Quang tiền dụ hậu
Từ ngày đóng cửa lò gốm, ông xã quan rảnh rang hơn hẳn. Trước đây đố ai thấy được ông ở nhà giờ này, chứ đừng nói là ngồi nhàn nhã cùng vợ uống chè trên phản thế kia. Mà nói là uống chè vậy thôi chứ chén của ông xã vẫn còn nguyên, bởi tại cả buổi ông chỉ lo tỉ mẩn mà kỳ cọ bộ ấm chén uống chè mà ông quý còn hơn cả vàng. Sau mấy lượt lau chùi, ông xã ngồi nhìn bộ ấm sáng nhẵn trước mặt, đây chính là món đồ gốm cuối cùng ông tự tay làm.
Nhớ lại cái ngày ấy, xã quan vẫn chưa thôi bồi hồi. Vừa nhận tin con trai đậu tiến sĩ, ông lập tức cho chuẩn bị thuyền, đích thân ngược dòng Kinh Thầy sang tận Trúc Thôn vùng Chí Linh để lấy cho bằng được đất sét trắng ở đây. Phải là đất sét trắng ở Trúc Thôn thì ông xã quan mới vừa lòng, bởi đất sét nơi khác làm sao mà cho ra những món đồ gốm thượng phẩm được. Ông định bụng sẽ cùng cậu con trai của mình ăn bánh thưởng chè bằng bộ ấm này, hai cha con sẽ ngồi hàn huyên chuyện từ hồi cậu Trình còn bé xíu, rồi ông sẽ hỏi về mười năm ở Đông Kinh của cậu. Dù cậu Trình chẳng mấy khi nhắc đến, nhưng ông biết là mười năm ấy khó nhọc lắm chứ. Ông cất công đi lấy đất sét trắng, tự tay luyện đất rồi chuốt gốm. Khi đã ra hình ra dạng, đến đoạn vẽ gốm, ông đề bốn chữ ngay ngắn “quang tiền dụ hậu” (*) lên ấm chè, nổi bật cạnh những hoa văn tre trúc. Rồi đến khi tráng men hay nung gốm, ông cũng chẳng để ai khác đụng tay vào.
(*) quang tiền dụ hậu: làm rạng rỡ đời trước và để lại phúc đức, giàu sang cho đời sau.
Mẻ gốm ấy cũng là mẻ cuối cùng của lò gốm nhà ông xã quan. Kể từ ngày ấy, lò gốm đóng cửa, ánh lửa chẳng còn rực lên lần nào nữa. Ấy vậy mà đến khi Đặng Trình về lại ốm nặng, thế là bao nhiêu dự định của ông xã đều hỏng cả, từ võng lọng vinh quy đến ăn bánh thưởng chè, ông chẳng làm được cái nào cùng cậu. Bộ ấm ấy ông cũng chưa lần nào mang ra dùng, chỉ để chưng với mấy món đồ quý rồi lâu lâu đem ra lau chùi, nhất định dành đợi uống chè cùng con trai.
Đang vân vê dòng chữ trên ấm chè, bỗng thằng hầu nhà ông bà hớt hải từ sân chạy vào:
- Ông bà, ông bà ơi!
Nghe tiếng người hầu, bà xã quay sang, mặt nghiêm nghị nhưng vẫn hiền từ.
- Từ từ thôi, làm gì mà hớt hải như cháy nhà đến nơi thế?
Thằng hầu chắp tay khom người lạy ông bà Đặng Kiểm.
- Bẩm ông bà, cậu đã về đến đầu đình rồi ạ. Con Bếp nó thấy cậu ngoài cổng làng, cậu bảo nó chạy về báo lại với ông bà, dặn ông bà cứ ở nhà đợi, không cần ra đón cậu đâu ạ.
Ông xã quan đặt nhẹ chiếc ấm xuống, gương mặt mừng rỡ xen lẫn ngạc nhiên.
- Nhanh vậy đã đến nơi rồi sao? Theo thư nó gửi về thì phải 2 ngày nữa mới về chứ nhỉ.
Bà xã lúc này đã vội ra đến cửa, liền quay lại thúc giục chồng:
- Thầy còn đứng đấy làm gì, không nhanh nhanh đi ra đón con!
Ông Kiểm vẫn cố nán lại thu dọn bộ ấm chè, rồi mới cùng vợ đi ra cổng.
Đặng Trình lúc này đã đi qua đình làng, cậu đi thong dong không hề vội vàng, dáng đi có chút khoan khoái. Tâm Phúc cứ nhìn cậu, ngẫm nghĩ một lúc rồi lên tiếng.
- Lần này về hẳn là may mắn lắm đây!
Trình thu nét cười, quay sang nhìn Tâm Phúc.
