Đọc to (tiếng Việt) Nhấn phát để bắt đầu
Chu Đậu và Em

Mùi thơm của gốm

Tiếng chó sủa vang không chút khách sáo, xé toạc sự yên tĩnh của buổi trưa oi ả. Chó sủa át cả tiếng người, phải cố lắm mới nghe được giọng của bà Ất.

- Hai bác có nhà đấy không ạ?

Tiếng chó tiếng người lẫn với nhau đến inh cả tai, vậy mà mãi một lúc sau mới thấy dáng người ung dung xuất hiện với chiếc quạt mo trước hiên nhà.

- Trưa nắng nôi thế này có để cho ai nghỉ ngơi không thế?

Bà Hợi đứng trong nhà nói vọng ra. Chẳng cần gằn giọng, cái cung cách đãi từng chữ một của bà cũng đủ thấy chua ngoa. Bà Ất vẫn đứng ngoài sân, trước mặt là mấy con chó dữ nên bà chẳng dám tiến thêm bước nào. Đã thế, bà lại còn phải cố hét thật to để át đi tiếng sủa hung hăng của chúng.

- Hôm nay nhà em phải lo canh đồng nên không dứt được. Định tối nay hai vợ chồng sang hỏi hai bác nhưng em sốt ruột quá nên tranh thủ sang luôn. Thế năm nay hai bác tính làm giỗ cha thế nào để nhà em còn biết đường mà theo ạ?

Đúng lúc ấy, một bà cụ lưng đã hơi khòm chầm chậm bước ra, miệng vẫn còn nhai trầu.

- Ai đến mà chó sủa ghê thế?

Câu nói ấy nghe cứ nhờn nhợn nước vì tiếng chóp chép nhai trầu của cụ. Trông thấy cụ Liên, bà Hợi vội đến dìu. Cái tiếng con dâu hiền thảo chẳng phải dễ mà có được.

- Thím Ất đến hỏi để làm giỗ cha đấy mẹ ạ. Gớm khổ, cha mẹ có mỗi hai anh em, không may cha mất chỉ còn lại mẹ. Vợ chồng con ăn ở với mẹ thế nào ai cũng biết, chẳng lẽ đến cái giỗ cha nhà con cũng không lo liệu được mà phải đợi thím ấy đến hỏi.

Có lẽ bầy chó sủa nhiều cũng mệt, không còn hung hăng như ban nãy nhưng vẫn đứng đó gầm gừ, không cho bà Ất tiến lên dù chỉ một bước nhỏ. Cụ Liên nhích thêm vài bước, đến đúng chỗ bậc thềm thì dừng lại, nhổ một bãi nước trầu cho sạch miệng, nhổ xong lại chóp chép.

- Bao nhiêu năm qua có năm nào hai bác sơ suất giỗ chạp gì không mà chị lại còn đến đây hỏi giữa trưa thế này? Thế thằng Ất đâu? Giỗ cha nó hay cha nhà chị? Hay chị định đến hỏi trước rồi tối về nói xiên nói xẹo gì với nó?

Bà Ất giật thốt, tim đập thình thịch liên hồi, người cũng run run, xem chừng còn run và sợ hơn cả lúc đối diện với lũ chó dữ.

- Mẹ nói thế thì phải tội con quá ạ. Thể nào vợ chồng con cũng đến bàn bạc với hai bác kỹ càng mà, chỉ là nhà con bảo con tranh thủ sang hỏi trước tình hình để còn lo liệu mà góp ạ.

- Ối giời. Dâu con nhà ai nói năng khéo thế. Chị bảo tại con trai tôi sai chị đến thì tôi chịu rồi. Có trách thì trách thằng Ất nhà tôi, chứ làm sao mà dám trách chị?

Bầy chó bỗng hùa nhau sủa vài tiếng như muốn phụ hoạ.

- Nhà này đúng là khéo nuôi chó thật.

Đặng Trình vừa nói vừa nựng cằm con chó vàng nhà mình. Con chó ấy được nhà cậu nuôi cũng năm bảy năm rồi. Dù cậu chẳng mấy ở nhà nhưng nó vẫn nhận ra chủ, cứ hễ thấy cậu là chạy đến thè cái lưỡi ra hít lấy hít để. Ông xã quan nhìn thấy con trai thì cơ mặt cũng giãn ra, rảo bước lại gần.

- Chuyến này về được lâu nên trông con thư thái hẳn ra nhỉ.

