo Vải

 

 

Sau khi Đế Quý Khoáng thất thủ, cơ nghiệp nhà Hậu Trần tiêu vong, sơn hà Đại Việt rơi trọn vào tay giặc Minh. Chúng chẳng những chiếm thành trì, cướp ruộng đất, mà còn giết cùng diệt tận căn nguyên hồn nước. Triều cũ tan tành, song nỗi thống khổ mất nước mới thực khởi. Minh Thành Tổ truyền hạ thánh chỉ, thi hành phép đồng hóa tàn khốc chưa từng có, tiêu hủy văn tự, phong tục, khiến con dân Đại Việt quên gốc, lãng tổ, chẳng còn nhớ mình từng là ai.

Tôi từng thấy những làng xóm xác xơ vì thuế khóa. Ruộng không còn đầm, núi không còn rừng. Người bị ép xuống biển, lưng trần mò ngọc giữa dòng sâu, ngán thay cá mập thuồng luồng rình rập. Kẻ bị lùa vào núi đãi cát tìm vàng, khốn nỗi rừng sâu nước độc, đi thì có mà về thì hiếm. Sản vật trong dân bị vét cho sạch, chim trả cũng bị bắt dò, lưới chăng khắp chốn. Dân lành bị nhiễu, bị ép bẫy hươu đen, cạm đặt nơi nơi, đến côn trùng cây cỏ cũng không còn yên thân.

Tôi nhớ những gương mặt hốc hác, những mái nhà chỉ còn đàn bà goá bụa với trẻ con nheo nhóc. Kẻ cướp thì há miệng, đứa nhe răng, máu mỡ bấy lâu nuốt vào bụng mà vẫn chưa chán. Nay bắt dân xây nhà, mai ép dân đắp đất, chân tay nào phục dịch cho vừa lòng chúng? Nhìn xuống đám quân kia, tôi chợt hiểu, cái gọi là “thái bình” của chúng, chẳng qua là dựng trên xương trắng máu khô của muôn người vô tội.

Tôi nghe người làng kể, khắp các phủ lộ trong cõi Nam, quan quân nhà Minh lùng sục khắp nơi, từ xóm nhỏ, thôn hẻo, cho đến chùa chiền, am miếu. Chúng thu hết sách vở, gia phả, thần phả, cả bia đá, câu đối, hương ước. Thứ gì viết bằng chữ Nôm đều bị gom lại chở sang Kim Lăng[[1]. Sách vở Đại Việt mấy trăm năm vun đắp, phút chốc hóa tro tàn. Văn Miếu bị đập, chuông khánh, tượng Phật, đỉnh đồng đều đem nung chảy, nấu thành thỏi gửi về phương Bắc. Không ít thầy đồ, nho sinh, sư tăng bị bắt, chỉ vì giữ lấy mấy trang giấy cũ hay dám khuyên dân không quên chữ nước mình.

Hương liệu quý, ngọc trai, sừng tê, ngà tượng, vàng bạc ngày đêm chảy về Kim Lăng. Nhiều đoàn dân phu bị bắt giải sang Tàu, ép đắp đường, xây thành, chết dọc đường vì đói rét chẳng kể xiết. Phụ nữ, hài nhi bị bắt làm nô tỳ, bị đổi chác như vật phẩm ngoài chợ. Giặc lại cấm tiếng Nam, bắt dân học chữ Hán, mặc áo Hán, búi tóc theo lối Hán, lễ tang, tế tự, cách xưng hô trong gia tộc cũng bị buộc đổi theo. Ai còn giữ lễ cũ, nói tiếng cũ, đều bị coi là nghịch mệnh, nhẹ thì trượng hình, nặng thì xử trảm giữa chợ.

Quân Minh bấy giờ đặt đồn thú khắp cõi, từ Thăng Long, Đông Đô cho chí Sơn Nam, Nghệ An, Thuận Hóa chỗ nào cũng có binh canh giữ, tuần phòng nghiêm mật. Dân gian ra vào phải mang thẻ bài, hễ nói sai lời, lộ chí phản kháng, tức thời bị chém giữa đường. Những kẻ từng theo nghĩa Hậu Trần, dù chỉ một thuở, cũng bị truy bắt đến tận gốc rễ. Phàm nơi nào có kẻ dám tụ nghĩa, khởi xướng binh tâm, thì làng ấy bị thiêu, họ ấy bị tru di, chẳng một ai được sống sót. 

