Cái Dần
Mẹ nó sinh nó ra vào một ngày giữa thu năm 1986. Nó sinh vào năm Dần, nên mẹ nó đặt cho nó cái tên Đinh Thị Dần. Một cái tên rất tùy tiện.
Cái Dần năm nay gần 6 tuổi. Nãy mẹ nó luộc mấy củ khoai lang bảo nó lấy ăn tối, mẹ nó còn phải đi làm. Cái Dần ăn một củ, bọc hai củ còn lại vào vạt áo mang sang cho bà Nhàn.
Bà Nhàn là hàng xóm ngay bên cạnh nhà nó. Bà Nhàn năm nay hơn 50 tuổi, làm nghề giáo, hơn hai chục năm nay đều dạy ở trường học duy nhất của xã.
Kể từ khi bà ngoại mất một năm trước, trong cái làng Đoan này, người lớn thì không thèm để ý đến nó, trẻ con thì chế nhạo nó, chỉ có bà Nhàn là đối xử tốt với nó. Có đôi lúc mẹ nó vội đi làm mà không kịp thổi cơm cho nó ăn, bà Nhàn lại gọi nó sang, cho nó một bát cơm.
Cơm của bà Nhàn ngon cực. Khi thì bà cho thêm trứng, khi lại thêm thịt. Ngon ơi là ngon!
Bà còn mở TV cho nó xem “Những bông hoa nhỏ”. Nó mê chương trình này lắm, vừa hát vừa múa theo các bạn nhỏ trên TV, rồi lại cười sằng sặc xem màn rượt đuổi không hồi kết của Sói và Thỏ trong phim hoạt hình “Hãy đợi đấy!”
Nhưng mà cứ hết “Những bông hoa nhỏ”, bà Nhàn lại tắt TV đi, không cho nó xem nữa. Mơ ước lớn nhất của cái Dần là có một cái TV giống như của bà Nhàn để nó có thể xem thỏa thích, bao nhiêu cũng được.
Nhưng bà ngoại nó chết rồi. Còn mẹ nó thì không có tiền.
Cái Dần rất thích bà Nhàn. Có gì ngon, nó chỉ ăn một nửa, còn một nửa gói lại, mang sang chia cho bà, mặc dù cuối cùng những thứ đấy đều chui hết vào bụng nó.
Vừa mới đến cổng nhà bà Nhàn, cái Dần đã cất giọng gọi to:
“Bà Nhàn ơi! Bà ăn khoai lang không?”
Không có tiếng trả lời. Theo thói quen, nó đi thẳng vào trong. Vừa mới tới sân, bước chân của nó khựng lại. Trên cái chõng tre nó vẫn nằm mỗi ngày ở hiên nhà, có một đứa trẻ đang ngồi. Đứa trẻ đó… Đẹp hơn bất cứ thứ gì mà nó từng thấy.
Mái tóc tơ màu hạt dẻ, hơi xoăn nhẹ, lòa xòa phủ xuống vầng trán cao. Làn da trắng sứ, đôi môi đỏ chót như được đánh son, sống mũi cao, thẳng tắp. Đôi mắt không phải là màu đen thường thấy, mà có màu xanh xám, sâu hun hút, được viền bởi hàng mi cong vút, dày rợp.
Quần áo trên người cậu bé kia cũng rất đẹp. Quần màu trắng dài đến đầu gối, áo sơ mi sọc xanh biển, xắn cao đến khuỷu tay, trên chân là đôi giày màu nâu nhạt.
Quần áo đẹp thế này, cái Dần chỉ từng nhìn thấy trên người thằng Hùng “chốc”. Nhà thằng Hùng “chốc” là nhà giàu nhất cái làng này.
Cái Dần như nhìn thấy một món đồ chơi xinh đẹp, đôi chân bước thật nhanh về phía đó. Đến trước mặt cậu bé, nó vươn một tay ra, béo nhẹ vào cái má phúng phính, trắng nõn kia.
Đôi mắt xanh xám, trong trẻo ngay lập tức khóa chặt lấy nó với vẻ ngỡ ngàng pha chút tò mò.
