Đọc to (tiếng Việt) Nhấn phát để bắt đầu
bắt lấy Bình Minh

Chương 3: "Hòa bình, thịnh thế."

Thục Đoan nhắm mắt. 

 

Mưa mỗi lúc một lớn. Nước thấm xuống lớp mái tranh, nhỏ lộp bộp xuống nền đất. Những giọt nước li ti chạm vào gót chân nàng lạnh ngắt. Nhưng hơi thở đang phả vào lưng Thục Đoan lại nóng hổi. 

 

Trong giấc ngủ khó khăn lắm mới có được này, nàng liên tục giật mình tỉnh giấc. Có lẽ vì tiếng thở khò khè của đứa trẻ. Vì mùi ẩm mốc, vì cái lạnh. Và vì cả người chủ nhà hiếu khác sẵn lòng nằm ngay mép giường, nhường chỗ cho nàng. 

 

Gương mặt người thiếu phụ chập chờn hiện ra giữa cơn mơ. Thục Đoan nhìn thấy cô cười, đôi mắt cong cong, nói: “Hòa bình, thịnh thế.” 

 

Hai từ ấy cứ lặp đi lặp lại, khiến lòng người yên ổn. 

 

Bình? Là tên nàng, một cái tên đặt vội trên đường trốn chạy. Thục Đoan đã nghĩ đến ý nghĩa của nó đôi ba lần. Không chỉ vì thời cuộc, nàng còn âm thầm đặt ở đó rất nhiều những lòng riêng khó tỏ.

 

Mà người phụ nữ trẻ ấy, chỉ nghe qua một lần đã như nhìn thấu nàng. 

 

Rạng Đông và Thục Đoan ngồi đối diện nhau trên giường, Thịnh được cô ôm chặt trong lòng, vẫn rấm rứt khóc. Căn nhà quá sức đơn sơ, ngoài chiếc giường tre và một cái bàn thờ xiêu vẹo, chỉ còn bốn bức tường trống huơ trống hoác. 

 

Thục Đoan gắng gượng nhét cơm vào miệng, nhai một cách mệt mỏi. Từ nhà bà Lý đến nơi ở của Rạng Đông rất xa, lại giữa cơn mưa lạnh, nắm cơm nếp đã sớm khô cứng. Khi bỏ vào miệng, ngoài vị ngọt ít ỏi còn sót lại còn có vị mặn của mồ hôi, mùi tanh của lá chuối và cái ngai ngái của đất ẩm. 

 

Đó lẽ ra phải là một bữa ăn rất ngon. Nhưng nàng chỉ muốn ngủ. 

 

Từ kinh thành đến núi Hoàng Liên dài bằng cả trăm bữa cơm. Đến lúc tưởng như đã khổ tận cam lai(*), hóa ra cũng chỉ là vọng tưởng xa vời. Mang theo chút kỳ vọng cuối cùng, Thục Đoan như con bạc đã thua đến tan tác, xin được nương nhờ làng Liên Thủy. 

 

(*) Khổ tận cam lai: Khổ tận cam lai là một thành ngữ gốc Hán (苦尽甘来), dùng để chỉ việc hết sự cay đắng, khó khăn, gian khổ thì những điều ngọt ngào, tốt đẹp, sung sướng sẽ đến.

 

Sự im lặng nhấn chìm ba người trong cơn mưa dai dẳng. 

 

Ở phía đối diện, Rạng Đông cũng chẳng vui vẻ gì cho cam. Cô có thể thấy rõ nét kiệt quệ nơi ánh mắt, cử chỉ của Thục Đoan. Nhưng biết làm sao bây giờ? Không ăn thì sẽ chết. 

 

Dưới núi, dù xác chết có chất thành núi, ai chết mặc ai, miễn vị này còn sống là được. Theo lời tu sĩ được phái đi, Thục Đoan đã rơi vào cảnh chẳng thiết sống vài ngày. 

 

Nàng muốn gì? 

 

Rạng Đông yên lặng đẩy ngọn đèn dầu đến gần Thục Đoan hơn một chút, để ánh lửa soi vị công chúa cao quý này. Là con gái của tiên hậu, không đời nào nàng không biết về Cát. 

 

Nước Nam vốn chẳng có mấy nơi dành cho tu sĩ. Huống chi còn là nơi tập hợp nhiều tu sĩ. Ngoài đám sát thủ và tư binh(*), nhìn khắp thiên hạ, chỉ có Cát lạc lõng bơ vơ. Từ nơi đầy bí ẩn này, chẳng biết có bao nhiêu công thần đã xuất hiện. 

 

(*) Tư binh: Tư binh là quân đội riêng do các vương tôn, quý tộc, tướng lĩnh hoặc các hào trưởng tự chiêu mộ, nuôi dưỡng và huấn luyện để phục vụ cho mục đích cá nhân hoặc bảo vệ gia tộc. 

 

Vua Chính Định cũng nhờ Cát phò tá mà lên ngôi. Vì vậy, việc đứa con gái của người vợ từ thuở hàn vi, hay tiên hậu biết về nơi này không phải điều quá kỳ lạ. Còn việc nàng tìm đến tận đây,... hẳn cũng vì muốn giống cha nàng, nhận được hậu thuẫn, dẹp loạn rồi lên ngôi. 

