Cậu không muốn đến Đông Kinh
Cái nóng của buổi trưa mùa hè làm lớp học vốn chật chội của thầy giáo Tuyên càng thêm bí bách oi ả. Thầy ngồi trên phản, lấy tay áo chấm mồ hôi trên trán rồi nhìn xuống đám học trò đứa thì phẩy tay làm quạt, đứa thì khoát khoát cổ áo để làm dịu đi cơn nóng. Thầy Tuyên hiền lành mà nghiêm nghị:
- Luận Ngữ có viết: “quân tử dụ ư nghĩa, tiểu nhân dụ ư lợi”. Nhưng đạo nghĩa trong lòng mỗi người lại không giống nhau, và cũng không dễ mà tìm ra được cái đạo ấy. Ở tuổi của các trò, thầy không cầu các trò có được đạo nghĩa, mà chỉ cần muốn đi tìm cái đạo ấy, vậy là được rồi.
Nghe thầy hỏi, đám học trò đang mất tập trung vì nóng liền im lặng ra vẻ suy nghĩ. Bỗng một đứa trẻ khoảng độ 10 tuổi đứng dậy, cúi người chắp tay vái thầy rồi nói:
- Thưa thầy, quân tử, hay đại trượng phu, phải là một đấng trung quân ái quốc. Muốn được như vậy phải ngày ngày mài mực luyện chữ học hành thành tài để một ngày có thể ra sức phò vua giúp nước.
Thầy giáo Tuyên gật gù:
- Tốt, tốt lắm. Trò còn nhỏ mà đã có chí lớn như vậy quả thực đáng quý. Phò vua giúp nước, đúng vậy. Thầy mong trò sẽ luôn giữ cái đạo ấy trong lòng.
Một cậu học trò khác trạc tuổi hơi nheo mắt nghiêng đầu, nhìn thầy giáo rồi lại nhìn sang cậu học trò vừa trả lời kia, ra vẻ đăm chiêu suy nghĩ. Thầy giáo Tuyên thấy vậy, liền hỏi:
- Này Đặng Trình, ta thấy trò như đang suy nghĩ điều gì. Có phải trò cũng có suy nghĩ nào không? Ta muốn nghe.
Cậu bé Đặng Trình đĩnh đạc đứng dậy, cúi người chắp tay vái thầy đồ rồi trả lời.
- Thưa thầy, về câu hỏi thế nào là quân tử, và đạo nghĩa của bậc quân tử là gì, học trò tự thấy bản thân còn nhỏ bé, chưa dám trả lời và cũng không biết thế nào mà trả lời. Chỉ là ban nãy thầy và đồng môn có nhắc đến “phò vua giúp nước”, học trò có một thắc mắc không biết phải gỡ giải thế nào.
- Có điều gì trò cứ hỏi.
Cậu bé Đặng Trình kính cẩn chắp tay, rồi thẳng lưng ngẩng đầu.
- Thưa thầy, ta nhắc đến phò vua giúp nước, nhưng thế nào là phò vua, thế nào là giúp nước?
Đám trẻ xôn xao. Đặng Trình tiếp lời:
- Thưa thầy, phải chăng chỉ khi đỗ đạt làm quan, liệu sự triều chính mới là phò vua, hay làm tướng sĩ sa trường, cầm đao chém giặc mới là giúp nước? Nếu thực là như thế, trong vô vàn năm tháng của lịch sử, có mấy người thực sự là đấng anh kiệt? Không lẽ tìm trong cả thiên hạ, chỉ cần không phải là người làm quan, thì không có lấy một người nào là đại trượng phu hay sao?
Thầy giáo thoáng kinh ngạc.
- Đặng Trình…trò…trò muốn nói gì?
- Thưa thầy, học trò chỉ không hiểu, nếu một người biết tu thân, làm tốt việc của mình, không gây ra phiền toái cho người khác, không làm thiên hạ bất ổn, như vậy có phải là phò vua hay không? Nếu người đó còn yêu thương nhân loại, ban phúc giúp đời, ấy có phải là giúp nước hay không? Tề gia, trị quốc, bình thiên hạ, cuối cùng há chẳng phải là để thiên hạ thái bình, dân chúng ấm no hay sao? Mà cả ba điều ấy đều lấy tu thân làm gốc, vậy tu thân chẳng phải cũng là đang phò vua giúp nước đó ư?
Đám trẻ im bặt. Đặng Trình lại chắp tay với thầy giáo Tuyên:
- Thưa thầy, thầy có kiến thức uyên thâm, thấu tỏ lễ nghĩa, dân chúng trong làng Chu Đậu này ai ai cũng nể trọng. Thầy cho chúng học trò con chữ, dạy chúng con đạo lý làm người. Học trò một lòng kính trọng thầy, dù thầy rời xa thế sự, chưa từng bước chân vào chốn quan trường, nhưng trong lòng học trò thầy chính là một bậc quân tử.
