CHƯƠNG 6: TRONG LỒNG NHỐT
Khi về nhà, thực tế vẫn âm thầm kéo Sen trở lại. Ánh mắt Jun-sik ngày một thay đổi. Còn đâu những cử chỉ chiều chuộng quan tâm, chỉ còn lại những toan tính hiện rõ trên nếp nhăn nơi ấn đường và gương mặt lã chã mồ hôi. Chồng không cho vợ tiền mặt mà đưa một chiếc thẻ ngân hàng tích hợp thẻ giao thông. Mỗi khi tin nhắn báo phát sinh giao dịch được gửi về, tối đó, màn thẩm vấn bắt đầu: “Mua gì? Bao nhiêu tiền?” Sau khi nghe giải trình, anh lại hỏi cặn kẽ: “Thực sự cần thiết không?” Và rồi “hóa đơn, lúc nào cũng phải mang hóa đơn về,” luôn là câu then chốt trong mọi cuộc đối thoại. Đỉnh điểm nhất là hôm biết vợ mua băng vệ sinh, chồng chăm chú viết trên phần mềm dịch thuật: “Dùng một lần rồi bỏ thì tốn quá. Có loại nào dùng được nhiều lần? Tốt cho môi trường lại tiết kiệm tiền.” Sen bối rối, “chẳng lẽ giờ phải dùng khăn xô trắng như các cụ thời xưa?” Từ đó về sau, mỗi khi đi mua hàng, cô thường đứng rất lâu trước quầy hàng và chọn loại rẻ tiền nhất.
Về phía mẹ chồng, bà Sun-ja đưa con dâu một cuốn sổ nhỏ đã cũ kỹ và dặn: “Người nước ngoài chưa quen với tiền tệ đất nước chúng ta, phải ghi chi chép tiêu để theo dõi.” Tỷ giá ngoại tệ Hàn - Việt khi đó vào khoảng xấp xỉ 20. Sen thường nhẩm nhân giá tiền won với 20 để áng chừng mức tiền đồng tương đương. Có hôm, cô giật nảy mình khi thấy bó hành lá trong siêu thị tính ra gần 25,000 đồng. “Ối trời! Bó hành gì mà bằng nửa bữa ăn ở Việt Nam? Thôi từ giờ mình tự trồng rau, trồng hành để ăn.” Thường ngày, mẹ chồng đi chợ mua thực phẩm, con dâu đi theo học cách mua bán và kéo đồ. Chiếc xe kéo bằng vải dù có hai bánh nhỏ, khi không dùng có thể gấp gọn. Bà dạy con dâu nấu các món ăn cơ bản như canh kim chi, canh đậu tương, canh đậu phụ non, muối các loại kim chi theo đúng khẩu vị của con trai. Khi mẹ đẻ gọi điện thoại sang hỏi cuộc sống mới có “sướng” không, con gái líu lo kể:
- Lạ lắm mẹ ạ, bà làm nhiều món ban-chan, đóng hộp để sẵn ở tủ lạnh, khi nào cần mới lấy ra ăn rồi lại cất đi.
- Thế á? Bà Hoa cười ha hả, văn hóa ăn uống mỗi nước mỗi khác nhỉ? Chắc do nước mình là nóng ẩm quanh năm, người mình phải ăn tươi và nóng sốt nên bữa nào nấu bữa đó. Để lâu thế hỏng hết chứ còn?
- Vâng nhưng dẫu sao con vẫn là người Việt, thích hương vị quê nhà hơn.
Bữa tối nay có món bánh cuốn trắng mà Sen tự tay tráng. Mùi hành phi thơm nức một góc bếp. Khi đặt lên bàn, mẹ chồng chỉ khẽ liếc rồi buông lời nói nửa đùa nửa thật: “Thứ bánh mềm nhũn này sao mà no bụng con trai tôi đây?” Jun-sik thì bịt mũi trước bát nước mắm tỏi ớt và chỉ ôm bụng cười. Hành động ấy khiến cô băn khoăn suy nghĩ mất mấy ngày. Là do mình quá nhạy cảm? Hay do người ở đây chỉ quen với sự cứng cáp của bát cơm trắng và những đĩa ban-chan ngăn nắp?
Chiếc điện thoại di động cũ mà Sen mang từ Việt Nam sang đã sứt mẻ màn hình. Mẹ chồng gọi điện nhưng chỉ nghe thấy tiếng rè rè, nên quyết định dắt con dâu đến quán điện thoại. “Con dâu tôi đấy, người nước ngoài,” bà khua tay, “mua cái cũ rẻ thôi.” Ông chủ đồng tình. “ừ đúng, người nước ngoài có ai để liên lạc đâu?” Cô con dâu cười gượng, nói thầm bằng tiếng Việt: “Nếu mình là người Hàn, mẹ chồng có mua máy cũ không nhỉ?” “Đây là tính cách tiết kiệm hay là sự phân biệt đối xử ngầm? Chẳng lẽ mình không xứng đáng được dùng đồ mới?”
