124 nghìn 500 đồng
Mùa hè năm ấy, cái Dần chẳng còn rủ Minh Châu chơi đông, chơi tây như mọi năm nữa. Mới từ sáng sớm nó đã ra khỏi nhà, rồi đi đâu mất hút, có khi trưa còn chẳng về ăn cơm. Đến gần tối nó mới mò về. Khi bà Nhàn và Minh Châu hỏi, nó chỉ cười cười, giấu nhẹm cánh tay bị lúa cắt đỏ rực ra sau lưng.
Cái Dần đang tìm cách kiếm tiền. Lúa chiêm đang vào vụ thu hoạch. Nó nghĩ đến việc đi gặt thuê.
Người trong làng không thích nó. Nó mò sang làng Xoan bên cạnh, đi từ ruộng lúa này, sang ruộng lúa khác, hỏi xem có ai cần nó gặt lúa đỡ không. Chẳng ai cần cả nhưng thấy nó nài nỉ, nhiều người cũng mủi lòng.
Vóc dáng nó nhỏ nhắn nhưng mà cái tay gặt lúa thì nhanh thoăn thoắt. Gặt xong, nó lại ôm từng bó lúa gom thành một đống lớn cho người lớn chất lên xe thồ, rồi hì hục còng lưng đẩy phụ xe lúa về tận sân để tuốt.
Đến cuối ngày, họ sẽ trả cho nó một, hai nghìn đồng. Gặp được mấy người tốt bụng, thấy nó được việc, sẽ cho thêm vài đồng hoặc củ khoai, bắp ngô luộc.
Cái Dần mừng lắm, vuốt phẳng những tờ tiền nhận được, cẩn thận nhét vào cái túi nhỏ nó đeo trên cổ. Bà ngoại may cho nó cái túi này khi nó còn nhỏ, nó còn giữ đến bây giờ.
Minh Châu nhiều lần hỏi, cuối cùng cũng dụ được cái Dần nói ra. Nó đem mấy đồng bạc kiếm được khoe với Minh Châu:
“Chị kiếm được nhiều tiền rồi, mẹ… sẽ không phải đi làm cái nghề đó nữa.”
Cái Dần nằm gối đầu lên chân Minh Châu ngắm trăng ở ngoài thềm. Không biết nó nghĩ tới điều gì bỗng bật cười khúc khích. Nụ cười khiến cả khuôn mặt nó bừng sáng.
Vầng trăng trên cao kia còn chẳng sáng đến thế. Minh Châu đã nghĩ vậy.
Nằm một lúc, cái Dần lại nói:
“Minh Châu đừng nói cho bà Nhàn biết nhé. Bà biết… bà sẽ không cho chị làm nữa.”
Minh Châu gật đầu nhưng vẫn đem chuyện kể cho bà Nhàn nghe rồi hỏi nó nên làm cái gì.
Bà trầm ngâm hồi lâu rồi mới ngẩng đầu nhìn Minh Châu bằng đôi mắt hoe đỏ.
“Cứ để cho nó làm đi. Nếu được, Minh Châu cũng giúp Dần nhé.”
Minh Châu tất nhiên là muốn giúp nhưng chẳng ai chịu để cho nó làm cả. Bình thường họ đâu cần người gặt thuê, để cái Dần giúp đã là ngoại lệ rồi.
Hơn nữa, cái Dần thì còn được việc, chứ Minh Châu chân tay lóng nga lóng ngóng. Để cho nó làm thì họ chỉ có lỗ.
Không được người ta thuê, Minh Châu bèn nghĩ cách khác. Nó kiếm một thanh sắt tròn, mảnh, lấy búa hì hụi gõ cong một đầu thành cái móc, rồi buộc chiếc giỏ tre lên ngang hông, xăng xái ra đồng.
Lũ cua ranh mãnh thường chọn vách đất ven bờ ruộng để đào hang. Minh Châu lội bì bõm dưới ruộng. Cứ hễ phát hiện ra cái lỗ tròn vo bằng ngón chân cái nào, nó lại khéo léo luồn lưỡi móc vào thăm dò. Chiếc móc sắt lách nhẹ, xoay vài vòng, và chỉ loáng sau đã lôi tuột ra một con cua đồng, hai chiếc càng còn đang kẹp chặt vào móc sắt.
Cua bắt được, đôi lúc Minh Châu sẽ đem một ít về cho bà Nhàn nấu canh mùng tơi, còn lại nó đều đem ra chợ bán. Cũng kiếm được mấy đồng, góp chung với cái Dần.
Vụ chiêm kết thúc, cái Dần đưa Minh Châu tới nhà ông Thức ở làng Xoan tìm việc.
Lúc gặt lúa thuê, nó đã hỏi thăm và biết được làng Xoan có nghề làm hương (nhang) đã bao đời nay. Nghe nói nhà ông Thức là cơ sở làm hương lớn nhất làng, có thể cần người làm thêm.
