Chương 5: Để Trâu Ăn Lúa
Bóng lưng Tuân thẳng tắp, cậu bước một mạch ra ngoài không ngoái đầu lại. Đằng sau, con Đào xoa xoa trán, ngẩng đầu nhìn, hình như… hình như cậu đang giận dỗi hay sao ý. “Thôi kệ! Chắc do vừa nãy cậu đọc thơ xong mình quên khen.” Đào suy đoán lí do rồi quẳng ra sau đầu, tiếp tục nhóm lửa nấu cơm. “Ông về rồi, phải nhanh dọn cơm kẻo cậu đói. Xót chết đi được!” Ngoài cổng, ông Tài đi trước, phía sau là thằng hầu ôm mấy quyển sách lẽo đẽo chạy theo. Thân hình của phú ông mập mạp nhưng bước chân nhanh nhẹn, một bước của ông bằng hai bước của thằng hầu. Bầu không khí quanh người ông Tài có chút đè nén, hình như ông đang tức giận, bởi vì gương mặt thường ngày hay cười hiền của ông nay lại sa sầm, u ám. Chẳng biết có chuyện gì đã xảy ra? “Con chào thầy, thầy mới đi họp về đấy à? Hôm nay ngoài đình có việc gì mà thầy họp từ sáng sớm đến giữa trưa thế?” Tuân chào ông. Cậu đứng đợi thầy được một lúc rồi. Đôi mày cau chặt của ông Tài dãn ra một chút khi nhìn thấy cậu, ông lắc đầu, thở dài: “Chán lắm anh Tuân ạ! Lại tăng tô thuế[1] rồi. Tăng thế này có mà chết dân.” Nhắc đến việc này ông lại tức, thở dài thườn thượt mấy hơi, biểu cảm ngán ngẩm, chán chả buồn nói. Nghe ông nói thế, cậu nhíu mày, lòng thấy buồn nhưng vẫn mở miệng an ủi: “Thầy vào nhà nghỉ ngơi chốc lát cho mát đi ạ. Cơm nước chuẩn bị xong hết rồi, thầy bực tức làm gì cho hại thân, lát nữa con với thầy bàn chuyện này sau.” “Ai ôi!” Ông Tài cảm thán. “Đành phải thế chứ biết làm gì khác bây giờ. Triều đình đã có lệnh thì phải chấp hành. Thầy thương là thương cho phận người làm thuê kia kìa. Ăn còn chẳng đủ no, tiền đâu mà tô với thuế?” Vào trong nhà, ông Tài ngồi phịch xuống ghế, trông ông có vẻ mệt mỏi, não nề. Cậu Tuân nhanh tay rót cho ông chén trà, thưa: “Thầy uống chén trà hạ hoả.” Ông Tài gật đầu, cầm chén trà lên uống một hớp hết sạch. Vị trà xanh mát, có chút đắng nhẹ nơi cuống họng giúp xoa dịu tâm trạng nóng nảy của ông. Thấy ông Tài uống hết chén trà, cậuTuân ngồi ghế đối diện đứng dậy rót thêm một chén nữa. Đợi ông nguôi ngoai rồi mới hỏi chuyện. “Thế cụ thể triều đình năm nay tăng thuế thế nào hả thầy?” Giọng cậu nhẹ, thanh, dễ chịu. “Anh có biết thuế trước khi tăng là bao nhiêu không? Nói thầy nghe.” Ông Tài không trả lời mà hỏi ngược lại. Ông muốn xem con mình mấy năm theo học thầy giỏi trên kinh có tiến bộ, có quan tâm đến tình hình nước nhà xã tắc hay không. “Dạ bẩm thầy, ngày trước triều đình tính thuế dựa theo số ruộng của mỗi người, mỗi mẫu ruộng thu 5 thăng[2] thóc; người không có ruộng được miễn thuế này; còn nông dân canh tác thuê cho làng xã thì phải nộp