“Mềm thật!”
Cái Dần nhe bộ răng thiếu mất một cái răng cửa của nó, cười tít mắt.
Cậu bé khẽ giật mình, nhưng rồi lại ngồi yên, để mặc cho bàn tay hơi cáu bẩn kia tiếp tục bóp bóp khuôn mặt mình.
Tường Vân từ trong buồng bước ra, sững người lại. Trước mặt cô là một con nhóc đen nhẻm, đầu tóc rối bù như tổ quạ đang nhe răng cười toe toét với con trai cô. Bộ quần áo xộc xệch, dính đầy bùn đất, trông khá bẩn thỉu. Một tay nó khư khư giữ chặt cái gì đó trong vạt áo, tay còn lại thì đang vô tư bóp nắn khắp mặt con trai cô.
Điều khiến Tường Vân ngạc nhiên chính là thái độ của Minh Châu. Từ nhỏ, thằng bé không mấy tiếp xúc với bên ngoài cho nên nó rất e dè người lạ. Từ hôm về, nó vẫn nhất định không chịu để cho bà Nhàn ôm nó mặc cho cô nói gãy cả lưỡi:
“Đây là bà ngoại của con. Bà rất yêu thương con.”
Thế mà giờ đây nó lại ngồi yên, để kệ con bé kia mặc sức chơi đùa trên khuôn mặt nó. Trong ánh mắt của Minh Châu, Tường Vân nhìn thấy những thứ cảm xúc mà cô chưa từng thấy: lạ lẫm, tò mò pha chút hứng thú. Con bé kia là đứa trẻ đầu tiên mà con trai cô từng tiếp xúc.
Cách đây hơn 6 năm, khi cô còn đang là sinh viên năm cuối khoa Ngôn ngữ học, Đại học Charles, tại Praha, Tiệp Khắc, trong một buổi tiệc của khoa, cô đã uống quá chén rồi lên giường với một người đàn ông.
Kinh nguyệt của cô vốn không đều, hơn 4 tháng sau cô mới phát hiện ra mình có thai. Cái thai đã quá lớn, không thể phá bỏ. Cô cũng không thể tìm người đàn ông kia đòi chịu trách nhiệm bởi vì cô chẳng nhớ nổi anh ta là ai.
Đại sứ quán Việt Nam khi biết chuyện đã ngay lập tức bắt cô thôi học và về Việt Nam. Chỉ còn có vài tháng nữa là tốt nghiệp và cô có thể vinh quang về nước nhưng chỉ vì cái thai này…
Nếu bị trục xuất, mang theo cái tiếng con đàn bà chửa hoang trở về, cô sẽ phải đối mặt với sự dè bỉu, lăng mạ, chế nhạo của cả xã hội. Tường Vân biết Việt Nam không còn là nơi mà cô có thể trở về.
Cô quyết định bỏ trốn khỏi kí túc xá, không về nước theo lệnh triệu tập của Đại sứ quán. Ở Praha cô quen rất nhiều người Việt sang đây lao động. Cô tìm đến họ, nhờ nương tựa.
Sau đó, Minh Châu được sinh ra, đến giấy khai sinh cũng chẳng có.
Cuộc sống chốn chui, chốn lủi của hai mẹ con cũng chẳng dễ chịu gì. Hàng ngày Tường Vân đều để con nhờ một người phụ nữ trung niên làm nghề may vá thuê chăm sóc, còn cô thì đi làm chui ở các quán bar, bị khinh rẻ, vũ nhục, không khác gì một con điếm.
Nhưng cũng chính tại đây mà cô đã gặp người chồng hiện tại của mình. Ông ta là một người đàn ông trung niên người Tiệp Khắc, có vai vế khá lớn trong xã hội. Ông ta thấy Tường Vân xinh đẹp, lại có học thức nên ngỏ ý muốn giúp Tường Vân làm lại cuộc đời. Điều duy nhất ông ta không chấp nhận được là đứa con hoang của cô.
