Loạn Thế
Cảnh báo
Giữa giờ Ngọ, nắng gắt như đổ lửa, tôi đang thiu thiu trên tảng đá lớn cạnh bờ Hoàng Giang, chợt thấy sống lưng như bị ai quét lửa phả vào. Ánh mặt trời chiếu xuyên qua từng kẽ lá ổi, nóng đến độ cái bóng cây cũng chẳng đủ che một phần hơi nắng. Hơi đất hầm hập bốc lên, mùi phù sa dưới lòng sông quyện với mùi lá khô héo đến gai cả mũi. Mấy con ve trên ngọn tre gần đó thi nhau kêu inh ỏi, tiếng réo chát chúa như cố thi gan với mặt trời.
Cực chẳng đã, tôi bật dậy, phủi mấy hạt cát đang rát trên cổ, rồi bước nhanh vào cái lều nhỏ dựng sát mép rừng. Trong lều tuy tối hơn nhưng cũng nóng đến mức hơi thở như dính lại trong cổ họng. Dẫu vậy, còn hơn phơi cái thân ra ngoài nắng mà bị nướng như củ khoai.
Bên trong, Nhuế với Diêu đã nằm vật ra tấm gỗ đẽo phẳng mà chúng tôi tạm gọi là tấm phản. Thật ra, chẳng phải phản gì cho cam, chỉ là mấy tấm gỗ rừng ghép lại, mặt còn sần sùi, dằm chưa gỡ hết. Nhớ cái phản gỗ xoan đào của Chủ tướng bên trong hang lớn đằng kia mặt phản mịn như lưng cá chép, chạm vào mát lạnh, tự nhiên thấy đời mình đúng là khổ. Nhưng rồi nghĩ lại, ở thời buổi chiến loạn này, có được chỗ nằm đã là phước. Bao nhiêu nghĩa quân còn phải lót lá khô trên đất, đêm xuống nằm lạnh cả xương sống. Giặc Minh thì rải khắp nơi như nấm sau mưa, dân tình đói khổ, nhà cửa cháy trụi, đến một chiếc giường ra hồn còn chẳng ai mơ tới.
Âu cũng là hoàn cảnh. Ở thời buổi này, sống qua được một mùa nắng gắt đã là chuyện khó. Tôi kéo cánh tay che bớt ánh sáng hắt qua cửa lều, tựa đầu vào gốc cột gỗ, nghe tiếng ve gào mãi trên mái lá mà mí mắt cứ trĩu xuống.
Tôi rón rén nép mình vào góc, cố thu nhỏ người trên tấm phản chật chội. Tiếng ngáy của Diêu vang lên như tiếng sấm rền, mỗi lần hít vào thở ra đều khiến không khí rung chuyển. Tôi mới gia nhập nghĩa quân chưa đầy mười ngày, mỗi đêm vẫn trằn trọc vì thứ âm thanh khó chịu ấy. Chắc chỉ có Nhuế, đứa đã quen với mọi thứ, mới có thể ngủ ngon lành trong tiếng ồn ào đó. Thằng bé nằm co quắp, khuôn mặt tuấn tú nhăn lại như đang chống chọi với cơn ác mộng nào đó, còn tay chân Diêu thì vô tình đè lên người nó.
Trong lều vắng bóng Đa Cấu. Có lẽ anh lại cùng chủ tướng bàn việc quân cơ trong hang lớn. Vị trí của anh vốn cao hơn chúng tôi, võ công cũng thuộc hàng ưu tú, dĩ nhiên là trừ tôi ra. Nguyễn Thị Bành[1] này phận nữ nhi nhưng võ công đâu có thua kém bất kỳ tráng đinh nào.
Mặc dù tôi mặc đồ của đàn ông, xin tòng quân đánh giặc như đàn ông, ăn ngủ với đám đàn ông, nhưng tôi chính là một cô gái. Tuy vậy, mà võ thuật của tôi chỉ có hơn, không kém đàn ông. Bởi lẽ từ thuở nhỏ, tôi đã được cha dạy cho đủ các môn bắn cung, cưỡi ngựa, kiếm thuật.
Tôi là con gái thứ hai của một quan nhỏ dưới thời Hồ, những tưởng rằng đời mình sẽ trôi qua yên ổn nào ngờ vận nước đổi thay chỉ trong một sớm một chiều.
Ngày quân Minh tràn xuống, cờ xí như mây đen phủ kín chân trời. Cha con Hồ Quý Ly bị bắt, triều Hồ sụp đổ. Thiên hạ rúng động, lòng người ly tán.