 

Nhưng đáng tiếc, Rạng Đông cụp mắt, kín đáo che đi sự suy tư nơi đáy mắt. Cát sẽ không xuất hiện nữa. 

 

Núi Hoàng Liên là địa bàn của Cát. Bốn ngôi làng trên núi cũng do Cát bảo hộ. Thục Đoan rất khôn ngoan. Ngay từ khi đặt chân đến vùng Hương Thảo, nàng đã rời khỏi các thân tín, hòa vào giữa các nạn dân. Từng chút một nép lại dưới mái đình làng Liên Thủy. 

 

Nàng đang đánh cược. Cược rằng Cát, một lần nữa, sẽ chẳng thể khoanh tay đứng nhìn. 

 

Có lẽ niềm tin của Thục Đoan quá lớn, Rạng Đông cúi đầu xoa xoa gương mặt Thịnh. Cô chợt cảm thấy mình không có đạo đức cho lắm. Rõ ràng có thể nói thẳng: “Cát không ra mặt nữa đâu. Bà(*) về đi.” 

 

(*) Bà: ở đây có thể hiểu cách xưng hô này theo nghĩa trang trọng (VD: Bẩm bà...). 

 

Vậy mà cứ một mực giả vờ giả vịt, lừa gạt người khác. 

 

Mải nghĩ, Rạng Đông cũng quên mất cô đang làm gì. Mãi đến khi Thịnh vùng vẫy tỏ vẻ phản kháng, rồi khóc ré lên, cô mới vội vã buông hai bên má thằng bé ra. 

 

“Mẹ hư!” Thằng bé nói: “Hư!” Không còn khóc, nhưng tiếng nói non nớt rất uất ức. 

 

Ba tiếng trẻ con quấy phá, mang theo thứ dương khí gì đó mà mấy ông thầy bói thường ra rả, thật sự đập tan đi sự mịt mờ trong Thục Đoan. 

 

Nàng nhìn quả trứng luộc đang cựa quậy trong lòng Rạng Đông, bất chợt hỏi: “Em tên là gì vậy chị?”

 

Lời thốt ra chẳng kịp suy nghĩ, đến lúc Thục Đoan nhận ra, nàng đã nói thành lời mất rồi. Đầu Thục Đoan đau như búa bổ, hối hận không thôi. Dường như bà Lý đã nhắc qua với nàng. 

 

Nhưng người thiếu phụ lại chỉ cười xòa: “Thằng bé tên Thịnh.” 

 

Rồi cô nói thêm: “Chị tên Bình đúng không? Ghép lại cũng thật hay, hòa Bình, Thịnh thế.” 

 

###

 

Lý do ít người biết đến Cát vô cùng đơn giản, vì nơi này nuôi dạy ra toàn hạng vô công rỗi nghề, có tài mà không biết dùng tài giúp đời. Khác với mấy tên xuất thân từ Hắc Hỏa, Bạch Hổ, Ngọa Long, Kim Tước, mở miệng ra là: “Lũ chúng bay có biết tao là người của ai không?” 

 

Tu sĩ từ Cát bước ra, câu thích nói nhất là: “Giá này rẻ lắm rồi, không giảm thêm được đâu!”

 

Trước thế sự đổi thay, giông gió đua nhau, nếu nói những tên tu sĩ khác chỉ biết thêm dầu vào lửa, nhân lúc cháy nhà hôi của. Thì Cát cũng rặt một đoàn vô tích sự. Thế mà đám vô công rỗi nghề ấy lại từng năm lần bảy lượt đứng ra phò tá tân vương, giúp dẹp yên chẳng biết bao nhiêu thế cục ngàn cân treo sợi tóc. 

 

Theo lời cha Rạng Đông, đó là đạo làm người tài: Khiêm tốn đúng nơi, khoe tài đúng chỗ. 

 

Vậy mà hôm nay, một nhà đông đủ, lại chẳng ai hé răng nửa lời. 

 

Cụ Tú Triết, một trong ba vị đứng đầu Cát vuốt vuốt bộ râu không tồn tại, đưa mắt nhìn quanh phòng: “Sao nào? Không ai muốn nói gì sao?” 

 

Sau ngày hôm ấy, Rạng Đông luôn bên cạnh Thục Đoan. Về phần Kính Sơ, ngay sáng hôm sau y đã đến chào hỏi. Hai người kẻ xướng người họa, khiến Thục Đoan hoàn toàn không nghi ngờ gì. 

 

Lấy lý do trời mưa bất tiện, họ giữ Thục Đoan trong nhà, vừa quan sát, vừa bảo vệ nàng. 

 

Mãi đến khi tin báo về Cát chỉ còn lặp đi lặp lại những dòng như “Vị ấy chơi với Thịnh từ canh Thìn đến canh Tỵ”; “Vị ấy ăn hết nửa bát cơm”;... Các bậc trên mới gọi họ về. 

 

Ngày hôm nay, dù là Sa thạch môn hay Kim sa môn đều tụ tập về đây. 

