CHƯƠNG 14: ÁNH ĐÈN MỜ
Giữa cuộc đời ngột ngạt, Sen bấu víu vào sự hiện diện của Trần Dũng như một “khoảng trời riêng”. Anh không mang mùi dầu mỡ của xưởng cơm hộp mà mang mùi nước hoa hàng hiệu, dáng vẻ trẻ trung và phong lưu đa tình. Lời mời gọi “ba mươi nghìn won một giờ” cứ vang vọng trong đầu như một bài toán kinh tế nghiệt ngã. Tại sao phải đứng tám tiếng ở xưởng đến mức cổ tay đau nhức, trong khi chỉ cần vài giờ “bấm bài, bưng bê” để có nhiều tiền hơn? Hơn tất thảy, sự quan tâm đều đặn và những tình cờ gặp gỡ dần trở thành liều thuốc giảm đau gây nghiện.
Hồng Sen đồng ý đi làm ở quán karaoke vào tối thứ Sáu, thứ Bảy, Chủ nhật. Lâu nay trong đầu cô chỉ có câu hỏi: “Làm thế nào để có cơm ăn, áo mặc, bỉm sữa và tiền trả nợ nhanh nhất?”. Dẫu số nợ đó không phải của cô nhưng là của bố Su-bin, và không người mẹ nào muốn con cái phải lớn lên trong cảnh túng quẫn. “Dạo này công ty nhiều việc nên phải ở lại tăng ca, bù lại sẽ nhận thêm tiền. Anh không cần đón đưa thường xuyên nữa, khi nào cần tôi sẽ gọi.” Vợ nói dối, chồng cười ngây ngô.
Lần đầu tiên bước vào quán karaoke “Mỹ Miều”, quản lý Trần Dũng đã phổ biến: “Ở đây đừng nói thật. Càng giả càng an toàn.” Thế là một cái tên tiếng Hàn là Gaeul - Mùa Thu ra đời với mong ước cuộc sống cũng êm đềm như mặt nước mùa thu. Một câu chuyện thương cảm được đính kèm: “Em hai mươi tuổi là du học sinh, gia đình ở quê đông con lại nợ nần, nên phải đi làm kiếm tiền gửi về để bố mẹ nuôi các em.” Câu chuyện không mới nhưng đủ để khách làng chơi gật gù cảm động “tip” thêm một vài tờ tiền 10,000 won màu xanh, hoặc 50,000 won màu vàng thì càng tốt.
Quán nằm sâu trong một con hẻm nhỏ ở Ansan. Bảng hiệu đèn led nhấp nháy màu xanh tím đỏ. Bên trong là một dãy phòng kín đèn mờ, tiếng nhạc xập xình, mùi thuốc lá đan xen cùng mùi bia rượu và đồ nhắm. Khách Việt, khách Hàn, khách quốc tế tìm đến đây để vui chơi “tăng hai” sau khi đã ăn uống no say ở “tăng một”. Hát chỉ là một trong nhiều mục đích chính: uống rượu bia, hút thuốc, chơi trò chơi, và được ngồi cạnh một “cô đào” xinh đẹp. Họ sẵn sàng chi số tiền bằng cả một ngày lương để lấy một đêm được phục vụ như “ông chủ đích thực”.
Mỗi khi khách đến, quản lý sẽ gọi các cô gái vào xếp thành một hàng ngang. Những ánh mắt hau háu lướt qua. Người ra vẻ lịch sự giơ tay để cô gái nắm lấy. Kẻ ngồi phịch xuống chỉ ngón tay ra hiệu “Em ơi, lại đây với anh.” Khi đi làm, Ga-eul mặc một chiếc váy ôm màu đen nhưng không hở ngực, đi guốc cao gót, búi tóc lơi và trang điểm nhẹ nhàng. Trời phú cho cô làn da căng mịn cùng đôi mắt bồ câu hai mí trên khuôn mặt trái xoan. Chỉ cần tô son bóng và má hồng đã đủ sáng bừng. Nét đẹp mơn mởn dịu dàng, nhưng mang mác một câu chuyện buồn khiến người ta muốn tìm hiểu và che chở. Có chăng vì thế, cô luôn là lựa chọn đầu tiên của khách hàng.