Đặng Trình đứng dậy lễ phép chào cha.

- Cha về sớm vậy ạ?

- Ừ. Chuyện làng chuyện xã, lúc nào mà chẳng ở đấy, chậm một hôm cũng không sao. Con đã sang mời cụ Kình chưa?

- Dạ con mời cụ rồi, cha cứ yên tâm ạ.

Ông xã gật đầu hài lòng. Ngay tối qua lúc cả nhà ba người quây quần, ông đã nảy ra ý định mời cụ Kình sang ăn bữa cơm tối nay. Sắp đến ngày giỗ cha của ông xã rồi, ông muốn cùng cụ Kình bàn tính cỗ tiệc khách khứa. Nghĩ đến đây, chợt ông xã có chút tiếc nuối.

- Con đỗ đạt thành tài mà nhà ta lại không mời được thầy giáo Tuyên một bữa nào đàng hoàng.

Thầy Tuyên luôn là một bậc đáng kính trong lòng Đặng Trình. Ngày đỗ tiến sĩ, cậu viết liền hai bức thư. Bức đầu gửi về cha mẹ, bức còn lại là gửi cho người thầy đã dạy cậu vỡ lòng. Năm ấy khi Đặng Trình lên Đông Kinh được vài tháng, thầy Tuyên quyết định rời làng Chu Đậu, về lại quê hương. Dù sao thì mồ mả cha mẹ thầy cũng ở đó, vả lại, có lẽ thầy cũng chẳng còn bận tâm đến mấy lời bàn tán của làng xóm nữa chăng. Những năm tháng qua, thư từ không nhiều, nhưng Đặng Trình luôn hiểu tấm lòng của thầy.

- Dạ, trả lễ cho thầy, bày tỏ lòng biết ơn thì đúng là đạo lý xưa nay. Nhưng thầy con vốn tính giản dị, xa hoa gấm vóc, cỗ đầy mâm cao đều là những điều thầy luôn tránh. Cha đừng bận tâm, con biết phải trả lễ thế nào để thầy vừa tâm vừa ý.

Lòng Đặng Trình cũng mong cái ngày được trả lễ thầy giáo Tuyên lắm. Mà để đến được ngày đó, cậu phải qua được ngày hôm nay, đúng hơn là bữa cơm sắp tới. Lòng cậu thực sự mong đợi, nhưng lo lắng cũng không thiếu. Phàm khi càng gần đến khoảnh khắc then chốt, người ta càng dễ chùn bước.

- Con chào ông xã. Tôi chào cậu ạ

Thanh âm ấy như tiếng chuông vang khe khẽ dội vào lòng Đặng Trình, trái tim cũng rung một hồi dài theo tiếng chuông. Cậu vẫn chưa quen lắm với giọng nói này. Hai năm trước lúc cô với cái Hạnh bàn chuyện giả bệnh để khỏi đến nhà ông phú Thời têm trầu, giọng vẫn còn lảnh lót hồn nhiên như vậy, sao bây giờ lại đằm thắm đến thế.

- Cái Đoan đấy à. Bà gọi cháu đến têm trầu đúng không? Cái Lan đang ở sân sau đấy, têm xong thì phụ nó với nhé. Ta vào nhà với bà đây.

Lời ông xã quan kéo Đặng Trình khỏi những miên man dập dìu. Cậu chỉ kịp cúi chào cha, quên luôn cả đáp lời cô gái trước mặt. Đoan cũng không muốn nán lại lâu, cúi đầu chào Đặng Trình toan ra sân sau với chị Lan thì bị hai tiếng “cô Đoan” giữ lại.

- Dạ, cậu có gì cần sai bảo ạ?

Đặng Trình đâu biết nói gì nữa, bởi vốn tiếng gọi ấy chỉ như một chiếc thuyền tìm bến neo đậu. Nhưng cái bến ấy lại chẳng định đợi thuyền.

- Nếu cậu cần gì thì cứ bảo chị Lan sai tôi làm nhé, giờ tôi ra phụ chị kẻo muộn ạ.

Làng Chu Đậu ai cũng biết Đoan khéo tay, từ lúc mười bốn mười lăm đã hay được nhà giàu gọi đến têm trầu cho cỗ tiệc, đổi lấy ít khoai bánh đem về. Đoan vui lắm, chẳng hiểu sao cô cứ thích tỉ mẩn làm mấy thứ thủ công xinh đẹp, cứ hễ làm là lại chẳng muốn dứt ra.