Sống cơ cực suốt mấy năm, có cơ hội đổi đời, Tường Vân liền không ngại bắt lấy. Cô cũng chẳng thương yêu Minh Châu gì nhiều, chỉ nuôi nấng thằng bé vì cô là người đã sinh nó ra. Lúc cùng con lên máy bay về Việt Nam, cô cũng chẳng có một chút do dự.
Nhưng lúc này đây, thấy con trai mình nhìn đứa trẻ khác với ánh mắt tò mò, cô bỗng thấy xót xa cho đứa trẻ tội nghiệp này. Nó chưa từng được sống như một đứa trẻ đúng nghĩa, chưa từng có được sự yêu thương.
Đáng lẽ… Nó không nên được sinh ra trên đời. Đáng lẽ… Nó không nên có một người mẹ như cô.
“Cái Dần sang chơi à?”
Tiếng của bà Nhàn cắt ngang dòng suy nghĩ của Tường Vân, đồng thời cũng khiến cái Dần buông tay khỏi khuôn mặt mềm mại kia. Nó chạy về phía bà Nhàn, đon đả:
“Bà Nhàn đi đâu về thế? Cháu có khoai lang nè.”
Nói rồi, nó lấy ra hai củ khoai lang to bằng hai ngón tay, được bọc kĩ trong vạt áo đưa cho bà Nhàn.
“Khoai ngon lắm! Bà ăn đi!”
Bà Nhàn dựng xe đạp rồi ngồi xuống đối diện với cái Dần, nhìn nó bằng ánh mắt trìu mến:
“Dần không ăn à?”
“Cháu ăn rồi. Đây là cho bà Nhàn.”
Nó nuốt nước bọt ực một cái, trên mặt hiện lên vẻ thèm thuồng nhưng đôi tay vẫn kiên định đưa hai củ khoai về phía bà Nhàn. Một nỗi xót xa dâng lên trong lòng bà.
Con bé này chẳng mấy khi được ăn no. Mẹ nó hiếm khi nào nấu được cho nó bữa cơm tử tế. Bữa ăn của nó thường xuyên là ngô, khoai luộc, khi lại là gói mỳ tôm cởi chuồng úp nước sôi.
Kể từ khi bà ngoại nó mất, nó dường như chẳng lớn được bao nhiêu. Gần 6 tuổi rồi mà bé loắt choắt như đứa 4 tuổi. Thế mà nó thảo lắm. Ăn cái gì cũng nhớ dành ra một phần để cho bà.
Bà Nhàn xoa đầu cái Dần, mỉm cười dịu dàng:
“Bà không ăn. Dần ăn đi.”
Nó nở nụ cười toe toét:
“Khoai ngon thế mà bà không thích.”
Rồi nó ôm hai củ khoai vào trong lòng như ôm báu vật. Nó quay lại ngó thằng bé ngồi trên chõng tre một cái rồi nói nhỏ vào tai bà Nhàn:
“Bà Nhàn nhặt được búp bê ở đâu vừa mềm vừa đẹp thế?”
Bà Nhàn ngạc nhiên, bật cười. Bà liếc nhìn Mình Châu, nói với cái Dần:
“Không phải búp bê. Cháu ngoại của bà Nhàn đấy. Tên là Minh Châu. Dần có muốn chơi với Minh Châu không?”
Cái Dần mở to đôi mắt long lanh, tròn xoe của nó, gật đầu tới tấp rồi ôm khoai chạy lại cái chõng nơi Minh Châu vẫn đang ngồi nhìn nó không rời mắt.
“Chị cho Minh Châu ăn khoai lang chung. Minh Châu chơi với chị ná?”
Nó trèo tót lên chõng, đặt một củ khoai xuống, bóc vỏ củ kia, ngoạm một miếng rõ to rồi đưa miếng khoai còn lại tới sát miệng của Minh Châu.
“Ăn đi! Ngon nhắm!”
Minh Châu nhìn chằm chằm miếng khoai lang còn dính đầy nước bọt của cái Dần, không há miệng nhưng cũng chẳng tránh đi.
Có vẻ một miếng vẫn chưa khiến cái Dần đã thèm, nó rụt tay về, cắn thêm một miếng, rồi lại đưa củ khoai tới miệng Minh Châu.