- Con nói thế ý là sao?
Tâm Phúc hơi nghiêng đầu nhìn Đặng Trình, môi hơi mím lại, hít một hơi ra chiều như đang cân nhắc điều gì ghê gớm lắm.
- Dạ con chỉ nói bâng quơ vậy thôi, nào có ý gì đâu ạ.
Tâm Phúc nói không có ý gì vậy thôi, chứ Đặng Trình thì quá hiểu cái “ý gì” trong lời của nó.
- Con càng ngày càng không có trên có dưới đấy nhá! Có tin cậu trả con lại với ông bà không?
Tâm Phúc nghe xong thì cười hì hì. Trần đời chắc chỉ có duy nhất cặp chủ tớ như Đặng Trình và Tâm Phúc, thân thiết như người nhà. Nó vốn tên Đậu, bắt đầu hầu hạ Đặng Trình kể từ ngày lên kinh học hành. Bơ vơ một cõi nơi phồn hoa, Đặng Trình cũng chỉ có nó là người bầu bạn. Cứ thế, Đặng Trình cảm thấy thật gần gũi nên đặt lại tên cho nó là Tâm Phúc. Có mấy ai đi ở mà được cái tên đẹp như nó đâu! Nếu ở nơi riêng tư không có người khác, cả hai cũng chẳng nề hà mấy lễ nghi kẻ trên người dưới, cứ thân tình mà đối đãi nhau. Vậy nên bao nhiêu năm qua, Tâm Phúc là người duy nhất biết hết mọi tâm tư của Đặng Trình, ngay cả những tâm tư không thể để người khác biết, nó cũng đều tỏ cả.
Hai chủ tớ không nói gì thêm nữa, trong lòng Đặng Trình vẫn còn vương lại thanh âm trong trẻo vừa rồi… “Đưa cơm cho cha mẹ à?” - “Dạ?...Dạ, trưa nào ba chị em tôi cũng…”.
Cứ thế rồi cũng về đến nhà. Thấy ông bà xã quan đã đứng đợi ở cổng, Đặng Trình vội đi tới chắp tay cúi người chào cha mẹ.
- Thưa cha, thưa mẹ, con đã về ạ.
Bà xã mừng rỡ đưa hai tay lên vuốt má con.
- Mẹ xem, mẹ xem nào! Gầy đi nhiều rồi đấy. Việc công mệt mỏi lắm hả con? Ăn uống chẳng ra làm sao đúng không?
Nói rồi bà quay sang lườm Tâm Phúc:
- Mày chăm sóc cho cậu kiểu gì thế hả?
Tâm Phúc lúng túng, không biết phải làm thế nào bèn cúi đầu. Bà xã nhìn con một lượt thì thấy trên vạt áo có vết bẩn.
- Đi đường vất vả lắm đúng không con? Áo bẩn hết rồi. Vào nhà thay ra mẹ giặt cho.
- À không sao đâu mẹ ạ, không sao đâu. Mấy cái này cứ để Tâm Phúc làm là được rồi.
Ở bên cạnh, ông xã khẽ đằng hắng hai tiếng. Bà xã chợt nhớ ra, buông tay con, mắt nhìn con mà đầu hất về phía chồng.
- Sang chào cha đi con.
Đặng Trình đi đến trước mặt Đặng Kiểm.
- Cha, con về rồi ạ. Cha ở nhà vẫn khỏe chứ? Con có mua ít đồ ngon từ Đông Kinh về cho cha mẹ bồi bổ.
Ông Đặng Kiểm gật đầu, hai tay vẫn chắp sau lưng.
- Sao hôm nay đã về đến rồi? Cha tính như theo trong thư thì phải độ hai ngày nữa mới về tới.
- Dạ công việc giải quyết xong sớm, biên thư về cho cha mẹ thì cũng không kịp nên con về luôn.
Bà xã đi tới kéo tay Đặng Trình.
- Đừng đứng ở đây nữa, vào nhà thôi. Vào nhà tắm rửa nghỉ ngơi rồi ăn cơm.
Ông xã không bận tâm đến lời vợ, nói với Đặng Trình:
- Cùng cha đi tới chỗ này đã.
Bà xã ngạc nhiên:
- Thầy định đưa con đi đâu? Con vừa mới về, đường xa mệt mỏi. Thầy cứ cho con vào nghỉ ngơi đã, việc gì thì để làm sau cũng được.
Ông xã không nói thêm gì, chỉ nhìn Đặng Trình xem cậu quyết định thế nào. Đặng Trình nhìn cha, rồi nhìn mẹ cười.
- Để con đi cùng cha, mẹ cứ vào trước đi, xong việc con và cha sẽ về ăn cơm cùng mẹ.