Ngày qua ngày, Sen như con chim bị nhốt trong lồng. Cảm giác phụ thuộc tài chính không bùng nổ thành mâu thuẫn nhưng cứ bức bối và âm ỉ chỉ chờ ngày bùng cháy. Để tìm việc làm, ngày nào cô cũng trực các hội nhóm cô dâu Việt, gia đình đa văn hóa, lao động thời vụ; còn tải các phần mềm tìm việc làm thêm như Albamon, Albacheonguk. Lạ thay một số chỗ ghi thẳng thừng: “Không tuyển người nước ngoài”. Sen băn khoăn lý do. Họ sợ không giao tiếp được hay vì từng có ấn tượng gì không tốt? Việc gì Sen cũng sẵn sàng làm. Từ bưng bê, chạy bàn, rửa bát, khâu vá, cho đến làm nông, công nhân, chỉ cần chân chính và kiếm ra tiền. Khổ nỗi, việc ở Thành phố lớn thì nhiều, vùng tỉnh lẻ xa xôi sao mà hiếm hoi quá. Sau hai tháng trời tìm kiếm, Sen được gọi đi phỏng vấn vị trí chạy bàn ở quán “Phở Kiều” cách nhà năm cây số. Chị chủ quán liếc nhìn Sen một lượt.
- Ở đây là quán phở, nhưng có các món khác như bún chả, bánh mì, bún trộn, bánh xèo. Khách chủ yếu người Hàn thôi. Thỉnh thoảng cũng có khách Việt.
- Dạ vâng, Sen gật đầu nhìn vào bảng menu.
- Một ngày năm tiếng, bao ăn, nhận món và bưng bê. Tiếng Hàn có tốt không?
- Em mới TOPIK 2. Nhưng hồi ở Việt Nam từng đi làm lễ tân khách sạn Hàn Quốc nên giao tiếp cơ bản được ạ.
- Làm thử một tháng rồi nói chuyện tiếp. À nhưng mà, bà hỏi tiếp vì chợt nhớ ra điều gì đó, mà nhà chồng cô có đồng ý cho đi làm không?
- Dạ, em chưa nói chuyện nhưng chắc là có ạ.
- Nhiều nhà chồng giữ lắm, không cho cô dâu mới sang đi làm đâu. Khổ, sợ mất. Thế cô về nói chuyện rõ ràng đi, rồi tuần sau đến thử việc nhé.
Khi con dâu vừa mở lời về việc đi làm, những sợ mẹ chồng sẽ phản đối nhưng ánh mắt bà sáng lên: “Con trai ơi, trong kho có cái xe đạp cũ, mang ra đây,” rồi nhanh nhẹn lấy khăn ướt lau qua loa. Sen giấu tiệt chuyện này với bố mẹ đẻ. Ngày còn ở nhà, những hôm đi học, đi làm hay đi chơi về khuya, mẹ vẫn hay nấu cơm giặt giũ chứ không để các con phải động tay vào việc nhà. Mặc dù không thể cho cô học lên đại học, cũng đã mua tặng một chiếc xe máy mới.
Khi Sen còn đang chìm đắm trong những suy nghĩ riêng mình, bà Sun-ja đã nhanh chóng hỏi han kỹ về công việc. Sau khi biết con số lương 8,000 won/ giờ, bà bèn nhanh nhẹn tính toán và dặn dò: “Mỗi tháng con đóng cho mẹ 600,000 nghìn won tiền ăn.” Sen vẫn duy trì việc đi học tiếng Hàn ở trung tâm đa văn hóa vào ban ngày. Buổi chiều và tối cô đi làm thêm.
Ở quán “Phở Kiều” trên phố huyện, hai đầu bếp chính là cô dâu Việt lấy chồng Hàn. Có một sự thật làm Sen bàng hoàng: một trong số họ có thêm bạn trai là lao động đồng hương. Buổi sáng nọ, khi cùng ngồi nhặt rau muống để chuẩn bị nguyên liệu bán hàng trưa, một chị lên tiếng:
- Ôi giời ạ, chán lắm, sống làm sao nổi cả đời với ông chồng móm. Hôm qua, tôi vừa phải đưa ông ấy đi làm bộ nhá mới tốn mấy triệu bạc.
- Đã phải làm răng giả rồi cơ à? Chị còn lại thản nhiên hỏi.
- Chứ còn, thôi giờ chả hy vọng gì, chỉ cần ông ấy cứ ở yên một chỗ, đến giờ đưa đón, tắm rửa cho thằng Ju-ho là được. Còn tiền mình phải tự kiếm.