Lần duy nhất Đoan không đi là lúc nhà ông phú Thời làm tiệc thôi nôi của cậu út con bà hai. Lúc ấy ông phú Thời bảo đó là cậu út, chứ bây giờ bà hai lại đang mang thai tiếp, đồn rằng cũng là một cậu nữa. Nghe nói ông phú đang tìm thầy để đặt tên cho cậu út nhà mình. Nghe kể thì ai cũng bật cười, chẳng biết sang năm có tòi thêm cậu út nào nữa không.

Tính ra mối têm trầu ấy cũng khá. Ai cũng biết ông phú Thời chiều chuộng bà hai như thế nào, nếu Đoan têm trầu hôm ấy thì có khi được cho cả tiền chứ chẳng phải mỗi bánh trái đâu. Nhưng Đoan nghĩ kỹ rồi, thôi nôi con trai bà hai thì làm sao bà cả vui cho được. Đoan mà nhận cỗ ấy không khéo lại phật lòng bà cả, vậy thì sau cũng khó mà sống yên. Nhưng nếu cứ vậy mà từ chối thì lại mích lòng ông phú và bà hai, nên Đoan phải nghĩ cách làm sao cho vẹn cả đôi đường.

Ai mà ngờ được một cô bé mới mười lăm lại cả gan giả bệnh để khỏi phải nhận têm cỗ tiệc cơ chứ. Cái hôm bà hai gọi Đoan đến têm thử trầu, cô vẫn ngoan ngoãn đến, còn mang theo chút bột gừng. Lúc têm trầu, cô cứ tìm lúc bà không để ý là lén hít hà để ho sặc sụa. Suốt cả buổi như thế, đương nhiên bà hai sẽ sợ mà chẳng dám gọi Đoan đến têm cho bữa cỗ nữa rồi.

Nhưng Đoan làm sao biết được rằng, có người đã “vô tình” nghe thấy lúc cô bàn với Hạnh ở bờ sông, để rồi cũng làm theo y hệt mà diễn một màn “vinh quy ngoạ sàng”.

Mới nửa giờ Thân mà cụ Kình đã sang nhà, thành ra ông xã cũng cho dọn cơm lên sớm. Từ tối qua Đặng Trình đã ngóng đến bữa cơm này. Cậu đã nghĩ sẵn trong đầu những gì định nói với cha mẹ và cụ Kình, chi tiết đến từng nhịp ngắt nghỉ, từng cái đằng hắng. Đặng Trình cũng hình dung sẵn phản ứng của từng người và chuẩn bị luôn cách đối đáp ra sao cho phải tình phải lẽ. Kỹ càng là thế nhưng khi ngồi trên phản, đối diện với cha mẹ và cụ Kình, cậu lại chẳng biết phải mở lời thế nào. Suốt từ nãy đến giờ, Đặng Trình hết tiếp rượu lại tươi cười hùa theo mấy câu chuyện của người lớn. Lòng nôn nao lắm rồi, nhưng nỗi sợ hãi bị khước từ đã theo cậu từ khi còn là trẻ con - cho đến tận bây giờ - vẫn thế. Dưới nụ cười tươi tắn kia là một đứa trẻ đang vùng vẫy được thoát ra khỏi những kiềm tỏa mà cha mẹ và dòng họ buộc lên nó. Nó vùng vẫy, nhưng vô lực.

“Cạch” - bàn tay con gái đặt đĩa trầu lên phản, tiếng động rất khẽ nhưng Đặng Trình lại giật mình. Cô mời trầu xong thì rời đi ngay, nhưng chỉ một thoáng ấy cũng đủ khiến Đặng Trình bình tâm trở lại. Phải, trầu têm cánh phượng đang ở trước mặt cậu, vậy thì còn gì phải sợ nữa chứ. Đặng Trình khẽ hít một hơi thật sâu, rồi nghiêm cẩn mà nói với trưởng bối.

- Thưa cụ, thưa cha, thưa mẹ, đợt này về quê được thư thả, vài tháng nữa mới phải lên kinh. Trong thời gian này, con xin phép cha mẹ cho con được làm một điều…

Đặng Trình ngồi đó, ung dung mà kiên định, nhưng chỉ có cậu mới biết nhịp thở của mình đang gấp chừng nào.

- Con xin cha mẹ cho con được mở lại lò gốm.

