Đọc to (tiếng Việt) Nhấn phát để bắt đầu
bắt lấy Bình Minh

Chương 1: "Vị kia"

Cuối tháng chạp, núi Hoàng Liên lất phất mưa. 

 

Giữa giờ chiều, tiết trời lạnh đến cắt da cắt thịt hòa cùng làn sương trắng dày đặc làm lòng người nôn nao. Giữa những tin dữ đang đua nhau ùa về từ kinh đô như thác đổ, người làng Liên Thủy chỉ biết lặng lẽ nhìn màn mưa. 

 

Rạng Đông dựa lưng vào cột đình, mắt đăm đăm nhìn ra cửa. 

 

Mưa cuối đông mịn như bột, lại lạnh thấu xương. Từng hạt từng hạt phủ lên vạn vật một vẻ tiêu điều héo hon. Cây bồ đề đầu đình nhòe nhoẹt trong mưa. 

 

Trong đình làng, ba Cụ Tú(*) của làng ngồi trên sạp gỗ thấp nơi chái phải(*). Hơi nóng từ ấm trà bốc lên thoang thoảng mùi đắng ngọt của trà nhị sen. 

 

(*) Cụ Tú: là một danh xưng tôn kính trong văn hóa Việt Nam dùng để gọi những người đỗ đạt học vị Tú tài trong hệ thống thi cử Nho học thời phong kiến hoặc những trí thức Nho học có uy tín trong làng xã thời xưa.

 

(*) Chái: Trong kiến trúc đình làng truyền thống Việt Nam, chái (thường đi kèm với cụm từ "hai chái") là các gian phụ nằm ở hai đầu hồi của tòa Đại đình. Đây là phần mở rộng thêm từ khối nhà chính (thường là 3 hoặc 5 gian), có diện tích nhỏ hơn và mái thấp hơn nhằm tăng thêm không gian bề thế cho ngôi đình. 

 

Cụ Tú Liễn nâng chén trà, khẽ hỏi Rạng Đông bằng tên mụ(*) của cô: “Vận làm sao đấy?” 

 

(*)Tên mụ: (hay còn gọi là tên cúng cơm, tên húy, nhũ danh, hoặc tên gọi ở nhà) là tên gọi dân dã của trẻ nhỏ lúc mới sinh.

 

Rạng Đông quay người lại, suy nghĩ một lát, cô đáp: “Bẩm cụ, con chỉ đang ngắm mưa thôi.” 

 

Cụ Tú Duyệt bên cạnh cười: “Không cần lo lắng con ạ, thêm một mối thiện duyên cũng chẳng phải xấu.”

 

Cụ Tú Triết gật gù: “Đúng thế.” 

 

Cô gật đầu: “Con nghe các cụ.” 

 

Lời vừa dứt, từ bên cửa, một thanh niên đội nón lá bước vào. Rạng Đông thấy y như người chết đuối vớ được cọc, cô hăm hở bước đến giật ấm nước khỏi tay Kính Sơ, đon đả đến châm nước vào ấm trà: “Con mời các cụ.” 

 

Đoạn, cô hất cằm ra hiệu: “Bống, đi têm trầu.”

 

Kính Sơ đứng đơ như tượng, nửa muốn nói, nửa không. Cuối cùng, y tặc lưỡi, ném cái nón một bên rồi bước lên sàn đình. Khi đến gần sạp gỗ, Kính Sơ nhặt đại một quả cau trên đĩa cạnh ấm trà. Y nhân lúc không ai chú ý, hạ giọng: “Tôi đã làm gì Vận đâu mà Vận lại gọi tên cúng cơm của tôi? Nước tôi đun, sàn tôi quét, giờ cả trầu cũng tôi bổ. Vận lười như heo.” 

 

Tiếng nói không lớn, nhưng cũng đủ để Rạng Đông nổi cáu. Trên gương mặt tươi cười của cô hơi nứt ra một chút. Ngay lúc ấy, hai tay đang giữ ấm trà của cô nóng rát, lòng bàn tay nhói lên hệt bị kim châm. Trong bóng tối, vô số những sợi tơ mảnh hiện ra. Chúng âm thầm lặng lẽ quấn quanh Kính Sơ, nhanh chóng bấu lấy một nhúm thịt trên chân y rồi siết lại. 

 

Dẫu cho Kính Sơ đã nhạy bén nhận ra Rạng Đông sắp giở trò, y cũng chẳng thể thoát được. Động tác têm trầu điệu nghệ chững lại, toàn thân y cứng đờ, bắp chân đau điếng như vừa bị một trăm con kiến cắn cùng lúc. 

 

Rạng Đông tươi cười nhìn mặt y nhăn lại vì đau, nghiến răng lườm cô bằng ánh mắt muốn ăn tươi nuốt sống. Rạng Đông kênh mặt, tuyệt nhiên không cảm thấy mình vừa làm sai điều gì. 