Ga-eul ngồi sát cạnh khách, cố giữ tấm lưng thật thẳng và đôi chân bắt chéo đầy ý nhị. Nhiệm vụ chính đúng là bấm bài hát theo yêu cầu, rót bia, châm thuốc, mìm cười và vỗ tay đúng lúc. Khách đứng tuổi thường chỉ uống rượu và ca hát. Đôi khi cô cũng đứng dậy góp vui một vài bài. Nhờ biết hát cả tiếng Anh, khách thích thú và vỗ tay nhiệt liệt. Một hôm, bản nhạc pop “My Love” - “Tình yêu của tôi” ngân lên. Mối tình đầu giờ đã xa xăm như ở một kiếp khác, thấp thoáng hiện về.
An empty street, an empty house
A hole inside my heart
I”m all alone, the rooms are getting smaller
I wonder how, I wonder why
I wonder where they are
The days we had, the songs we sang together, oh, yeah...
(Tạm dịch: Một con phố vắng, một ngôi nhà trống trải
Một lỗ hổng trong tim tôi
Tôi cô đơn, những căn phòng càng lúc càng nhỏ lại
Tôi tự hỏi làm sao, tại sao
Tôi tự hỏi họ đang ở đâu
Những ngày chúng ta đã có, những bài hát chúng ta đã cùng nhau hát)
Khác với nhóm khách đứng tuổi, các thanh niên trẻ thường thích chơi trò chơi. Có những trò Sen ghét đến buồn nôn như cá cược để phạt sờ vào phần nhạy cảm như eo hay đùi, chơi oẳn tù tì rồi ép ôm ấp hay hôn môi. Một gã nọ từng giả vờ say để áp sát vào vòng một của cô. Hay một đêm thứ bảy, Ga-eul cùng các chị em ở lại đến gần sáng để tiếp khách. Chưa kịp thở phào khi tiệc tan thì khách lại hỏi công khai:
- Các em có đi “tăng 2” không?
- “Tăng 2” ạ?
Các cô cười cười.
- Ừ, không ép nhé. Đi chơi “tip” anh bo riêng, không liên quan đến quán hát.
Lần đầu tiên Ga-eul nghe về dịch vụ mang lại thu nhập “khủng” này. Có cô đào nháy mắt đồng ý và trao đổi số điện thoại, có người lại lắc đầu.
Trần Dũng đã dặn: “Nếu không ổn thì đứng dậy ra ngoài, có người khác vào thay.” Nàng nhớ lấy lời này như tấm phao cứu sinh, học cách cười mà không cười, gật đầu mà không đồng ý, hất tay khách khi những trò chơi “phạt sờ đùi, ôm hôn” bắt đầu quá trớn. Có hôm cô bật dậy giữa chừng. Tim đập thình thịch nhưng vẫn cố giữ giọng bình thản: “Em không biết chơi trò này.” Người khách chuếnh choáng say, nhếch môi cười: “Thế cô ở đây làm gì?”
Ga-eul vẫn nhận được tiền. Luôn là tiền mặt. Những chiếc phong bì dày cộm là liều thuốc giảm đau xoa dịu nỗi lo toan nhưng lại khoét sâu thêm nỗi tủi nhục. Thu nhập làm thêm luôn được chia làm ba phần.
1. Chu cấp cho gia đình chồng và nuôi con trai.
2. Gửi về quê biếu bố.
3. Phần còn lại lặng lẽ gửi tiết kiệm. Đứng trước cây ATM vào đêm khuya, cô vừa đút những đồng tiền mình làm ra vừa lén lút nhìn quanh như một kẻ trộm.
Tính chất công việc dịch vụ giải trí thường phải về khuya. Nhiều khi không bắt được taxi. Trần Dũng đề nghị lái xe chở nàng về ký túc xá. Anh theo đuổi phong cách một doanh nhân thành đạt đích thực: lái xe ngoại nhập màu đen, mặc quần tây và áo sơ mi, sơ vin gọn gàng bằng thắt lưng có in nhãn hiệu sang trọng. Trên những chuyến xe không lời, giữa hai người hình thành một sự gắn kết kỳ lạ. Rõ ràng không phải sự rung động của tình yêu, vừa cô độc lại vừa mong manh và tạm bợ. Dũng nắm lấy tay Sen, tay còn lại đặt trên vô lăng, ánh mắt nhìn về khoảng không mênh mông trên đường quốc lộ.
- Anh không sợ à? Sống thế này...
- Sợ chứ. Dũng cười nhạt, nhưng quen rồi, sợ mãi cũng thành bình thường. Cùng lắm thì về nước rồi tìm lại cách sang.
- Bao giờ em lấy quốc tịch?