Đám trẻ lại xôn xao. Thầy giáo Tuyên xúc động nhìn Đặng Trình rồi lại nhìn xuống hai bàn tay run run đang nắm chặt trang sách trên bàn. Thầy nhớ lại những ngày sau khi trúng cách kỳ thi Hội, chứng kiến cảnh nhũng nhiễu của quan lại, quyết định không dự kỳ thi Đình để dấn thân vào con đường làm quan nữa. Ngày ấy, khi trở về quê nhà, không một ai nói thầy đã làm đúng, thậm chí người trong làng còn kháo nhau rằng thầy vốn chẳng hề đỗ đạt, chỉ lấy cớ như vậy cho đỡ xấu hổ mà thôi. Chẳng vậy mà sau khi cha mẹ qua đời, thầy giáo Tuyên cũng chẳng còn vấn vương làng cũ mà chu du khắp nơi, rồi dừng chân ở cái làng Chu Đậu nhỏ bé này.
…
Nhà ông xã quan Đặng Kiểm trú ở làng Chu Đậu. Ngôi nhà rộng lớn, cổng bằng gỗ lim được sơn một lớp son càng bật lên vẻ bề thế và quyền quý của chủ nhà. Thầy giáo Tuyên đứng đó, hai tay chắp ở sau lưng, đang đăm chiêu nghĩ ngợi thì xã quan Đặng Kiểm bước tới, dáng vẻ vội vàng, chắp tay cúi người trước thầy giáo Tuyên:
- Thưa thầy, thầy đến nhà tôi thế này là quý hóa quá. Mời thầy vào nhà xơi nước ạ.
Thầy giáo chắp tay đáp lễ:
- Cảm ơn xã quan đã có lòng, nhưng tôi có vài điều can hệ đến cậu Đặng Trình muốn nói với anh, nói xong tôi sẽ đi ngay.
Xã quan Đặng Kiểm ngạc nhiên, thoáng nét lo lắng:
- Thưa thầy, không biết cháu nhà tôi đã gây ra điều gì khiến thầy phiền lòng phải đến tận đây để quở trách ạ?
Thầy giáo Tuyên xua xua tay:
- Ấy ấy không phải như vậy đâu… Thôi, tôi nói thẳng nhé. Cậu Đặng Trình là con trai xã quan đây, cũng là học trò của tôi được mấy năm rồi. Từ ngày đầu dạy vỡ lòng cho thằng bé, tôi đã biết nó là đứa sáng dạ, giảng giải điều gì nó cũng đều thấu tỏ. Chỉ là…
Xã quan sốt sắng:
- Mời thầy cứ nói thẳng, tôi sẽ bảo ban cháu ạ.
Thầy đồ lưỡng lự một lát rồi nói:
- Thằng bé luôn có những suy nghĩ rất riêng. Học trò sáng dạ, lý giải theo chiều hướng mới tôi đã gặp nhiều rồi, nhưng suy nghĩ riêng như Đặng Trình… nói thật đây là lần đầu tiên. Để nói về thằng bé, tôi không biết là nên nói nó có chí lớn, hay là không có chí lớn nữa. Cảm giác như nói thế nào cũng đúng, mà nói thế nào cũng không đúng! Nếu nói suy nghĩ của thằng bé rất đặc biệt, rất có lý, trong lòng có thiên hạ thì cũng đúng, nhưng nếu lý giải theo cổ nhân thì lại không đúng…
Đặng Kiểm lặng người, mặt đanh lại. Thầy giáo Tuyên nói tiếp:
- Thằng bé Đặng Trình, sau này sẽ làm nên chuyện lớn. Nhưng còn phải xem nó cho rằng thế nào là chuyện lớn…
Ông xã quan Đặng Kiểm vốn cũng là người đọc sách, nhưng lại chẳng có duyên đỗ đạt làm quan. Nhờ biết được nhiều chữ, lại là con nhà phú hộ nên được làm đến cái chức cao nhất của một xã. Vợ chồng ông xã quan hiếm con, cưới nhau về tận mười năm mới sinh được Đặng Trình. May mà bà xã cuối cùng cũng sinh được con, chứ không thì họ Đặng sẽ ép ông xã bỏ lấy bà mà cưới người khác mất, không thì ít nhất cũng sẽ cưới thêm vợ lẽ. Trộm vía cậu Đặng Trình từ nhỏ đã khôi ngô lại thông minh, ai ai cũng yêu quý. Ông xã quan thì lại khỏi phải nói, thấy con trai từ nhỏ đã tỏ rõ là đứa sáng dạ, từ lúc cậu Đặng Trình còn bé xíu đã được ông mua cho bao nhiêu là sách thánh hiền, rồi cho theo học thầy giáo Tuyên, chưa hề lỡ một buổi học nào. Chỉ cần là việc học, cái gì ông Đặng Kiểm cũng không tiếc, chỉ mong con trai có thể đi con đường mà cả đời ông đã chẳng thể đi được, coi như là thay cha thực hiện tâm nguyện vậy.