Bà xã đành miễn cưỡng gật đầu.
- Đi nhanh về nhanh đấy, mẹ đợi.
Đặng Trình "dạ" một tiếng rồi quay sang nói với Tâm Phúc:
- Con vào sắp xếp đồ đạc đi, xong thì nghỉ ngơi một chút, không cần đi theo cậu với ông đâu.
Đặng Trình đi theo cha. Dù ông xã quan không nói là đi đâu và làm gì, nhưng trong lòng Đặng Trình tự hiểu rõ. Chẳng đi đâu và làm gì cả, ông xã quan chỉ muốn cậu đi một vòng quanh làng, để ai ai cũng biết rằng đứa con trai làm Trực giảng ở Quốc Tử giám của ông đã về. Nếu được, ông còn muốn Đặng Trình khoác lên quan phục mà đi để cả cái làng cái xã này được trông thấy chứ chẳng phải đơn giản thế này đâu. Cứ đi một lúc thì gặp người trong làng, xã quan lại nán lại nói ít câu, đa số đều là những lời khen ngợi tán thưởng với Đặng Trình. Mỗi lần như vậy, cậu chỉ biết lén bấu tay thật chặt, cố gắng giữ hơi thở đều đều và nở một nụ cười vừa đủ rồi đáp xã giao vài câu.
Trưa tháng tư, tiết trời đương độ giao mùa từ xuân sang hè. Năm nay mưa muộn, đã gần hết tháng mà vẫn chưa có trận mưa nào, thành thử cả làng đều đổ nhau đi tưới cho lúa ngậm đủ nước còn đợi ngày thu hoạch. Ba chị em Đoan tới đúng lúc ông bà Ất vừa ngơi tay, đương ngồi nghỉ mát dưới gốc cây gạo gần đó. Mùa này hoa gạo đã rụng tàn gần hết, chỉ còn vương lại vài chùm hoa đỏ thưa thớt trên cây. Đoan lấy trong quang gánh mấy cái lá chuối đã cắt sẵn, trải mỗi người một lá để lót ngồi rồi bày biện cơm nước. Bữa cơm nhà ông Ất ngày thường vốn đã đạm bạc, nay còn đương giáp hạt (*), nên thức ăn lại càng nghèo nàn. Một niêu cơm, trông kỹ còn có thể thấy đôi ba hạt bị mốc vo chưa hết, một đĩa cà pháo muối nguyên quả và một bát canh rau. Ăn cà pháo là phải có bát canh mới ngon, cũng chẳng biết ai đã dạy thế, nhưng Đoan thấy đúng là thế thật. Cứ hôm nào ăn cà pháo là cô lại phải nấu một bát canh to. Mà cũng phải, cà pháo muối để cả năm trời, dành chờ những ngày giáp hạt hay mất mùa đói kém còn có cái mà ăn, mặn đắng còn hơn cả muối, một trái cà pháo có khi ăn được cả hai bát cơm, húp thêm bát canh điều vị thì cũng chẳng thua gì mỹ vị dân gian! Bụng vốn đang đói, Đoan nghĩ thế rồi lại mong đợi được cắn miếng cà pháo giòn rụm, và miếng cơm, rồi húp miếng canh xì xụp.
(*) Có thể hiểu là thời điểm khi thóc lúa, lương thực dự trữ của vụ mùa trước đã dần hết mà mùa mới vẫn chưa thu hoạch. Vào những ngày giáp hạt, nhà nông thường rất đói.
Thông tục từ xưa, trước khi ăn cơm là bậc vãn bối phải mời cơm người lớn, dù là nhà trâm anh thế phiệt hay chỉ là gia đình nông phu thì cũng không được bỏ qua tục này. Nhà nào con cái ăn cơm mà không mời cha mẹ, bậc em út không mời anh chị, thì ai ai cũng chê cười. Chê cười đứa con không biết trên dưới, cũng chê cười cả cha mẹ không biết dạy con, để cho thành cá mè một lứa. Là chị cả, Đoan lần nào cũng mời đầu tiên.
- Con mời cha mẹ ăn cơm, hai đứa ăn cơm nhé.
Tiếp đến thì Hạnh và Xuyến cũng lần lượt mời cơm. Đến khi nghe được bốn chữ “cả nhà ăn đi” cùng hành động gắp thức ăn của ông Ất, cả nhà mới bắt đầu đụng đũa.
Vừa cắn quả cà pháo “rộp” một cái, như nghĩ ra chuyện gì, Đoan liền nhai vội miếng cà, hạ bát đũa xuống, chỉ vào hai em mà “mách tội” với cha mẹ.
- Cha mẹ xem sao chứ hai cái đứa này là con không nói nổi nữa đâu!