Chủ quán Lệ Kiều thân hình đẫy đà. Bà đã qua đã qua hai đời chồng Hàn và cũng có cho mình một người bạn trai đồng hương. Người này gầy đét, vẫn hay đến quán để phụ giúp. Bà vừa khuấy nồi nước phở, vừa nói vọng ra: “Cố mà chịu đựng vài năm nữa cho con nó lớn, mình xong cái quốc tịch. Sau này không ở được nữa thì bỏ quách đi. Yêu người Việt hợp văn hóa, dễ sống. Mà cùng lắm thì ở một mình cho rảnh nợ.” Tim Sen nhói lên. Không hiểu đây là thực tế của đa số người xa quê hay chỉ là thiểu số?
- Sao? Đi làm thấy thế nào? - Chị đồng nghiệp quay ra hỏi Sen.
- Dạ những lúc đông khách phải chạy đi chạy lại nhiều. Phở đựng trong bát sứ cũng nặng tay. Chứ việc nhận món, bưng bê và thanh toán em quen tay rồi.
- Tuy mệt nhưng vui đúng không?
- Vâng vì em có thể tự mình kiếm tiền. Tính ra, thu nhập bây giờ gấp đôi ngày làm công nhân ở nhà máy xe điện.
Một hôm, trên đường đi học về, Sen thấy cô em cùng lớp đang đứng tẩn ngẩn trước sạp dâu tây bày ngoài cửa siêu thị. Đó là Hương, đang có bầu được bốn tháng. Thỉnh thoảng vào giờ nghỉ giải lao, mấy chị em từng xúm vào nói chuyện rôm rả. “Chồng em mỗi ngày cho 5,000 won tiền mặt, đi xe buýt hai lượt mất gần 3,000 won,” cô bé kể, “nên có hôm phải đi bộ để tiết kiệm tiền.” Một chị há hốc mồm ngạc nhiên: “Trời, nhà cách đây bao xa?” “Dạ đi bộ tầm một tiếng.” Nghĩ đến đây, Sen xuống xe dựng gọn vào góc tường, mua hộp dâu tây đưa em ăn lấy thảo. Hương lắc đầu nguầy nguậy, nhưng cô vẫn kiên quyết: “Không. Chị cho cháu chứ có cho em đâu. Ăn đi cho con nó khỏe.” Hương cảm động đỡ lấy, “vậy... vậy em xin, em thèm lắm nhưng giá tận 8,000 won. Không đủ tiền mua, chị ạ.”
Sau khi tiễn Hương lên xe buýt, lòng Sen cứ dâng lên một niềm vui xen lẫn tự hào. Niềm vui chỉ kéo dài đến sáng hôm sau khi thấy khuôn mặt bầm tím của Hương, và phải gặng hỏi mãi mới trả lời: “Hôm qua thấy em mang hộp dâu về, chồng không tin là được tặng, tưởng em ăn trộm... nên đánh.” Đêm ấy, Sen chỉ biết mất ngủ.
Cùng lúc đó, Jun-sik bắt đầu có những biểu hiện bạo lực “mềm”. Đã hơn một lần khi say xỉn, anh ta không động chân động tay nhưng lại tước mất chiếc điện thoại - thứ duy nhất giúp vợ kết nối với thế giới thông qua phần mềm phiên dịch thuật và liên lạc. Hành động đó đẩy Sen vào thế câm lặng giữa bốn bức tường. Nụ cười méo mó ám ảnh nhiều đêm: “Không có thứ này, mày khác gì ô-sin.” Sen thu mình ở góc giường, cảm nhận rõ rệt sự sụp đổ của một lâu đài cát. Điều đáng nói là ngày hôm sau, anh ta lại quên chuyện đó như chưa có gì xảy ra, nếu vợ tỏ thái độ hay hỏi lý do thì lại ra sức xin lỗi và làm lành.
Ở Việt Nam, bà Hoa bắt đầu gọi điện nhiều hơn. “Bao giờ đón mẹ sang? Mẹ hào hứng, “nghe bảo mỗi lần thăm thân được ba tháng, nếu đi làm nông, có trừ ăn tiêu thì ít nhất cũng để ra được hai mươi triệu mỗi tháng.”
- Vâng, dù gì con cũng mới sang. Chồng tin tưởng đã rồi mới bảo lãnh được.
- Phải có bầu đi thì mới dễ làm visa thăm thân. - Mẹ cười nửa đùa nửa thật.
- Ơ hay, đây là chuyện con người chứ có phải công cụ để làm visa đâu mẹ?
Con búc xúc, mẹ cúp máy.
Sen đứng ngoài sân nhà. Con đường làng tối om. Chiếc xe đạp cũ dựng sát tường. Một bên là gia đình ruột thịt đang mong chờ, một bên là cuộc sống mới đang dần thành hình. Vấn đề là không rõ hình thù gì.