thuế địa tô[3], thuế này thay đổi khác nhau tuỳ chủ sở hữu.” Ông Tài gật đầu tán thưởng, khen: “Giỏi! Vậy anh Tuân có biết thuế bây giờ tăng lên bao nhiêu rồi không?” Ông hỏi nhưng chẳng đợi cậu trả lời, đáp tiếp: “Từ mỗi mẫu ruộng thu 5 thăng thóc tăng lên mỗi mẫu thu 7 thăng thóc. Anh nói xem có chấp nhận được không?” Đứng trước câu hỏi này, cậu khựng lại thoáng chốc, suy nghĩ kĩ rồi mới trả lời: “Triều đình tăng thu thuế từ 5 thăng thóc lên thành 7 thăng thóc nói lớn không lớn, nói nhỏ không nhỏ. Theo con, đối với các nông hộ có ruộng đất, tự canh tác thì khoản thuế này có thể chấp nhận được, coi như mỗi vụ bỏ ra thêm chút thóc, không đáng kể. Còn đối với những người phải thuê đất canh tác lại là vấn đề lớn, chuyện nộp tô không phải là chuyện nhỏ.” Nhắc đến tô, cậu khựng người, trầm ngâm. “Thầy ạ, con nghĩ khoản thuế thay đổi này đối tượng nhắm đến là tầng lớp địa chủ.” “Mà thuế còn thay đổi gì nữa không thầy, nếu chỉ có thế thầy không thể tức giận như thế này được.” Ông Tài vỗ đùi: “Anh đúng là hiểu thầy! Từ ngày mười lăm tháng này chính thức áp dụng khung thuế mới, người không có ruộng cũng phải nộp thuế, thu mỗi nhà 5 đồng. Nghe có vô lý không chứ?” “Chưa hết, như anh nói mỗi nhà bớt chút gạo nộp thuế. Đó là người có ít ruộng, không đáng nói, chứ nhà mình có 234 mẫu ruộng, anh tính xem thuế nhà ta phải nộp mỗi vụ là bao nhiêu?” “Dạ bẩm thầy, nếu thu 7 thăng thóc trên một mẫu thì nhà ta phải nộp 1.638 thăng thóc, tương đương với 126 phương gạo[4].” Cậu cúi đầu tính nhẩm chốc lát rồi cho ra đáp án. “Đấy anh thấy chưa? Nhà ta từ vụ sau phải nộp thêm 468 thăng thóc nữa. Vậy anh nói xem nhà ta nên tăng tô thế nào cho phải?” Ông Tài nhìn chăm chú vào gương mặt thanh tú của con trai, hỏi dồn. Tuân đăm chiêu, cậu hiểu được cái khó của thầy mình. Thầy cậu nổi tiếng nhân hậu, hiền lành, tuy già sang , có của ăn của để, nhưng ông không có cái tính khinh thường người dưới, chẳng coi thường kẻ hầu người hạ bao giờ. Nhà nhiều ruộng nên cho nông dân mượn 150 mẫu ruộng canh tác, mỗi vụ chỉ thu 1 trên 10 phần sản lượng, từ số thóc lúa thu được đó trích một phần ra đóng thuế, còn dư nhà giữ lại. Thu thế đã là nhẹ nhất so với mấy địa chủ khác quanh vùng. Cậu suy nghĩ rồi nói: “Bẩm thầy, mùa vụ có mùa được có mùa mất, nông dân cày đất trồng lúa chẳng được bao nhiêu. Tất cả kế sinh nhai đều trông chờ vào hạt thóc. Thôi con có ý kiến thế này, năm lúa được mùa thì thu tô bằng 2 phần 10 sản lượng, còn năm mất mùa nhà ta vẫn thu thuế như cũ. Ý thầy thế nào?” Ông Tài sửng sốt, giơ tay đập bàn, quát lớn: “Anh nói như thế, anh có tính đến những năm mất mùa nhà ta phải chịu