- Em nộp hồ sơ rồi, giờ chờ ngày thi.
- Có quốc tịch là có tự do, câu nói nửa đùa nửa thật, sau này “bảo lãnh” anh.
- Bảo lãnh thế nào?
- Đến lúc đó rồi tính, thiếu gì dịch vụ làm từ A đến Z.
Những đêm trằn trọc không ngủ được, Sen nghĩ đến Dũng như một lối thoát và giật nảy mình. Hình như không phải ai sa ngã cũng vì ham muốn mà có thể vì quá bế tắc.
Ban đầu, Ga-eul chỉ xuất hiện ở karaoke “Mỹ Miều” vào buổi tối cuối tuần và còn cách tuần. Một phần vì muốn dành thời gian cho con, phần khác vì sợ người xung quanh để ý, phần còn lại do sợ chính mình quen dần với cuộc sống xa hoa ấy. Thế nhưng có nằm mơ cô cũng không thể ngờ tiền công một đêm đủ mua sữa và đồ ăn cho con trong một tháng. Dần dà vào những ngày trong tuần, Ga-eul vẫn đi làm nhưng về sớm trước nửa đêm.
Jun-sik luôn mừng rỡ khi được vợ cho tiền. Niềm vui không thể giấu được trên đôi tay và bờ môi run run: “Sắp trả được thêm một khoản nợ rồi.” Ngược lại, lòng Sen nặng trĩu.
Sao chỉ một mình tôi cố gắng, còn mẹ con Jun-sik trông rất thảnh thơi?
Mình đang trả nợ cho chồng, hay đang trả giá cho cơ hội đổi đời của chính gia đình mình?
Không phải vị khách nào đến quán karaoke cũng ăn chơi trác táng như người ta vẫn tưởng. Họ đa dạng lứa tuổi, tầng lớp và quốc tịch: công nhân, dân kinh doanh, tài xế, nhân viên văn phòng, du học sinh, khách du lịch, thậm chí có người tự giới thiệu là bác sĩ. Một người nọ sau vài lần gặp, gọi riêng Sen và khuyên nhủ thật tâm.
- Em làm ở đây không hợp. Kiếm tiền kiểu này dễ, nhưng trả giá đắt lắm.
- Dạ em biết, nhưng mà cần gấp tiền gửi về quê trả nợ.
Nàng cúi đầu xuống mỗi khi nói dối.
- Hay em về làm bạn với riêng anh? Mỗi tháng cần bao nhiêu?
Đó không phải lần đầu tiên, nhưng đáp lại đều là cái lắc đầu từ chối và thầm tự nhắc nhủ: “Mình là Ga-eul, không có thật.” Ga-eul chỉ là cái tên mượn để “thoát vai” tạm thời. Ga-eul chỉ có Dũng, không có quá khứ, không chồng con, không trách nhiệm. Hồng Sen mới là chính mình và có tất cả.
Một hôm quán vắng khách, Ga-eul ngồi trang điểm ở gian phòng phía trong. Cô bắt gặp một gương mặt trẻ tên là Lưu Ly. Hai chị em tán gẫu cho quên thời giờ.
- Em sang Hàn theo diện gì?
- Em là du học sinh.
- À, thế em đi làm đêm thế này có đủ thời gian học không?
- Trước em đi làm thêm ở cửa hàng tiện lợi cơ, chị ạ. Hồi đấy mới sang có biết gì đâu nên không khai báo làm thêm. Có hôm bán nhầm thuốc lá cho trẻ vị thành niên, công an đến điều tra rồi bắt nộp phạt. Em cứ sợ không gia hạn được visa, hỏi thì người bảo có người bảo không, nên nghỉ việc luôn cho chắc. Nhưng du học sinh áp lực đủ thứ tiền, tiền nhà, học phí, sinh hoạt phí, nên lại trôi dạt vào đây.
- Ra thế, Sen thở dài, chị thì là cô dâu cũng đi làm kiếm thêm nuôi con.
- Các chị cô dâu sướng thật, có chồng lo visa, nhà cửa. Chứ du học sinh chúng em cái gì cũng đến tay, chẳng biết “nuôi visa” đến bao giờ hay phải “ra ngoài”.
- Cô dâu cũng có nhiều nỗi khổ riêng lắm mà chẳng nói với ai được.
Sen trầm ngâm.