Sau một hồi nghe chúng nó kể lể, xin xỏ, ông Thức cũng đành gật đầu, nhận cái Dần và Minh Châu vào làm. Công việc chủ yếu của hai đứa là se hương, phơi phóng và đóng gói.
Cái Dần khéo tay hơn, chẳng mấy chốc đã thành thạo việc se hương. Những nén hương nó vuốt ra, cái nào cái nấy tròn lẳn, chẳng kém gì thợ lành nghề.
Minh Châu thì có chút vụng về. Hương nó se, cái thì bột rụng lả tả, cái thì trên to dưới bé, khiến nó phải làm đi làm lại rất nhiều lần. Nhưng nó rất kiên nhẫn, ngày nào cũng cặm cụi ngồi bên mâm bột, dùng bàn xoa lăn hương. Mỗi lần lăn được một que đẹp mắt, nó lại vui vẻ khoe với cái Dần ở bên cạnh.
Màu vàng nâu của bột hương lúc nào cũng dính đầy trên hai đôi bàn tay nhỏ, đôi lúc còn lem cả lên mặt, lên quần áo của hai đứa.
Từ lúc cái Dần và Minh Châu xuất hiện, cơ sở sản xuất hương nhà ông Thức có sức sống hơn hẳn. Hai đứa nếu không phải ngồi yên se hương thì sẽ chạy lăng xăng khắp nơi phơi, thu hương hoặc là lượn qua lượn lại giữa những người lớn, luôn mồm hỏi có cần chúng nó làm cái gì không.
Hàng ngày, bà Nhàn sẽ chuẩn bị mấy cục cơm nắm muối vừng cho hai đứa mang theo để ăn trưa. Nhìn hai đứa vừa ăn cơm nắm, vừa ríu rít trêu đùa nhau, mấy người thợ làm hương trán rịn đầy mồ hôi, tự nhiên cũng bật cười theo. Tiếng sôi sùng sục của thùng phẩm màu trên bếp bỗng vui tai hơn hẳn.
Chiều tối xong việc, Minh Châu lại chở cái Dần về. Chiếc Mifa của bà Nhàn giờ đã chẳng còn quá cao so với thằng bé nữa.
Trời sâm sẩm tối, chiếc xe lăn bánh trên con đường quê vắng vẻ, gió hè từ đồng thổi vào, mát rượi. Tay cái Dần bám chặt vào eo Minh Châu, xoay người ngồi lệch sang một bên. Hai bàn chân nó nghịch ngợm lướt qua đám cỏ ven đường.
Những con đom đóm đang say ngủ trong vạt cỏ bỗng bị cái gì đó quét qua, chao đảo cả đất trời. Chúng túa lên không trung như một trận mưa sao băng, chớp nháy loạn xạ, giận dữ phản đối những kẻ phá bĩnh.
Nhưng hai tên phá hoại đã theo gió đi mất, chỉ còn mùi thơm trầm ấm, cay mũi của rễ bài, hoa ngâu, quế và thảo quả phảng phất đâu đây. Giọng nói trong trẻo của chúng vọng lại.
“Minh Châu, Minh Châu! Đom đóm kìa! Đẹp nhỉ?”
“Ừ!”
***
Từ cái lần cô xé tranh của nó, cái Dần không còn hay ríu rít với Thủy như trước nữa. Rồi khi gã bảo kê tìm đến nhà, đè cô lên giường và bị cái Dần nhìn thấy, nó càng trở nên kiệm lời hơn. Nó vẫn đợi cô về mỗi tối, nhưng không còn ôm lấy cô nữa.
Có lẽ… Nó chê cô bẩn. Thủy nghĩ rồi tự cười một mình. Cũng tốt!
Hè qua, đông tới, cây hải đường bố cô trồng ở góc sân ra hoa rồi lại rụng, căn bếp thêm mấy phần lụp xụp, Thủy cũng chẳng mấy bận tâm, cứ ngẩn ngơ mà sống.
Rồi một hôm…
Đó là một buổi tối mùa hè oi bức. Gió từ chiếc quạt máy càng thổi ra càng nóng, Thủy không chịu nổi, phải đứng dậy ra đầu hè ngồi.
Cả không gian yên tĩnh lạ thường. Có lẽ bọn ếch nhái, ve sầu cũng đã bị mấy ngọn gió Lào thổi đến khô người, chẳng có sức mà kêu inh ỏi như mọi ngày nữa. Mấy ngọn cây héo rũ, thi thoảng đưa qua đưa lại. Không khí ngột ngạt đến khó thở.
Thủy uể oải phe phẩy chiếc quạt nan, suy nghĩ lang thang đến cái tủ lạnh của bà Hồng bán tạp hóa ở giữa làng.
Tiếng của cái Dần lanh lảnh từ ngoài cổng.
“Mẹ ơi!”
Trên tay nó bưng một cái bát gì đó, chân rón rén bước từng bước nhỏ.
“Bà Nhàn nấu chè đậu đen. Bà bảo con mang một bát về cho mẹ.”
Cái Dần đặt bát chè vào tay Thủy. Lòng bàn tay bỗng mát lạnh.