Bà Nhàn mỉm cười nhìn hai đứa trẻ. Tường Vân đi đến gần mẹ, cất tiếng hỏi:
“Con nhà ai thế mẹ?”
“Con cái Thủy.”
Bà Nhàn nói rồi quay lại xe đạp lấy cái làn cói treo trên tay lái xuống. Trong này đựng ít thịt, đậu, rau dưa bà vừa đi chợ mua về. Bà xách cái làn đi về phía bể nước. Tường Vân đi theo mẹ, vừa đi vừa hỏi:
“Thủy nào? Thủy nhà cô Lan ấy ạ?”
“Ừ.”
Trong lúc đợi mẹ đi lấy xoong chảo, Tường Vân quan sát cái Dần kĩ hơn. Nó vẫn đang cười toe toét dụ Minh Châu ăn khoai chung với nó, chỉ có điều, củ khoai giờ chỉ còn một mẩu ngắn cũn. Nhìn khuôn mặt lấm lem lại có chút lém lỉnh của con bé kia, Tường Vân không có cách nào liên hệ với một Thu Thủy xinh đẹp, dịu dàng mà cô từng biết.
Đợi bà Nhàn mang đồ ra tới, Tường Vân hỏi ngay:
“Con của Thủy thật à? Bố nó là ai thế?”
Bà Nhàn không trả lời mà chỉ lặng lẽ ngồi rửa thịt, nhặt rau. Tường Vân đợi hồi lâu, định lên tiếng hỏi lại thì nghe bà Nhàn nói:
“Nó không có bố. Giống Minh Châu.”
Câu nói khiến Tường Vân sững người lại. Cô rũ mắt xuống, trầm mặc.
Bà Nhàn ngước nhìn con gái mình một cái, thở dài, rồi lại tiếp tục cúi đầu thái thịt, vo gạo. Xong xuôi, bà bắc hai cái xoong gang lên cái kiềng đôi trong bếp, rồi bắt đầu nhóm lửa, thổi cơm, rang thịt.
Tường Vân đi vào trong bếp, kéo cái ghế đòn, ngồi xuống bên cạnh, nhìn mẹ nấu ăn, thi thoảng với tay ra sau lấy thêm rơm nhét vào bếp lửa.
“Thủy…” Tường Vân ngập ngừng.
Cô và Thủy từng là bạn của nhau. Nhưng sau khi cô qua Tiệp Khắc thì hai người cũng không còn liên lạc gì nữa.
Bà Nhàn đổ chút nước mắm vào nồi thịt, nhanh tay đảo. Thịt rang cháy cạnh, bà cắt thêm tí hành lá cho vào đảo chung, mùi thơm nức mũi. Xong xuôi, bà nhấc nồi thịt đặt vào rế, rồi ra ngoài bê cái xong nhôm đựng nước luộc rau đặt lên bếp. Lúc này, bà mới chầm chậm trả lời thắc mắc của Tường Vân.
“Con đi Tiệp được hai năm, cái Thủy cũng rời làng đi thành phố…”
Thủy đi thành phố làm gì, chẳng ai biết. Bà Lan lên thành phố tìm con, trở về nói với mọi người trong làng rằng Thủy ở lại thành phố làm việc.
Biệt tăm biệt tích hai năm, một ngày, Thủy bỗng xuất hiện ở đầu làng với cái bụng to tướng. Trong cái làng Đoan vốn luôn bình lặng này, một người phụ nữ trẻ không chồng mà đã có thai liền trở thành một sự kiện chấn động.
Người người kéo tới nhà bà Lan, phần ít để hỏi chuyện, phần đông là tới mắng nhiếc, chỉ trỏ. Mới có hơn một tuần kể từ khi Thủy trở về, bà Lan trông như già đi cả chục tuổi. Nhưng mặc kệ ai hỏi, ai mắng, Thủy đều một mực im lặng, không nói bất cứ điều gì về đứa con trong bụng cô cả.