Ấy vậy mà hôm nay phải nghe thầy Tuyên nói như vậy, ông xã nào chịu được cơ chứ? Đứa con trai của ông, niềm hy vọng duy nhất của ông, hôm nay lại bị thầy giáo bảo là “không biết có chí lớn hay là không”? Nghe thầy giáo Tuyên nói như vậy, ông xã đinh ninh chắc nịch là thằng bé này dám cãi thầy, do thầy nể mặt ông nên mới không trách thẳng. Rõ ràng Đặng Trình là đứa bé ngoan, không những ngoan lại còn thông minh, hơn hẳn những đứa trẻ khác trạc tuổi. Con đường đèn sách dẫu gian nan nhưng ông luôn có niềm tin rằng con trai mình sẽ có ngày thành tài. Đúng vậy, con trai của ông nhất định phải làm quan, không những làm quan mà còn phải là quan triều đình chứ chẳng phải là chức quan địa phương bé xíu có tiền là được như ông. Ông cứ nghĩ mãi, nghĩ mãi, rồi cuối cùng thầm đưa ra một quyết định...
Bữa cơm nhà xã quan Đặng Kiểm vẫn luôn đầy đủ như vậy, một đĩa cá, một đĩa thịt xào với đậu đũa và một bát canh bầu. Những nhà trung lưu khác nếu đã có cá thì khỏi thịt, có thịt thì thôi cá. Mấy hộ nông dân lại càng khỏi phải nói, chỉ cơm với rau luộc, bữa nào sang thì có thêm bát muối lạc vừng, còn lại thì phải đợi ngày Tết hay cỗ đám mới có miếng thịt mà ăn. Bữa cơm đầy đủ thịnh soạn là thế, ấy vậy mà xã quan vẫn chưa đụng đũa nào, chỉ ngồi im không nói gì. Nhà lấy gia chủ làm gốc, xã quan chưa đụng đũa nên bà xã và Đặng Trình chỉ biết đăm đăm ngồi nhìn mâm cơm trước mặt. Bà xã quan nhận ra không khí có gì khác lạ, hết nhìn chồng rồi lại nhìn sang con trai. Cậu bé Đặng Trình cũng không biết chuyện gì, nhưng cậu thừa sức cảm nhận được tình hình căng thẳng này. Dù sao thì từ bé cậu cũng đã luôn sống trong căng thẳng như thế.
Cứ vậy, rồi xã quan bỗng cất tiếng giữa bầu không khí căng thẳng, giọng bình thản nhưng có chút gằn.
- Cha mẹ sẽ gửi con lên kinh thành học. Ở đó có thầy giỏi, cũng có con cái nhiều nhà quyền quý làm đồng môn, ắt con sẽ học được nhiều thứ tinh hoa hơn.
Bà xã sửng sốt quay sang nhìn chồng:
- Kìa thầy, đang yên đang lành sao thầy lại nói thế? Con nó còn nhỏ thế này, lên kinh một mình rồi lấy ai chăm sóc?
- Đàn ông con trai, không thể cứ bao bọc mãi được. Cho nó tự lập đi.
Đặng Trình ngẩng đầu nhìn cha:
- Thưa cha, sao bỗng dưng cha lại muốn gửi con lên kinh ạ? Con học với thầy vẫn đang rất tốt, con không nghĩ là cần phải lên kinh…
- Rất tốt? Con có biết hôm nay thầy con nói với cha những gì không? Cha mẹ cho con đi học, là để tiếp thu điều hay ý tốt mà thầy dạy, chứ không phải là cãi thầy làm xấu mặt gia đình!
Bà xã hoang mang nhìn xã quan rồi lại nhìn Đặng Trình, giọng hơi lạc đi:
- Rốt cuộc là đã có chuyện gì? Sao tự dưng thầy lại như thế, sao thầy không bàn bạc trước với em?
Đặng Trình ngồi im, nhìn cha rồi nói:
- Thưa cha, con chưa từng cãi thầy…
Câu nói còn chưa dứt đã bị cắt ngang bởi tiếng đập bàn đầy tức giận của xã quan:
- Im ngay! Bây giờ con dám cãi cả cha đúng không?