Giặc giương cao ngọn cờ “phù Trần diệt Hồ”, miệng nói nhân nghĩa, tay lại nhuốm đầy máu. Chúng rêu rao khắp nơi, muốn lấy danh chính ngôn thuận để biến nước ta thành quận Giao Chỉ dưới quyền Đại Minh. Nhưng thiên hạ đâu phải kẻ mù. Lớp mặt nạ nhân nghĩa ấy, sớm đã bị gió tanh mưa máu lột trần.
Giản Định Đế và Trùng Quan Đế đều là những hậu duệ nhà Trần lần lượt dựng cờ khởi nghĩa, nhưng đều thất bại.
Không chỉ bậc đế vương. Khắp núi rừng, đồng nội, dân đen cũng vùng dậy. Người cầm cuốc biến thành gươm, kẻ gánh cày cũng biết liều thân. Nhưng từng đợt nổi dậy ấy, như sóng nhỏ đập vào vách đá, cuối cùng vẫn bị dìm trong máu dưới lưỡi đao của quân Minh.
Ta còn nhớ rất rõ, mỗi lần nghe tin một thôn làng bị đốt trụi, lửa cháy đỏ cả một vùng trời, mỗi lần nghe kể một toán nông dân bị bắt trói, đầu rơi trước chợ, lòng ta lại lặng đi, như có thứ gì đó bị bóp nghẹt nơi ngực.
Hôm ấy là một ngày nắng gắt. Trời cao mà trong, gió thổi qua cánh đồng lúa, tưởng như chẳng có điềm gì báo trước. Cha tôi cùng đám trai tráng trong làng tụ lại từ sớm, người cầm giáo mác thô sơ, người chỉ mang theo gậy gộc, trong mắt ai cũng ánh lên một quyết tâm liều lĩnh. Họ định chặn đoàn thu thuế của quan quân Minh đi ngang qua đường cái, mong giành lại chút công bằng cho dân làng vốn đã kiệt quệ vì sưu cao thuế nặng.
Nhưng việc lớn há dễ thành.
Đoàn quan quân đến đông hơn dự liệu. Ngựa hí vang, giáp sắt loang loáng dưới nắng. Chỉ một hồi trống lệnh, quân Minh đã dàn trận, vây kín cả cánh đồng. Những người nông dân chân đất chưa kịp tiến lên đã bị ép lùi lại từng bước. Tiếng hô xung trận chưa dứt, đã bị át đi bởi tiếng binh khí va chạm và tiếng kêu thất thanh.
Cha tôi… ngã xuống giữa ban ngày.
Ngay giữa đồng, nơi bùn đất còn in dấu chân cày, ông bị chém gục trước mắt bao người thân thích. Không có lấy một lời trăn trối. Chỉ là một thân người đổ xuống, rồi lặng đi giữa tiếng gào thét và khói bụi mù mịt.
Từ ngày cha mất, trong nhà không còn tiếng nói cười như trước.
Mẹ tôi trở nên lặng lẽ hẳn đi. Công việc đồng áng vẫn làm, cơm nước vẫn lo, nhưng dáng bà lúc nào cũng như thiếu mất một phần hồn vía. Mỗi buổi chiều, khi khói lam từ các mái nhà cuối làng bắt đầu bốc lên, bà lại ngồi nơi hiên, nhìn xa xăm về phía cánh đồng năm ấy.
Chị gái tôi thì sớm phải lấy chồng, do lọt vào mắt con trai một ông địa chủ làng bên. Chị lấy chồng năm mười bảy tuổi, tưởng đâu có thể nương nhờ yên ổn, ai ngờ thời thế đảo điên. Mới ba năm sau, khi sinh được một mụn con, giặc Minh tràn tới chiếm huyện, chồng chị bị bắt đi nô dịch, từ ấy bặt tin. Thằng cu nay đã lên ba, mỗi chiều vẫn ra ngõ ngóng cha, mắt trong veo mà buồn hiu. Còn chị, cứ đứng tựa cổng nhìn ra cánh đồng, thấy ai đi qua cũng giật mình ngỡ chồng trở về.
Không ít lần, tôi đứng nhìn cảnh ấy mà lòng quặn thắt. Thời cuộc đảo điên, cuốn con người trôi dạt như cỏ rác giữa dòng. Đến nỗi, muốn khóc cũng không biết khóc vào đâu, giọt nước mắt vừa rơi xuống, đã như bị gió cuốn đi mất, chẳng còn chỗ để neo lại.