“Có cả đá đấy. Mát lắm! Mẹ ăn đi.”
Thủy bưng bát chè lên uống một ngụm lớn. Nước chè trôi đến đâu, cả người thấy khoan khoái dễ chịu đến đó. Sự bức bối, khó chịu dường như bị thổi bay đi sạch.
Cái Dần cười toe toét:
“Mẹ thấy đỡ nóng hơn chưa?”
Thủy húp thêm vài ngụm nữa rồi bảo với cái Dần:
“Há miệng ra.”
Đợi cái Dần há miệng, cô múc viên đá to nhất trong bát đưa vào miệng nó. Con bé này thích nhất là mấy thứ lạnh như kem với đá.
Cái Dần vui vẻ ngồi xuống bên cạnh mẹ nó, miệng nhai đá rôm rốp. Mát thật!
“Tuần sau bắt đầu đi học hả?” Thủy đặt cái bát đã trống không sang bên cạnh, hỏi:
“Vâng.”
“Sách vở đã mua hết chưa?”
“Hôm trước bà Nhàn mua đủ rồi mẹ.”
“Ừ! Học… thấy thế nào?”
Cái Dần cười ngượng ngùng.
“Cũng… tạm ạ. Toán với Lý… hơi khó.”
Thủy quay sang nhìn đứa con gái đang gãi đầu, gãi tai. Ngày trước cô cũng không giỏi mấy môn tự nhiên cho lắm. Con bé này… Hóa ra cũng có chút giống với cô.
Khóe miệng của Thủy bất giác nhếch lên. Hai mẹ con chưa từng ngồi nói chuyện như thế này.
Đột nhiên, Thủy lại cảm thấy, có con gái cũng… khá tốt.
“Mẹ ơi!” Cái Dần lên tiếng sau một lúc yên lặng.
“Ừ?”
Cái Dần vòng tay tháo cái túi nó vẫn đeo trên cổ xuống, đặt vào tay Thủy.
“Cái gì đây?”
Thủy cũng không đợi cái Dần trả lời, kéo mở cái túi vải, lôi ra một tờ 50 nghìn, hai tờ 20 nghìn, một tờ 10 nghìn cũ kĩ và một đống các tờ tiền lẻ.
“Tổng cộng là 124 nghìn 500 đồng. Con đi làm thêm kiếm được đấy. Mẹ giữ cả đi.”
Cái Dần không giấu được vẻ đắc ý trong giọng nói của mình.
Thủy rũ mắt, nắm chặt số tiền trong tay, không nói gì.
Ánh mắt cái Dần nhìn mẹ nó từ háo hức, mong chờ dần trở nên thấp thỏm pha lẫn chút lo lắng. Một hồi lâu sau, tiếng của Thủy mới vang lên:
“Để làm gì?”
“Dạ?”
“Mày đưa tiền này cho tao… Để làm gì?”
Cái Dần nghe ra sự không vui trong giọng nói của mẹ. Nó vội nắm lấy cánh tay Thủy, bóp nhẹ:
“Con chỉ muốn giúp đỡ mẹ. Con không muốn mẹ vất vả. Con không muốn mẹ làm…”
Cái Dần đang nói bỗng dừng lại.
Thủy từ từ quay sang, nhìn nó:
“Không muốn tao làm gì? Làm đĩ?”
Cái Dần ngay lập tức buông tay mẹ nó ra, đứng bật dậy, lùi lại một bước. Ánh mắt của Thủy khiến nó sợ hãi. Giống hệt như cái lần nó mang tranh đến ấy.
Dáng vẻ sợ sệt, dè chừng của cái Dần khiến Thủy hơi sững người lại. Hít một hơi thật sau, cố dằn sự ê chề đang nghẹn ứ ở cổ họng xuống, Thủy gằn giọng:
“Mày xấu hổ vì mẹ mày à?”
“…”
“Thế thì… Mày cứ coi như đừng có người mẹ này là được.”
Cái Dần lắc đầu nguầy ngậy, giọng như vỡ ra.
“Không! Không phải! Mẹ ơi…”
“Đừng gọi tao là mẹ!”
Thủy ném mạnh xấp tiền trong tay vào người cái Dần rồi đứng bật dậy.
“Tao… Dù có phải làm đĩ… Cũng không cần sự thương hại của mày.”
Nói rồi, Thủy xoay người, bước lên thềm. Ánh mắt va phải chiếc bát ăn chè ban nãy, cô vung chân, đá bay nó xuống sân.
“CHOANG!”
Chiếc bát sứ vỡ tan tành. Một mảnh vỡ cắt qua chân cái Dần.
Thủy chẳng buồn ngoái lại, đi thẳng vào trong nhà. Cái Dần giàn giụa nước mắt đứng giữa những mảnh sứ vỡ và các tờ tiền nhàu nhĩ, vương vãi khắp sân.
Máu chảy xuống, thấm đỏ chiếc dép tổ ong đã bị bột hương nhuộm vàng của nó.
Khi đó, nó 12 tuổi.