- Con… Bà xã vươn sang níu tay xã quan, giọng xoa dịu:
- Thầy đừng lớn tiếng như thế, con còn nhỏ, có gì từ từ nói.
Xã quan dịu giọng:
- Không nói nhiều nữa, tháng sau lên đường. Cha mẹ sẽ cho người sắp xếp chỗ ở và người hầu hạ cho con. Không phải ai cũng được lên kinh thành theo thầy học tập đâu, đã lên được đến đó rồi thì lo tu thân học hành cho đàng hoàng!
Nói rồi xã quan đứng dậy bỏ đi. Bà xã vội đứng dậy, nhìn Đặng Trình định nói gì đó rồi lại thôi, chạy theo xã quan. Đặng Trình nhìn theo cha mẹ rồi ngây người, mắt ngấn lệ, cuối cùng buồn tủi nói ra một câu lí nhí trong cổ:
- Nhưng con thực sự không muốn…
Sinh ra trong một gia đình gia giáo, từ nhỏ Đặng Trình đã được dạy dỗ nghiêm khắc, chưa lần nào dám cãi lời cha mẹ. Cha mẹ bảo cậu thế nào, cậu tuyệt đối không làm trái lời. Cũng như lần này đây, cha gửi cậu lên kinh tu chí học tập, cậu biết mình nhất định sẽ tu chí, nhất định phải đỗ đạt đúng với kỳ vọng của cha mẹ. Nhưng đó có thực sự là điều mà cậu muốn không? Có lẽ là có. Có nam tử nào lại không muốn có con đường công danh rạng rỡ đâu! Cậu bé Trình năm ấy 10 tuổi cũng không hiểu tại sao mình lại buồn, có lẽ vì phải xa cha mẹ, xa quê hương xóm làng chăng? Hẳn là như vậy rồi. Nhưng ngoài nỗi buồn xa nhà, vẫn còn một nỗi niềm nào đó mà ngay đến bản thân cậu cũng không hiểu. Cậu không biết mình vướng bận điều gì, cũng không biết mình thực sự muốn điều gì. Phải rồi. Cậu bé Đặng Trình không biết mình muốn gì, nhưng có một điều mà cậu rất rõ, cậu biết rõ bản thân không muốn điều gì.
Cậu không muốn đến Đông Kinh.
…
Ngựa xe đã sẵn sàng. Xã quan đứng nghiêm nghị, tay chắp sau lưng nhìn Đặng Trình. Bà xã hốc mắt đỏ hoe. Đặng Trình cúi lạy cha mẹ.
- Lạy cha, lạy mẹ, con lên kinh chuyến này để tu chí học hành, không thể thường xuyên ở cạnh cha mẹ. Mong cha mẹ giữ gìn sức khỏe, chớ lo nghĩ nhiều cho con. Ở kinh thành con có người hầu hạ, cũng sẽ tự biết chăm sóc bản thân mình, con chỉ nặng lòng ở cha mẹ.
Bà xã không kìm được, khóc đến lạc cả giọng đi.
- Đường đi xa xôi hiểm trở, con nhớ phải cẩn thận. Lạnh thì mặc thêm áo, có việc gì cứ sai gia nô làm.
Xã quan đằng hắng một tiếng. Rõ ràng là không nỡ nhưng vẫn làm ra giọng điệu nghiêm khắc.
- Lên đến kinh thành nhớ phải chăm chỉ đèn sách, kính thầy yêu bạn. Ta chờ con làm rạng danh gia tộc.
Đặng Trình chắp tay cúi người.
- Con sẽ nhớ kỹ lời cha dặn. Thưa cha, thưa mẹ, con đi.
Bà xã bước lên ôm chặt lấy Đặng Trình mà khóc.
- Nhớ thường xuyên gửi thư về cho cha mẹ, có biết chưa? Học hành vất vả nhưng phải ăn uống đầy đủ, gặp chuyện gì thì phải báo cho cha mẹ liền.
- Thưa, con biết rồi.
Nói rồi Đặng Trình buông tay, bước lên xe ngựa. Bà xã chạy theo, nói vọng:
- Nhớ thường xuyên viết thư gửi cho cha mẹ đỡ trông nhớ chưa!
Vậy là, năm Thiệu Bình thứ tư (1437), cậu bé Đặng Trình khi ấy mới mười tuổi, mang theo nỗi lòng nặng trĩu một mình lên Đông Kinh theo đuổi nghiệp đèn sách. Chờ đợi cậu là thử thách gian nan, cũng là tương lai xán lạn. Nhưng điều cậu chờ đợi là gì, không ai biết, ngay cả cậu lúc ấy, cũng không hề hay biết…