thuế nhiều hơn không? Nhà ta hiện đang thu tô thấp nhất vùng, anh có biết địa chủ Lý ở thôn bên cạnh thu 5 trên phần 10 sản lượng thóc không hả?” Cậu giật mình, không nghĩ thầy phản ứng lớn thế, càng bất ngờ hơn là hiếm khi ông cáu gắt với mình. Tuy vậy, khoảnh khắc giật mình cũng chỉ diễn ra trong chốc lát, cậu nhanh chóng lấy lại bình tĩnh, thưa bằng giọng nhẹ nhàng, bình tĩnh, nhưng tông trầm xuống, câu chữ rõ ràng: “Thầy hỏi thì con nêu ý vậy. Nhà ta đâu phải chỉ thu tiền từ thóc, ngoài ra còn buôn bán nữa nên không nhất thiết phải ép người nông dân đến đường cùng. Bởi vì họ có phải chịu mỗi thuế ruộng đâu, còn thuế thân, thuế lao dịch, và đủ loại thuế khác nữa. Thế nên, ý con vẫn thế, nghe hay không là ở thầy.” “Bộp!” Ông Tài vỗ bàn thêm một cái nữa, ông vỗ mạnh đến nỗi chén trà rung lắc, nước trào ra ngoài, ông bất ngờ cười lớn, sắc mặt vui mừng. “Ha ha ha, may nhờ có anh, thầy đang đau đầu vì chuyện này đây, không biết có nên tăng thuế hay không. Tăng thì mình nhẹ gánh nhưng nặng lòng, mà không tăng thì điêu đứng. Ha ha, kế sách của anh vẹn cả đôi đường, được! Giỏi!” Tuân nghe thế thì cười, đôi môi phớt hồng nhếch lên cao, cơ thể thả lỏng, cậu tưởng đâu ý thầy muốn tăng địa tô đâm ra có chút lo lắng. “Có chuyện gì mà hai bố con nói cười vui vẻ thế?” Tiếng bà Trà vọng từ trong buồng, bà bước ra phòng khách, mắt vẫn còn nhập nhèm, bà đợi ông về nên ngủ quên lúc nào không hay. “Mình à, tôi đang bàn với con về việc triều đình tăng thuế. Chán lắm bà ạ!” “Thế à? Lại tăng à?” Giọng bà Trà trầm xuống, không vui, cơn ngái ngủ bay biến. Bà hỏi tiếp: “Vậy ông và con bàn xong chưa? Để tôi gọi con Đào dọn cơm lên, muộn rồi, quá giờ ngọ[4] rồi.” “Dạ thưa u, bàn xong rồi ạ.” Tuân trả lời. Bà Trà gật đầu, bước ra ngoài hiên, hô: “Đào ơi, mày dọn cơm lên nhà cho ông ăn, nhanh lên nhá.” “Dạ, con biết rồi ạ.” Con Đào dưới bếp thò đầu đáp một câu rồi nhanh nhẹn bê mâm cơm đã chuẩn bị từ lúc thấy ông và cậu vào nhà, đi thẳng lên nhà trên. … Trưa nắng gắt, cuối giờ ngọ, con Đào đang nằm trên võng tre thiu thiu ngủ, nó úp chiếc nón mê lên mặt, che đi những tia nắng xuyên qua tán lá cây chiếu xuống. Gió nhẹ nhàng đưa đẩy chiếc võng, tựa như có bàn tay ai dịu dàng mơn trớn mái tóc mềm của Đào, làn tóc mây đong đưa nhẹ nhàng, toả hương bồ kết thơm ngát. Bỗng, có tiếng chó sủa vài tiếng hậm hực bên nhà hàng xóm, đánh thức Đào khỏi cơn ngủ mê. Nó bật dậy làm chiếc nón mê rơi xuống đất. Đào đưa tay dụi mắt, đôi mắt to tròn vẫn còn mơ màng. Nó ngồi im trên võng, đợi khoảng nửa khắc[5] sau mới cúi người nhặt nón lá dưới đất đội lên đầu, đi ra ngoài sân đá thóc. Trước mặt là một