Lưu Ly kể thêm về lý do: “Bố mẹ em cứ so sánh con nhà người ta đi Nhật, đi Hàn gửi nhiều tiền về mua đất, xây nhà. Nhưng chị bảo sinh viên đi học hàng ngày, làm đủ loại bài tập nhóm, thuyết trình, thực tập, thâu đêm suốt sáng cũng không đủ, lấy đâu ra thời gian đi làm? Em đã cố có TOPIK 4 và nhận học bổng 50% rồi đấy chứ, nhưng bố mẹ không hiểu.” Lưu Ly vừa đeo khuyên tai vừa ngậm ngùi: “Em hối hận lắm, chỉ muốn được đi học thôi. Sau này có nhiều tiền, em sẽ tập trung học rồi xin việc tại công ty Hàn, không phải đi làm thế này nữa.”
Câu chuyện đó ám ảnh Sen suốt nhiều ngày. Hơn ai hết, cô gái quê hiểu lý do trước đây mình không thể về làm dâu gia đình nhà Việt. Không môn đăng hộ đối về tài chính đã đành, nhưng còn học thức. Việt học Đại học Y với tương lai trở thành bác sĩ, còn Sen là cô công nhân học hết phổ thông. Đã hơn một lần cô tự hỏi: “Nếu ngày ấy mình tìm mọi cách để được đi học tiếp, liệu bây giờ có phải ngồi đây, dùng cái tên giả để rót rượu cho những người đàn ông lạ mặt?” Dù công việc này mang lại tiền bạc, nhưng vẫn không thể lấp đầy được sự tự ti mênh mang trong lòng. Hơn nữa, Sen biết mình không thể làm công việc này mãi. Trong kỳ khám sức khỏe tổng quát mới đây tại công ty, bác sĩ đã nghiêm túc trao đổi:
- Kết quả xét nghiệm máu cho thấy chị bị thiếu máu nặng. Thời gian gần đây, chị có thay đổi thói quen sinh hoạt như ăn ít hơn hoặc mất ngủ không?
- Dạ... em có ngủ muộn hơn, và ít hơn.
- Chị có uống rượu bia hay hút thuốc?
- Em không uống rượu bia, nhưng lại hay ngửi khói thuốc. Có sao không ạ?
- Chị nên tránh. Chị còn viết ở tờ khai là bị đau lưng và cổ vai gáy. Hãy chú ý ăn uống đầy đủ, uống thêm vitamin, và đặc biệt phải ngủ đủ 7-8 tiếng/ ngày. Nếu còn đau lưng, hãy thử đi vật lý trị liệu và tập kéo dãn cơ thể.
Sống cả hai cuộc đời của Hồng Sen và Ga-eul, người phụ nữ ấy làm gì có thời gian và tâm trí để chăm sóc cơ thể. Ba tháng trước kỳ thi quốc tịch, cô đặt mua một bộ sách ôn thi do người Việt biên soạn. Nội dung về các môn thi như lịch sử, văn hóa Hàn Quốc, luyện vấn đáp được giải thích song song bằng hai thứ tiếng. Tay lật giở sách, mắt đọc, nhưng đầu không vào chữ mà cứ hiện lên hình ảnh lớp học tiếng Hàn ngày còn ở Việt Nam và ở trung tâm đa văn hóa. Mỗi khi ngồi giữa quán hát ồn ào, điều khiến Ga-eul lạc lõng nhất không phải là ánh mắt đàn ông, mà là cảm giác mình đã rời xa con đường học tập quá lâu.
Cùng thời điểm đó, “Jeongseong Dosirak” xảy ra một sự kiện chấn động. Buổi sáng bắt đầu như mọi ngày, mùi cơm mới, mùi giá đỗ, mùi thịt xào kimchi nóng bốc lên quyện vào nhau trong không gian xưởng khép kín. Tiếng máy ép hộp chạy đều đều, tiếng người quản lý la hét lẫn những câu chửi thề quen thuộc bằng tiếng Hàn. Không ai ngờ chỉ vài giờ sau, cái tên “Jeongseong Dosirak” sẽ xuất hiện trên khắp các mặt báo và lan nhanh như một đám cháy âm ỉ.
Khoảng gần trưa, khi những khay cơm cuối cùng chuẩn bị được chuyển lên xe giao hàng, đoàn nhân viên Cục xuất nhập cảnh bất ngờ xuất hiện. Không khí trong xưởng lập tức đông cứng lại, có người sững sờ đánh rơi muôi cơm, toàn thân run rẩy, mồ hôi rịn ra trên trán. Những người có visa hợp pháp cố giữ vẻ bình thản nhưng ánh mắt vô thức ái ngại liếc nhìn về phía những “người rơm” không giấy tờ. Trong khoảnh khắc hỗn loạn ấy, một người đàn ông quốc tịch Nga đã lao mình bỏ chạy.