 

Kính Sơ cắn răng đặt miếng trầu têm cánh phượng(*) lên sạp, thưa với các Cụ Tú: “Tính giờ này, hẳn vị kia đã sắp đến, chúng con xin được tránh đi trước.” 

 

(*) Trầu têm cánh phượng: là một nghệ thuật têm trầu truyền thống của người Việt, trong đó lá trầu và quả cau được cắt tỉa, uốn nắn khéo léo để tạo thành hình dáng của chim phượng hoàng.

 

Nói xong, y nắm vai, kéo Rạng Đông đi, tiện thể bôi trét hết cả nước trầu lên vai áo cô. 

 

Rạng Đông, vốn đang cúi người buộc đôi guốc gỗ(*) vào cạp quần cứng đờ, cô dứt khoát bẻ ngược tay y. Kính Sơ không chịu thua, ngáng chân làm cô suýt vấp ngã. 

 

(*) Nếu xét theo đúng lịch sử, dân ta thường đi chân đất thay vì guốc, giày hay dép. Tuy nhiên, vì tính thẫm mĩ của truyện và một tí xíu đặc thù nhân vật, trong truyện, chỉ cần là hạng trung lưu cũng sẽ có guốc hoặc giày dép phù hợp. 

 

Thấy vậy, Rạng Đông hạ người, quét chân về phía y. Kính Sơ nhảy lên, theo đà đạp chân vào cột đình, phi thân bay phốc lên. Đôi guốc gỗ chưa cởi ra gõ lên thân cột từng tiếng nặng nề.

 

Rạng Đông bám sát phía sau, cô đáp lên cùng thanh xà với Kính Sơ. Nhưng trước khi cả hai kịp dùng chút quyền cước chào hỏi lẫn nhau, bên ngoài sân đã vang lên tiếng trò chuyện. 

 

Kính Sơ, vốn đang bị đè nửa nằm trên thanh xà, vội ra dấu đầu hàng. Rạng Đông theo đó buông cổ áo y ra, lùi lại nửa bước. Cả hai người ăn ý chuyển tầm mắt về phía cửa. Kính Sơ lặng lẽ rút sổ và bút khỏi túi. 

 

Trong ánh lửa mờ mờ, một làn sương đen từ từ lan rộng, che khuất tầm mắt Rạng Đông. Cô lườm Kính Sơ, làn sương liền mờ đi trông thấy. Khoảnh khắc ấy, Rạng Đông vừa vặn trông thấy “vị kia”. 

 

Tiếng bước chân bì bõm đã dừng lại, có ba bóng người đứng trên bậc thềm đá.

 

Đập vào mắt cô trước tiên ông Chánh tổng(*) đội nón lá, khoác áo tơi bước vào. Cụ Tú Liễn nâng chén trà hơi khựng lại, đôi mắt hơi đục liếc ra cửa. 

 

(*) Ông Chánh tổng: là chức danh người đứng đầu một tổng – đơn vị hành chính trung gian giữa cấp huyện và cấp xã trong lịch sử phong kiến và thời Pháp thuộc ở Việt Nam. Chức vụ này chịu trách nhiệm truyền đạt mệnh lệnh của cấp trên, đôn đốc thu thuế, phu phen và trị an trong khu vực. 

 

Ông chắp tay vái nhẹ, toàn thân run rẩy vì lạnh: “Bẩm các cụ.” 

 

“Thưa các cụ.” Bà Lý(*), đội nón ba tầm(*) đi ngay sau cũng chắp tay. “Đã để các cụ đợi lâu, xin các cụ thứ lỗi.”

 

(*) Lý trưởng: là chức danh đứng đầu bộ máy chính quyền cấp làng xã tại Việt Nam thời phong kiến và thuộc địa.

 

(*)Nón ba tầm: là loại nón lá truyền thống phẳng, đặc trưng của phụ nữ miền Bắc Việt Nam.

 

Cụ Tú Triết gật đầu: “Không sao.” 

 

“... Lạy các cụ ạ.” Chợt một giọng nữ vang lên. Bà Lý ý tứ tránh sang bên. Dưới mái hiên, người thiếu nữ khoanh tay, cúi đầu thưa. 

 

Cụ Tú Triết lặng lẽ quan sát nàng. 

 

Trong thời loạn lạc này, những người vì thời thế mà lưu lạc không ít. Làng Liên Thủy từng nhiều lần cho họ tá túc, thậm chí ở lại làng. 

 

Người thiếu nữ trước mắt cụ khoác tấm áo tơi đã cũ, hẳn là mượn được của nhà bà Lý. Chiếc nón lá cũ mèm sụp xuống che khuất một góc mặt. Nàng cũng là một người như thế, hoặc ít nhất, họ hy vọng nàng thật sự chỉ như thế. 