sân đầy thóc, vàng rực. Đào sắn ống quần. Nó đá thóc từ đầu sân này sang đầu sân kia, đá theo chiều dọc của sân, chả mấy chốc đã xong. Lại đợi thêm khoảng hai khắc nữa, khi thóc đã khô mặt trên, nó đá thêm một lần nữa theo chiều ngang để lật thóc. Giữa trưa nắng gắt, một mình con Đào mắc võng dưới gốc cây nằm trông thóc khỏi đám chim chóc và đám gà. Ông bà và cậu đang ngủ trưa, còn anh chị đi gặt từ sáng sớm mới về nên mệt, nó đành nhận việc phơi thóc này. Chỉ có một thân một mình nên đâm ra chán. Đào tích cực đuổi đám chim sẻ trộm thóc và đàn gà nhà nuôi. Không có người dám sát nhưng nó chăm chỉ lắm. Chốc chốc lại dùng bồ cào[6] tạo luống, rồi lại dùng chang cào[7] cào thóc. Một sân thóc to đùng dưới bàn tay của Đào đâu ra đấy, gọn gàng, sạch sẽ, chờ ngày đủ nắng là có thể cho vào bồ[8] cất đi. Thấm thoát, một canh giờ[9] nữa trôi qua, Đào nhìn trời, tính nhẩm, nó đoán ông bà và cậu đã dậy, cũng đã đến giờ nó phải đi chăn trâu với anh Cử. “Đào ơi, cho trâu ra đồng thôi kẻo muộn, đi muộn trâu ăn không no về bà trách đấy.” Là thằng Cử, nó đứng ngoài cổng, trên tay cầm dây thừng buộc con trâu đầu đàn. Phía sau là mấy chục con trâu nữa, cả trâu cả nghé có đủ cả. “Dạ, em ra ngay đây.” Chạy được mấy bước con Đào dừng lại. “Anh Cử đợi em chạy vào gọi chị Mây ra trông thóc đã, bỏ ở đây sợ chim với gà ăn hết.” “Thôi không cần đâu, trước khi ra đây anh vừa gọi rồi. Mình đi thôi Đào.” “Ơ dạ.” Đào nhanh chân chạy ra chỗ thằng Cử. Nó để thằng Cử đi trước dẫn đường, còn mình đi đằng sau quan sát đàn trâu. Trên con đường làng đất đỏ, hai đứa hầu nhà ông Tài cùng đàn trâu hơn bốn mươi con đi lững thững giữa đường. Gặp người thì chào hỏi một câu rồi cho đàn trâu dạt vào nề để nhường đường. “Chào cô Tươi, cô gánh sắn đi đâu thế?” Thằng Cử hỏi người đàn bà áo nâu đi ngược hướng. “Năm nay sắn nhà cô được mùa ghê nhỉ.” “Cháu chào cô.” Đào cũng nhanh nhảu chào. Cô Tươi hớn hở, gật đầu đáp lại: “Anh Cử với Đào cho trâu ra đồng đấy à? Tôi gánh sắn sang biếu u. Năm nay được mùa nên mang sang đỡ thầy u một tí.” Hai bên chỉ chào hỏi qua lại vài câu rồi lướt qua nhau. Thằng Cử và Con Đào cho đàn trâu ra đồng. Trước mắt là cánh đồng lúa chín vàng đang gặt dở, hương lúa chín thơm ngọt hoà quyện với hương cỏ đồng nội khiến Đào mê mẩn, nó hít mấy hơi thật sâu, mắt híp lại, bật thốt: “Ôi! Thoải mái quá!” Thằng Cử đi trước nghe câu được câu không, quay đầu hỏi: “Ơi, Đào vừa bảo gì thế?” Đào giật mình, mở mắt: “Dạ không có gì đâu ạ. Hầu như ngày nào em cũng ra đồng mà lần nào cũng thấy lòng xao xuyến khó tả sao ấy.” Cử không đáp, nó cũng thấy thế, cánh đồng làng khiến lòng nó bình yên