Buổi chiều cùng ngày, nhân viên Cục xuất nhập cảnh và cảnh sát địa phương tìm thấy Alexei Petrov trong trạng thái nằm bất động giữa khu rừng ở sau xưởng cơm hộp, thi thể lạnh dần trên nền đất ẩm và đôi tay vẫn còn bám đầy bùn đất và lá khô. Người đàn ông ngoài bốn mươi tuổi, thân hình cao lớn, khuôn mặt hốc hác. Anh không phải công nhân của xưởng mà chỉ ghé sang giao linh kiện cho nhà máy bên cạnh. Khi thấy đoàn kiểm tra, phản xạ sinh tồn đã thúc đẩy người lao động tội nghiệp lao qua cánh cửa thoát hiểm, băng qua con đường đất và mất hút vào khu rừng phía sau. Nguyên nhân tử vong được thông báo ngắn gọn: “Tai nạn trong quá trình chạy trốn”. Bài báo khô khốc đến đau lòng xuất hiện trên các trang báo mạng chính thống, rồi nhanh chóng được dịch lại, cắt ghép và truyền tay trong cộng đồng người Việt Nam, người Trung Quốc, người Nga. Những dòng bình luận liên tục được đăng tải:
- Anh này tôi biết, hiền lành, chăm chỉ làm ăn gửi tiền về quê cho vợ con.
- Tại sao phải chạy trốn? Cùng lắm là về nước, dại quá.
- Thương cho anh, thương cho thân phận người nước ngoài xa xứ. Liệu có thể kiện Cục xuất nhập cảnh hay không?
- Con kiến mà kiện củ khoai? Anh này tự bỏ chạy, tự ngã...
Cộng đồng người nước ngoài đang chung tay quyên góp để đưa thi thể Alexei trở về quê hương, và lập một bàn thờ nhỏ ở khu Quảng trường trung tâm để những tấm lòng xót thương đến tặng hoa và tiễn biệt anh.
Sen ngồi tựa lưng vào tường, điện thoại trên tay, màn hình vẫn sáng rồi tắt phụt. Cô nghĩ đến sự tuyệt vọng của người đàn ông, khoảnh khắc anh quyết định bỏ chạy chắc vì không còn lựa chọn nào khác; nhớ đến người em đồng hương Lưu Ly ở quán “Mỹ Miều” cũng từng kể về những tháng ngày nơm nớp lo sợ vì đi làm “chui”; và chính mình ngày mới sinh nở mắc chứng trầm cảm, ôm đứa trẻ sơ sinh đỏ hỏn cùng những suy nghĩ tiêu cực. “Nếu ngày ấy có chuyện gì xảy ra, liệu pháp luật có đứng về phía mình? Hay mình cũng chỉ là một con số trong thống kê, một dòng tin ngắn ngủi rồi nhanh chóng bị lãng quên?” - Những câu hỏi dồn dập, không lời đáp.
Người ta luôn nói rằng luật pháp luôn công bằng, vấn đề là con người có tuân thủ hay không. Nhưng Sen đã chứng kiến quá nhiều người nhập cư chưa kịp biết đến Luật pháp đã bị rơi rớt ngay từ vòng loại sơ khảo. Hợp đồng lao động, điều kiện thu nhập, học lực, bằng TOPIK, bằng KIIP phục vụ việc chuyển đổi và gia hạn visa hay còn gọi là “tư cách lưu trú hợp pháp” đều là những khái niệm xa xỉ. Thứ họ cần ngay trước mắt là một cơ hội lao động để kiếm sống và chu cấp cho gia đình. Họ sẵn sàng làm các công việc chân tay vất vả mà nhiều người bản địa từ chối như xây dựng, đánh bắt thủy hải sản, làm nông, cơ khí hay lái xe đường dài.
Màn đêm buông xuống nhưng nỗi ám ánh vẫn không buông tha trong cả giấc mơ. Lần này chính Sen đang bị truy đuổi và đứng giữa ngã ba đường. Điều đáng sợ nhất không phải là không biết đường đi, mà là biết rõ đường sáng nhưng buộc phải bước vào chỗ “ánh đèn mờ” tranh tối tranh sáng.