Không gian yên lặng một thoáng, rồi bị phá vỡ bởi giọng trầm khàn của ông xã quan:

- Con có ý gì? Con có biết lò gốm có ý nghĩa gì không?

Bà xã vội giữ lấy vạt áo chồng:

- Thầy bình tĩnh nghe con nói đã.

Nói rồi bà quay sang nhìn Đặng Trình, giọng thật dịu dàng nhưng vẫn không khỏi run run:

- Sao tự dưng con lại đòi mở lò gốm? Có gì thì con hỏi lại cha cho cặn kẽ, kẻo cha giận đấy.

- Đúng đấy cậu Trình, chứ ta thấy cậu như vậy là không thỏa đâu.

Cái thân phận thương nhân nghề gốm này khó chấp nhận quá, ông bà xã quan, và cả cụ Kình nữa, đã cố rũ bỏ hai năm nay, vậy mà hôm nay Đặng Trình lại dám cả gan nhắc lại. Nhưng không sao, Đặng Trình đều đoán được, cậu biết mình cần nói tiếp thế nào.

- Cụ và cha mẹ hiểu lầm rồi ạ. Con xin mở lại lò gốm, chỉ là muốn nung thêm vài mẻ tốt đem lên kinh thành. Trước là lựa dịp vào cung dự yến mà dâng lên vua và thái hậu, sau là cũng muốn làm quà biếu cho Tế tửu và các đồng liêu.

- Cứ tìm mua hạng thượng phẩm là được. Tự làm, tự làm. Tự làm để người ta ỉa lên đầu à? Con sợ người ta không nhớ xuất thân của mình hay sao mà còn nhắc nữa?

Đáp lại khẩn cầu của Đặng Trình là cơn giận dữ đến mất kiểm soát của cha cậu. Những lời lẽ nặng nề ấy cứ thế trút lên một con người bằng xương bằng thịt biết vui buồn hờn tủi. Miệng Đặng Trình bạnh ra, hai hàm răng cắn chặt vào nhau, như thể từng thớ cơ gân máu đều dồn hết sức lực để thầm hét lên trong đầu rằng “hãy dừng lại đi!”. Nhưng không một ai nghe thấy. Cụ Kình còn bồi thêm một câu, đúng với cái cung cách nói chuyện sâu cay của mình.

- Cha cậu nói chẳng sai đâu. Cậu gọi người ta là đồng liêu, còn người ta thì coi cậu là đồng xú (*) đấy!

(*) đồng xú: nghĩa là mùi hôi của đồng tiền. Đây là một từ cổ thường dùng để mỉa mai những người trọng tiền bạc, có thể dùng để cười nhạo người có xuất thân thương nhân.

Đặng Trình đã lường được tình hình này. Nhưng lường được thì sao? Cậu cũng vẫn sợ hãi đấy thôi? Nhưng sợ hãi thì sợ hãi, ván cờ đã đánh thì không thể dừng lại được, cậu phải đánh đến khi thắng thì thôi. Lập tức, Đặng Trình xuống khỏi phản rồi quỳ trước mặt ba vị trưởng bối. Cậu quỳ, nhưng lưng thẳng tắp. Phải rồi, cậu quỳ cho khát khao của đời mình mà.

- Thưa cha, thưa mẹ, từ năm mười tuổi con đã rời nhà lên kinh. Mười năm đèn sách vất vả, nhưng sánh làm sao được nỗi cực nhọc của cha mẹ khi ở nhà vừa lo ruộng vườn, vừa quản lò gốm. Đặng Trình ngu dốt, đọc bao nhiêu sách cũng không thấu được cái khổ của cha mẹ. Vậy nên con xin mở lại lò gốm, dẫu chỉ vài tháng thôi, để cũng được khổ cái nỗi ấy, coi như là bù đắp cho những năm tháng xa cha xa mẹ.

Mắt bà xã đã đỏ hoe, tay ông xã cũng nắm thật chặt như đang kìm nén điều gì.

- Thưa cụ, thưa cha, con hiểu trăn trở của hai người. Người ta trọng nông ức thương, ấy là vì họ chẳng hiểu được cái khó của thương nhân đấy thôi! Họ cười nhạo đồng xú, nhưng với con đó là mùi thơm, là mùi thơm của đất sét, của men gốm, của lửa nung, của mồ hôi bao người rơi trên xương gốm. Đó còn là mùi thơm của nét mực người nghệ nhân kỳ công dựng vẽ. Thưởng gốm là cái thú thanh cao, vậy cớ chi làm gốm lại là nghề rẻ mạt?