Mấy năm nay, trên mảnh đất Đại Việt này, gió vẫn thổi mùi máu tanh chưa kịp tan đi. Dưới bầu trời ấy, bao nấm mồ vô danh vẫn mọc lên trên ruộng đồng, bên bờ sông, trong rừng sâu. Cái chết đã thành chuyện thường ngày, còn nỗi sợ hãi dường như chẳng ai còn thấy lạ.
Nhưng giữa cái tang thương đó, ngọn lửa căm hờn vẫn chưa bao giờ tắt. Tôi hận không thể một mình xông vào doanh giặc, mà phanh thây chúng trăm mảnh. Bởi mỗi giọt máu rơi, mỗi tiếng khóc của người mẹ mất con, của người vợ mất chồng… đều là nợ.
Và món nợ ấy, phải có ngày được trả.
Bọn giặc đó sẽ phải đền tội cho những gì chúng đã gây ra cho con dân đất Việt này.
Tự do, phải do chính tay mình giành lấy.
Tôi quyết xin tòng quân đánh giặc. Nhưng là con gái, tuy học võ, vẻ ngoài của ta người tôi thường lầm tưởng là “liễu yếu đào tơ”. E rằng sẽ không có lấy một ai muốn chấp nhận ta để ra trận mất.
Nghe đâu cách đây chừng gần hai mươi dặm, có một căn cứ vừa khởi nghĩa cách đây không lâu, nhớ không lầm chính là căn cứ Hoàng Nghiêu. Tin ấy, tôi không nghe từ ai quen biết, mà là nghe lỏm được từ mấy bô lão ngồi ngoài hàng nước đầu làng.
Hôm ấy, tôi mang thúng ra chợ sớm, ghé qua quán nước đầu làng nghỉ chân. Quán chỉ là cái mái lá thấp, vài cái chõng tre cũ, ấm nước sôi đặt trên bếp than hồng. Mấy ông già trong làng ngồi đó từ lúc nào, tay cầm chén trà, giọng nói rì rầm nhưng tôi vẫn nghe được thấp thoáng.
“Này, các ông có nghe tin gì chưa?” một ông nhấp chén nước chè, chép miệng hỏi.
“Dạo này tin dữ thì nhiều, tin lành thì hiếm lắm.”
Ông kia hạ giọng xuống một chút, nhưng vẫn đủ để người xung quanh nghe rõ:
“Nghe đâu trên phía Hoàng Nghiêu, có người vừa dựng cờ khởi nghĩa đấy.”
“Khởi nghĩa?” một ông già khác bật cười khẩy, “Khởi với chả nghĩa… Bao nhiêu phen rồi, có nên cơm cháo gì đâu.”
“Ấy, lần này khác.” Người đầu tiên chống tay lên gối, giọng có phần chắc nịch, “Nghe nói chủ tướng là tay có tài, đánh đấm cũng ra gì lắm.”
"Có phải tên Chích gì ấy không? hay Chính nhỉ?"
Người kia gật gù "Nguyễn Chích ấy..."
"Tôi có nghe, hình như trước cũng từng đem quân đánh trận đâu đó..."
“Ừ, tôi cũng nghe thế,” người kia gật đầu, “Bây giờ đang chiêu mộ nghĩa binh. Ai có sức thì cứ lên mà theo.”
Một ông khác thở dài:
“Theo thì cũng muốn theo… mà nhà cửa, vợ con bỏ đó thì ai lo? Với lại… giặc nó mạnh thế kia…”
“Không theo thì chịu cảnh này mãi à?” người đầu tiên cắt ngang, giọng hơi gắt, “Để chúng nó muốn bắt ai thì bắt, muốn giết ai thì giết chắc?”
Từ đây đến đó áng chừng hơn ba mươi dặm.
Tôi nhẩm lại con đường họ vừa nói, từng chút một, như sợ quên mất. Đi qua Cầu Quan, rồi thêm nửa canh giờ nữa, hướng về phía Bắc… là tới.
Một ngày đường.
Cầu Quan quả là chốn non nước hữu tình, kẻ chợ đông vui, thuyền buôn tấp nập, ngày đêm không lúc nào vắng bóng người. Tiếng người gọi nhau, tiếng mái chèo khua nước, hòa với hương khói từ quán xá ven sông, khiến nơi ấy vừa nhộn nhịp vừa thanh bình đến lạ.
Thuở trước, tôi cùng chị Liễu từng ghé đây chơi mấy ngày, nhờ vậy mà gặp anh Quý, người sau này thành chồng chị. Ấy là chuyện của những năm xưa cũ, khi nhà tôi còn đủ đầy, cha mẹ còn sống, đời còn êm ấm như mặt sông chưa gợn sóng.