Lúc ấy, tôi chỉ biết cắn răng nghe chuyện, lòng như lửa đốt. Cái đau mất nước không chỉ ở gươm đao, mà ở chỗ người Việt dần quên làm người Việt.

Tội chất ngút trời sao kể xiết,

Máu dân nhuộm đất chẳng tanh mùi?

Biển sâu rừng thẳm than vùi,

Hỏi trời có thấu phận người lầm than?

Nước Đại Việt ta từ thuở vua Hùng còn có tục văn thân, nghĩa là xăm mình, lấy đó làm dấu hiệu của lòng trung dũng. Nam tử đến tuổi trưởng thành thường khắc hình giao long, hổ dữ hay rồng bay, hoặc chữ “Trung”, “Nghĩa” nơi ngực, nơi cánh tay, để trừ tà, giữ thân.

 Song phong tục ấy dần suy, đến khi giặc Minh sang, thì bị cấm tuyệt. Bởi theo phép người Hán, kẻ xăm mình là tội nhân, là kẻ bất hiếu, làm nhơ nhuốc thân thể cha mẹ sinh thành.

Nhưng không phải ai cũng chịu để cho lịch sử bị cào sạch như thế. Dẫu giặc Minh ra sức đốt từng cuốn sách, xóa từng nét chữ, vẫn còn những người giữ trong mình ngọn lửa không thể dập tắt. Có người chôn giấu sách trong chum gạo, có người khắc thơ lên vách núi, có người giữ lại hồn nước bằng chính thân thể mình.

Nguyễn Chích có lẽ là một trong số ấy, người ta vẫn nói vậy mà tôi thấy quả không sai. 

Tôi từng thoáng thấy, trong buổi chiều hôm đó ra bờ suối nơi chân núi Hoàng Nghiêu, khi ánh nắng lấp loáng, chủ tướng ngâm mình trong làn nước chảy dịu dàng, dưới làn da rám nắng, có một hình xăm giao long đen ngòm uốn lượn, đầu hướng về bả vai, đuôi cuộn lại  ở ngực. Nét mực đã nhòe nhưng vẫn đậm cái khí phách nam nhi. Ánh sáng chiếu vào trông như con vật như sắp thoát khỏi làn da mà lao ra, vùng vẫy giữa nước trời.

Tôi khi ấy ngẩn người, không dám thở mạnh. Nghe mấy anh em trong doanh trại kể lại rằng, cha mẹ chủ tướng vốn chỉ là người nông dân ở cái thôn Mạc đó[2], quanh năm cày cấy, bắt cá. Thuở nhỏ, chủ tướng thường theo cha chèo thuyền ra sông, da rám nắng, thân quen với nước. Có lẽ vì thế mà khi lớn, anh vẫn giữ cái tục xăm mình của người xưa, dù từ đời vua Trần[3] trở đi, tục ấy đã dần phai.

Người ta bảo, giao long là linh vật của nước, chỉ sống nơi sông sâu biển rộng. Giờ đây, giao long ấy nằm im trong huyết quản anh như mạch nước ngầm nuôi sống cả một giang sơn đang bị dày xéo. Tôi không dám hỏi, nhưng trong lòng lại dấy lên một thứ cảm xúc khó gọi tên

Giữa thời loạn này, cái hình xăm ấy lại hóa thành điều cấm kỵ. Giặc Minh coi kẻ xăm mình là phạm nhân, hễ bắt được ai có mực trên da liền tra khảo, lột da, hoặc bỏ ngục cho chết rục. Ấy thế mà chủ tướng vẫn giữ, không xóa, cũng không giấu như nhiều người khác.

Nhưng có lẽ chủ tướng cũng hiểu rõ điều đó hơn ai hết. Người như Nguyễn Chích, thà mất mạng, chứ chẳng bao giờ chịu để cho giặc Minh cắt mất gốc rồng trên da thịt mình.

Và từ bận ấy, mỗi khi nhìn anh đi giữa doanh trại, lưng thẳng, mắt sáng, tôi bỗng thấy dường như con giao long trong lớp áo vải sờn bạc kia vẫn đang sống, không phải trên vai anh, mà là trong lòng của tất cả chúng tôi.

*Chú thích:

[1] Kim Lăng: Tên gọi cũ của thành Nam Kinh, kinh đô thời Minh.

[2] Thôn Mạc, Huyện Đông Sơn, Tỉnh Thanh Hóa (theo Danh tướng Việt Nam-tập 2).

[3] vua Trần Minh Tông.

2

Bình luận

Thiết lập văn bản

Chọn font chữ

Nội dung sẽ hiển thị như thế này