Cụ Kình đã chẳng thể ngồi yên thẳng thớm nữa, tay cụ đập nhè nhẹ vào phản, rõ ràng là đang nghiền ngẫm điều gì.

- Đặng Trình con là tiến sĩ đệ nhị giáp, bảng vàng đề tên, được đích thân vua ban áo gấm vinh quy. Từ ngày cha sinh mẹ đẻ, con chưa từng làm điều gì thẹn với lòng, danh sĩ trong thiên hạ đều nhìn vào đó cả. Những điều con đã làm, không phải để thoát ra khỏi cái xuất thân thương nhân, mà là muốn nói với thiên hạ rằng, thương nhân cũng có thể đọc sách, cũng có thể trúng tiến sĩ, cũng có thể là một bậc quân tử.

Nhìn Đặng Trình lúc này, ông xã quan chợt nhớ đến lời của thầy Tuyên mười mấy năm về trước...

Cờ đã đi hết. Và Đặng Trình đã thắng. Bà xã sụt sùi lau nước mắt. Ông xã quan nắm chặt tay, gật đầu rồi quay mặt đi. Cụ Kiểm thở ra một hơi dài, tay vỗ vỗ đùi vài cái rồi ra về. Đặng Trình đã tưởng tượng về giây phút này cả trăm lần, cậu đã nghĩ mình sẽ vui lắm, nhưng dường như không phải vậy, hoặc là cậu chẳng còn sức mà vui nữa. Mãi đến khi gian nhà chẳng còn ai khác, Đặng Trình mới yếu ớt đứng dậy ra ngoài, trời vẫn chưa tối hẳn. Cậu đi dọc sân sau, muốn đến nền giếng để rửa mặt cho thật tỉnh táo. Bước chân loạng choạng quá. Khi người ta quá dồn sức cho điều gì, tự nhiên đầu óc sẽ choáng váng như thế…

Nhưng miệng cậu mỉm cười rồi, một nụ cười dịu dàng làm sao. Những mỏi mệt chẳng thể ngăn được niềm vui lúc này. Phải rồi, cậu vui chứ. Lò gốm sẽ được mở trở lại. Và, Đoan đang ở trước mặt cậu.

- Cô Đoan.

Đoan quay đầu lại, thấy Đặng Trình thì vội cúi chào. Cô vẫn ở đây đợi lấy chút quà bánh đem về cho cả nhà. Trông thấy sắc mặt Đặng Trình không tốt, cô muốn hỏi thăm nhưng lại sợ thất lễ. Đương lúc không biết nên thế nào thì Đặng Trình đã mở lời trước.

- Cô Đoan, lấy cho tôi miếng trầu được không? Thú thật là tôi chưa ăn trầu bao giờ, muốn thử chút trầu cô Đoan têm...

Đoan đi vào bếp lấy ra một đĩa trầu cô têm sẵn, đưa đến trước mặt Đặng Trình.

- Mời cậu, mà lần đầu ăn không quen sẽ thấy hơi cay và nồng đấy ạ.

Đặng Trình chỉ cười, nhẹ nhàng nhai thử một miếng. Cay thật. Vị nồng xộc thẳng lên mũi nhưng nhức, rồi nước mắt Đặng Trình chảy ra. Ban đầu chỉ như một lớp sương mỏng khiến mọi thứ trước mắt mờ đi, rồi một giọt, hai giọt… Cậu càng nhai, nước mắt chảy càng nhiều, rồi thành dòng. “Trầu cay, cau nồng”. Đoan chợt nghĩ đến câu ấy. Cô đã quen nhìn người khác ăn trầu đến chảy nước mắt, những lúc ấy cô chỉ thấy buồn cười. Nhưng sao nhìn Đặng Trình, cô lại tưởng như cậu đang thực sự khóc cho nỗi niềm nào đó chứ chẳng phải vì miếng trầu cay.

Đặng Trình đã hiểu vì sao ông bà hay bảo ăn trầu cho ấm người rồi. Ban nãy tâm hồn cậu còn run rẩy, mà bây giờ đã vững vàng trở lại. Lò gốm mở lại rồi, sẽ có nhiều thứ phải làm đây. 

Bình luận đoạn văn

Bình luận

Chỉnh sửa bình luận

Thiết lập văn bản

Xem trước

Nội dung sẽ hiển thị như thế này

Chọn font chữ

Cỡ chữ

12px 30px
{
}