Cái Dần được sinh ra, Thủy liền vứt cho bà Lan chăm sóc, không ngó ngàng gì tới nó. Còn cô, hàng ngày đều ra tiệm cắt may của mẹ mình làm việc. Trước đây, người trong làng đều tới tiệm của bà Lan để may đồ, nhưng kể từ khi Thủy ra đó làm, khách cứ thưa dần rồi cuối cùng chẳng ai thèm ghé nữa.
Mấy bà ác miệng trong làng, mỗi lần đi qua cửa tiệm đều mắng Thủy: “Đồ chửa hoang”, “Đồ con đàn bà hư hỏng”, thậm chí là “Đồ đĩ”. Mỗi lần bị chửi, Thủy đều chỉ im lặng, mỉm cười.
“Năm cái Dần được 3 tuổi, cái Thủy lại bỏ đi.”
Trong bếp thi thoảng vang lên tiếng lách tách của những vảy trấu bị đốt. Bà Nhàn cúi xuống, dụi thêm nắm rơm vào bếp. Ánh lửa hắt lên khuôn mặt, chập chờn nhảy nhót trong đáy mắt bà. Nơi đuôi mắt đã hằn rõ những vết chân chim. Bà kể tiếp.
Lần này Thủy chỉ đi một tuần rồi quay trở lại nói với bà Lan rằng cô đã tìm được một việc làm trên huyện. Từ đó, mỗi ngày, cứ đến chiều là cô lại son phấn nồng nặc ra khỏi nhà.
Một thời gian sau, người trong làng Đoan truyền tai nhau, họ thấy Thủy đi cùng nhiều người đàn ông khác nhau vào nhà nghỉ. Hóa ra, công việc mà Thủy nói với bà Lan là đi làm đĩ.
Gia đình bà Lan càng bị dân làng khinh bỉ thậm tệ. Họ không chỉ mắng chửi Thủy, còn chửi bà Lan, chửi luôn cả đứa trẻ mới hơn 3 tuổi đầu.
Uất ức, đau khổ chồng chất, bà Lan chỉ sống thêm một năm nữa rồi qua đời. Thủy lúc này mới nhớ ra mình còn có một đứa con gái, miễn cưỡng chăm sóc nó cho đến giờ. Nhưng cái sự chăm sóc ấy là để cho nó bữa no bữa đói, lang thang khắp nơi, quần áo lúc nào cũng lem luốc, bẩn thỉu.
Giọng bà Nhàn đều đều nhưng Tường Vân vẫn nghe ra được sự xót xa trong đó. Tường Vân cũng thấy thương cho Thủy, cho cái Dần, cho bà Lan. Ở cái nơi làng quê đầy rẫy định kiến này, lời nói và thái độ của con người đôi khi tàn nhẫn đến đáng sợ. Như một bàn tay ác độc, dìm người ta xuống đáy, không cho ngóc đầu dậy, khiến người ta chết dần chết mòn trong đau khổ.
Nghĩ đến đây, Tường Vẫn bỗng cảm thấy quyết định trốn ở lại Tiệp của cô lúc trước là đúng đắn đến nhường nào. Nếu khi đó cô về nước, rất có thể cô sẽ trở thành một “Thu Thủy thứ hai”, Minh Châu sẽ là một “cái Dần khác”, số phận của mẹ cô chắc cũng bi thảm không kém bà Lan.
Bà Nhàn bê mâm cơm đã chuẩn bị xong tới cái chõng, nói với hai đứa trẻ đang ngồi trên đó:
“Hai đứa đi rửa tay rồi ăn cơm.”
Cái Dần đứng phắt dậy, chạy tót ra bể, múc một gáo nước, rửa tay qua loa rồi nhanh chóng chạy lại, ngoan ngoãn ngồi xếp bằng trên chõng, mắt háu háu nhìn đồ ăn trong mâm. Nó đã ăn sạch cả hai củ khoai lang trong lúc “nói chuyện” với Minh Châu nhưng giờ ngửi thấy mùi đồ ăn thơm phức của bà Nhàn, nước bọt lại ứa ra đầy miệng.
Tường Vân dắt Minh Châu đi rửa tay rồi quay trở lại ngồi cùng bà Nhàn và cái Dần.