 

Cát đặt sơn môn nơi lưng chừng dãy Liên Sơn, nằm khuất giữa lớp lớp núi rừng, địa thế hiểm trở. Bên ngoài bày trận kín như nêm cối, sơ sẩy cũng có thể bị ném ra khỏi núi. Khi Rạng Đông và Kính Sơ đến nơi, phòng nghị sự đã chật kín người.

 

Hơn bốn mươi gương mặt quen thuộc chất đầy quá nửa căn phòng, để trống khoảng giữa, nơi đặt chiếc phản lớn ba vị trưởng lão đang ngồi. 

 

“Trọng Hiếu, cậu có ý gì không?” Có vẻ đã nói được một lúc lâu, đến nỗi các cụ phải chỉ mặt để hỏi. Rạng Đông và Kính Sơ liếc nhìn nhau, cùng giữ yên lặng nép mình vào một góc khuất. 

 

Giữa căn phòng, một người đàn ông để trần nửa thân trên bước ra. Ông ta chắp tay, những hình xăm uốn lượn nơi bắp tay: “Bẩm cụ, cụ đã có lời, vậy con xin nói đôi câu.” 

 

Giọng người đàn ông nói đanh thép: “Mấy năm trước, ngay thời điểm này, tin dữ truyền về hẳn chưa ai quên được. Đã là người sống ở đời, ai cũng phải có lòng nhân nghĩa. Là tu sĩ, lại càng cần quan tâm đến thế gian. Nhưng chúng ta không phải thánh nhân, nếu vì đại cục mà không tiếc chính mình, chỉ dễ đem đến tai họa.” 

 

“Tin dữ” được ông nhấn mạnh, gần như nghiến răng mà nói. Không khí quả nhiên cứng lại trong giây lát. Rạng Đông chau mày, cô biết thế nào cũng sẽ thành ra vậy. Chỉ cần nhắc đến thế cuộc, thế sự, hay bất cứ điều gì vượt khỏi núi Hoàng Liên, Cát liền không hẹn mà nhớ lại chuyện cũ. 

 

Một mạng người. 

 

Giữa lòng thương thế gian và cái lý tự lo lấy mình của họ, luôn luôn bị ngăn bởi một mạng người. Trước đây, một Sa thạch môn tốt đẹp, cứ thế, bị kẹt giữa mấy lời dối trá rồi chết thê thảm. Còn giờ, một lý tưởng cao đẹp, bị kẹt giữa nghi kỵ rồi chết không nhắm mắt. 

 

Rạng Đông dựa lưng vào tường, gần như ngồi xổm xuống. Quả nhiên, buổi họp này là để quyết định chuyện của vị ấy. Chẳng biết sau hôm nay, sẽ có những đổi thay long trời lở đất thế nào. 

 

“Được rồi, cậu Hiếu không cần nói nữa.” Cụ Như Nguyệt ngồi bên kia phản phẩy tay, ra chiều mệt mỏi. Đôi mày bà nhíu chặt: “Để cậu Minh Trung nói đi.” 

 

Người tên Minh Trung đang đứng ngay cạnh phản. Ông vận áo tứ thân, đầu đóng khăn, toàn thân toát lên vẻ nho nhã: “Bẩm các cụ, tôi đã không còn nhúng tay chuyện nhân quả trần tục, nên chuyện này xin chỉ lắng nghe.” 

 

Bỗng ánh mắt ông hướng thẳng về phía Rạng Đông. Ngay tức khắc, toàn bộ tu sĩ ở góc phòng đó đồng loạt phi thân bỏ chạy tán loạn. Kính Sơ cũng tự lo thân, biến mất từ lúc nào chẳng hay. 

 

Rạng Đông vội đứng thẳng người, vái lạy: “Bẩm…” 

 

“Thanh Dư con thấy thế nào?” Cụ Tuệ, người đã yên lặng từ nãy đến giờ ôn hòa hỏi cô: “Nếu ta nhớ không lầm, con là người ở cạnh vị ấy lâu nhất, hẳn sẽ hiểu rõ hơn chúng ta.” 

 

Hàng chục cặp mắt thương cảm nhanh chóng đổ về phía cô. Trong lòng Rạng Đông thấy không ổn. Giữa lúc nước sôi lửa bỏng này lôi cô ra, nếu không chết cũng bị lột mất vài lớp da. 

 

Cô cắn răng: “Bẩm các cụ, những chuyện to tát thế này, con trẻ người non dạ, tầm mắt không cao, chẳng dám xen lời.” 

 

Cụ tú Triết cười cười: “Vậy là người dưới, chúng ta nói gì con cũng nghe sao?” 

 

Rạng Đông biết họ đã bắt đầu lột lớp da đầu tiên trên người cô xuống rồi. Nhưng cô chỉ có thể cắn răng nói: “Bẩm, vâng.” 

Bình luận đoạn văn

Bình luận

Trả lời bình luận

Chỉnh sửa bình luận

Thiết lập văn bản

Xem trước

Nội dung sẽ hiển thị như thế này

Chọn font chữ

Cỡ chữ

12px 30px