đến lạ. Nó dõi mắt về phía xa, hình ảnh phản chiếu trong con ngươi là cánh đồng lúa chín vàng, rực rỡ, quen thuộc, và thân thương. Xa xa, có mấy bóng người đang làm đồng, có người gặt lúa, bóng nón trắng nhấp nhô trong ruộng lúa vàng; lại có người cuốc ruộng trồng hoa màu, xách nước tưới rau, mặt ai cũng rạng rỡ, tươi tỉnh. “Mình cho trâu lên đê đi anh Cử. Chỗ đó em thấy nhiều cỏ tốt, cỏ cũng non nữa.” Đào chỉ tay về phía bờ đê cách đó không xa. “Ừ.” Sau khi cho đàn trâu hơn bốn mươi con lên bờ đê, hai đứa chia nhau ra làm việc, thằng Cử cắt cỏ cho vào sọt tre mang làm thức ăn dự phòng; còn con Đào đứng trông không để trâu xuống ruộng ăn lúa, ăn hoa màu nhà người ta. Đàn trâu vừa ăn cỏ vừa tiến về phía trước, con Đào đi theo bên cạnh, chẳng mấy chốc nó đã bỏ thằng Cử phía sau. Bất chợt, ánh mắt của Đào va phải cây ổi dại đứng nghiêng ven đường. Nó hí hửng, mừng thầm trong bụng. “Ổi đào, đây là cây ổi đào, ha ha ha… Cậu nói muốn ăn ổi đào mà nhỉ? Trúng mánh rồi!” Chẳng muốn đợi thêm một giây phút nào, nó vịn cành leo tót lên cây, mắt ngó nghiêng tìm ổi chín, trông quả nào nghi nghi thì dùng móng tay bấm thử, xác định chín mới vặt. Đào nhìn quả ổi mới bằng ba ngón tay mà trên thân quả chi chít những dấu móng tay đen sì, nó bật cười, biết cây này đã bị đám trẻ trong làng ghé qua nhiều lần. “Mong tìm được ổi chín cho cậu.” Con Đào say mê hái ổi, nó vạch từng chùm lá, ngó từng chùm ổi mong tìm được ổi ngon, ổi đẹp về đưa cậu. Cuối cùng, sau một hồi chăm chỉ, Đào đã hái được đầy hai túi áo toàn là ổi chín, hương ổi xộc vào mũi, khiến nó phát thèm, lưỡng lự một chút rồi cũng cúi đầu lục tìm trong túi áo hai quả ổi xấu nhất, nhiều dấu bấm móng tay để ăn. Vừa ăn nó vừa ngẩng đầu nhìn đàn trâu, chỉ với một cái nhìn ấy đã khiến mặt con Đào tái mét, quả ổi cắn dở trong tay rơi xuống đất, miệng méo xệch, nó lắp bắp: “Trâu… trâu… ăn lúa nhà người ta rồi. Tàn đời rồi Đào ơi!” ____ Chú thích:
2. Thăng thóc: đơn vị đo thể tích thời xưa. 1 phương gạo bằng 13 thăng, khoảng 30 bát gạo. 3. Địa tô: là sản phẩm thặng dư mà người sản xuất nông nghiệp tạo ra để nộp cho chủ sở hữu đất (địa chủ). 4. Giờ ngọ: khoảng thời gian từ 11 giờ đến 1 giờ chiều. 5. Khắc: bằng khoảng 15 phút. 1 canh giờ bằng 2 giờ hiện tại. 6. Bồ cào: dụng cụ nông nghiệp truyền thống làm từ tre/nứa có cán dài, đầu có thanh ngang bằng gỗ đặc, dùng để gom hoặc phơi thóc. 7. Cào chang: tương tự bồ cào nhưng có răng tre, thường dùng để tản thóc. 8. Bồ: bồ lúa, bồ thóc là một loại nông cụ dùng để đựng thóc lúa, các loại nông sản khác. |
10 |
Bình luận
Lan Anh Chu
Xin lỗi cả nhà vì thời gian qua ra chương chậm quá🙏