Cái Dần bưng bát cơm lên, mắt lom lom ngó đĩa thịt rang thơm phức. Dù rất muốn gắp một miếng, nhưng nó không dám. Đây không phải là nhà nó. Thịt này chắc cũng không phải cho nó. Nó và một miếng cơm vào miệng, nhai nhồm nhoàm. Thôi, cơm không cũng rất ngon rồi.
Bà Nhàn gắp cho nó hai, ba miếng thịt. Nó sướng run cả người:
“Cháu xin bà!”
Nói rồi nó cắn một miếng thịt bà Nhàn gắp cho. Miếng thịt nửa nạc nửa mỡ, vừa thơm vừa béo. Hai mắt nó sáng rực.
“Thịt nhà bà Nhàn ngon thế nhờ!”
Bà Nhàn mỉm cười trìu mến, gắp thêm thịt cho nó và Minh Châu.
Cái Dần ăn vèo cái hết sạch bát cơm rồi đặt bát đũa xuống, ngồi nghiêm chỉnh. Dù vẫn thòm thèm nhưng nó không xin thêm. Mẹ nó từng bảo, nếu nó có đi ăn chực ở đâu thì đừng có ăn nhiều quá kẻo lần sau người ta sẽ không cho ăn nữa.
Minh Châu cũng ăn hết bát cơm. Nó ăn khá ngon, trong bát chỉ còn lại mấy miếng mỡ. Minh Châu không phải đứa kén ăn, nhưng thịt lợn, nó chỉ ăn nạc, không ăn mỡ.
Cái Dần nhìn miếng mỡ trong bát của Minh Châu, hỏi nó:
“Minh Châu không ăn à?”
Nó lắc đầu. Cái Dần nói ngay:
“Thế chị ăn hộ Minh Châu ná?”
Đợi Minh Châu gật đầu, cái Dần bê ngay cái bát kia lên, lấy đũa gắp hết mấy miếng mỡ cho vào miệng, ăn sung sướng. Nó còn nhặt sạch sành sanh mấy hạt cơm dính trên thành bát.
Bà Nhàn thấy thế hỏi nó có muốn ăn thêm không. Cái Dần nhớ lời mẹ dặn, giả vờ xoa bụng, cười toe toét:
“Cháu no rồi!”
Tường Vân nhìn một màn này không khỏi chạnh lòng. Đã từng có lúc cô phải cõng Minh Châu đi xin ăn chực như cái Dần lúc này. Thật may mắn là cô sẽ không còn phải chịu những ngày tủi nhục như lúc trước nữa.
Ăn cơm xong, bà Nhàn vào mở TV cho Minh Châu và cái Dần xem “Những bông hoa nhỏ” rồi bê mâm bát đi rửa.
Tường Vân phụ mẹ. Trong lúc rửa bát, cô chợt nghĩ đến thái độ của người trong làng với Thủy và cái Dần, nói với mẹ:
“Thủy làm cái nghề đó… Mẹ cũng đừng quan tâm đến cái Dần quá, cũng đừng để Minh Châu tiếp xúc với nó nhiều. Người trong làng biết… Người ta lại chửi cho.”
Bà Nhàn ngẩng đầu nhìn Tường Vân. Ánh mắt bà rất phức tạp, có giận dữ, có trách móc, cũng tràn ngập xót xa. Hồi lâu, bà lại cúi xuống, tiếp tục rửa bát.
“Người lớn làm sai tại sao lại đổ lên đầu bọn nhỏ?” Bà nhẹ giọng nói, “Cái Dần có tội gì? Minh Châu có tội gì? Chúng nó chỉ là những đứa trẻ vô tội.”
Tường Vân nghẹn lời. Cô nhìn về phía ngôi nhà.
Trời đã nhá nhem, căn nhà chưa được bật đèn, tối om. Ánh sáng duy nhất từ màn hình chiếc TV đen trắng nhấp nháy phản chiếu trên gương mặt non nớt của hai đứa trẻ. Tường Vân nhất thời không phân biệt được đâu là Minh Châu, đâu là cái Dần, chỉ thấy hai cái bóng nhỏ xíu tựa vào nhau, cô đơn đến nghẹn lòng.