Trong lúc đăm chiêu, nghĩ về những chuyện xưa cũ thì tôi nghe phía đằng xa lại có tiếng gì đó như đổ ầm ầm xuống đất. Tôi giật nảy mình, tò mò chạy lại xem xem chuyện gì đã xảy ra.
“Tên ăn mày này, mày dám cản đường ông!?”
Một tên lính của nhà Minh đương ngồi trên lưng ngựa, tay cầm mũi giáo chỉa thẳng người đàn ông trước mặt mà tru tréo, keo theo đó làm một đám lính phục tùng cũng đồng loạt chĩa mũi giáo nhọn hoắt về một phía đó. Còn người đàn ông nhìn khá quen mắt, hình như là võ quan mà tôi đã từng gặp trong lúc tôi đi đâu đó cùng cha tôi. Nhưng sao chú đó lại ra nông nỗi này, một người từng là quan võ uy nghiêm, mà giờ lại như kẻ ăn mày đầu đường xó chợ. Khác hẳn với trước kia, ngay cả.. tâm lý cũng vậy, cứ như kẻ điên!
Tôi thấy ông ấy dang hai tay chắn ngang đường ngựa của bọn quan Minh. Mặt mũi lem luốc, áo quần lấm đất, nhưng dưới ánh nắng gắt, đôi mắt ông sáng rực, trừng trừng nhìn bọn chúng không chút sợ hãi.
“Một lũ mọi rợ! Quân khốn kiếp! Chúng bay rồi sẽ chịu quả báo!”
Tiếng chú vang dội, lớn đến mức khiến bọn quan ngồi chễm chệ trên lưng ngựa cũng phải giật mình, huống chi là đám dân đứng quanh đang nín thở dõi theo.
Trong phút chốc, một mũi giáo nhọn phi thẳng xuống, đâm xuyên qua người đàn ông đó. Những người xung quanh hét toáng lên, hoảng loạn ôm đầu chạy. Tên cầm đầu đám quân đó lập tức thét lớn, buông những lời lẽ khinh mạt:
“Lũ Giao Chỉ ngu xuẩn! vọng tưởng châu chấu đá voi… quân bây đâu, ta truyền lệnh: kẻ nào làm loạn, gi.ết không chừa một ai!”
Tiếng ngựa hí vang dội khắp con đường làng, hòa lẫn với tiếng khóc xé lòng của bọn trẻ, tiếng gào thét của đàn bà, tiếng thét đứt quãng của người đàn ông đang dần kiệt sức. Mùi khói, mùi máu tanh quyện vào nhau, quẩn quanh dưới ánh chiều sắp tàn, khiến cả không gian như đặc quánh lại. Những mái nhà lợp rơm nghi ngút khói, những đôi mắt thất thần, và cả tiếng gió thổi qua đồng nghe như ai oán.
Bầu trời chiều đỏ rực, dường như cũng thấm máu của bao sinh linh vừa ngã xuống. Ánh hoàng hôn rực cháy phía chân trời, soi lên từng vệt tro, từng giọt nước mắt, từng nắm đất người dân nắm chặt trong tay. Trong khoảnh khắc ấy, tôi bỗng thấy hình ảnh người đàn ông đang gục xuống kia như hóa thân cho cả dân tộc, kiệt cùng mà không khuất phục.
Ánh sáng cuối ngày ấy chẳng phải chỉ là sắc trời tàn, mà là ngọn lửa còn âm ỉ cháy trong lòng người Nam, cháy bằng tất cả nỗi đau.
Chú thích:
[1] Bà Nguyễn Thị Bành (? - ?) là vợ của tướng quân Nguyễn Chích trong kháng chiến chống quân Minh. Vợ chồng bà từng huấn luyện đội quân bồ câu nổi tiếng, lập nhiều chiến công.
[2] Nguyễn Chích hay Lê Chích là công thần khai quốc nhà Lê sơ, người tham gia khởi nghĩa Lam Sơn. Ông quê ở xã Đông Ninh, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa, Việt Nam. Ông là đệ nhất mưu sĩ của Bình Định Vương Lê Lợi trong thời kỳ chống quân Minh.
[3] Cầu Quan là vùng đất giàu bản sắc văn hóa và kinh tế, từng là trung tâm huyện Nông Cống sầm uất, nơi giao thương nhộn nhịp, có truyền thống cách mạng, tín ngưỡng lâu đời và văn nghệ dân gian đặc sắc như hát ghẹo bên dòng Lãng Giang.