 

Nàng chậm rãi đứng thẳng người, những ngón tay thon dài khẽ nâng vành nón lá lên. 

 

Trên mái nhà, bàn tay cần bút lông của Kính Sơ run lên. Y quay ngoắt đầu nhìn Rạng Đông. Rạng Đông cũng nhìn y, cả hai lập tức nhận ra sự nghiêm túc trong mắt đối phương. 

 

Bầu không khí chợt trùng xuống. Thậm chí còn lạnh lẽo hơn cả bên ngoài đình. 

 

Giữa lúc Rạng Đông nghĩ trời sắp sập tới nơi, cô bỗng thấy ông Chánh tổng lùi ra cửa. Theo bản năng, cô nhướng người, lòng bàn tay mở lớn, giữa những ngón tay loáng thoáng vài sợi tơ mảnh. Nhưng thay vì bỏ đi hoặc làm ra hành động gì đó đáng ngờ, ông chỉ run rẩy cởi chiếc nón lá đẫm nước xuống. Rồi vừa xuýt xoa vì lạnh, vừa rũ mạnh chiếc áo tơi đang chảy nước ròng ròng xuống nền gạch.

 

Kính Sơ mặt không biểu cảm đè vai Rạng Đông lại. Y còn vỗ vỗ tay lên vai cô coi như an ủi. 

 

“Một mình con thân gái chân yếu tay mềm, lại phải lưu lạc đến tận đây. Con vất vả rồi.” Cụ Tú Triết thu lại ánh mắt, hiền từ nói. 

 

Giọng cụ từ tốn: “Nơi này hãy còn nhiều thiếu thốn, nhưng người làng hòa hậu, mến khách. Con hãy coi như tạm nghỉ chân.” 

 

Người thiếu nữ cúi đầu: “Thưa cụ, ơn đức của cụ và dân làng, con không dám quên.” 

 

Bà Lý bước lên, khẽ hỏi: “Thưa cụ, vậy…” 

 

“Trong làng hiện chỉ còn nhà cô Đông rỗi rãi, chị Lý nghĩ thế nào?” Cụ mỉm cười. 

 

Ngay trên đầu họ, Rạng Đông giật thót. Lại nữa rồi. Cứ mỗi khi có lưu dân lạc đến, hễ là nữ, cụ đều đưa đến nhà cô. Hai năm nay đã xoay được hai vòng khách. 

 

Những lần ấy, cô có thể mắt nhắm mắt mở cho qua, nhưng đến vị này. Khó quá. 

 

Quả nhiên, bà Lý lại đáp đúng câu lần trước đã nói: “Nếu cô ấy đồng ý thì được. Nhưng cô ấy mẹ góa con côi, hẳn sẽ có nhiều bất tiện.” 

 

Người thiếu nữ tiến lên nửa bước, cúi đầu nói nhỏ nhẹ nhưng rành rọt: “Bẩm cụ, bẩm bà, con thân cô thế cô, được làng dang tay cứu giúp lúc ngặt nghèo thế này đã là phúc phận lớn lắm rồi. Con không sợ bất tiện, cũng biết chút việc kim chỉ dọn dẹp, nếu được sang ở cùng chị Đông, con xin đỡ đần chị trông nom cháu nhỏ, tuyệt đối không dám làm phiền hai mẹ con.” 

 

Cụ Tú Triết vẫn ra vẻ đăm chiêu, nhưng rồi cụ cũng mỉm cười nói với bà Lý: “Đấy, chị thấy chưa, một đứa trẻ như thế sao có thể làm khó cô Đông cho được. Thôi, nay đã sắp vào đêm, mưa gió thế này cứ đưa con bé về nhà cô Đông tắm giặt, nghỉ ngơi trước đã.” 

 

Bà Lý chắp tay: “Thưa cụ, con xin nghe.” 

 

Nói rồi, bà ra hiệu cho nàng ta đi theo. 

 

Hai người vừa đi khuất, Rạng Đông đã không chờ nổi mà nhảy xuống. Ông Chánh tổng hoảng hốt nép mình vào cửa, khi nhìn rõ là cô mới thở phào nhẹ nhõm. 

 

Rạng Đông không để ý đến ông, mắt cô đầy ai oán nhìn cụ Tú Triết: “Sao cụ lại đưa vị kia đến nhà con?” 

 

Cụ thong thả nhấp trà, đáp mà chẳng ngó cô nửa cái: “Thay vì ở đây hỏi ta, sao Vận không nhanh nhanh về nhà đón khách đi?” 

 

###

 

Ngoài lề: Tất cả những điều bất hợp lý đều sẽ có lý...

 

Còn một chuyện khác là xưng hô của nhân vật có thể sẽ hơi loạn. Vì trong quá trình tìm hiểu, mình được biết thời trung đại, tùy theo tầng lớp mà sẽ có một số lượng tên gọi khác nhau. Với: 

1. Tên tục (tên cúng cơm, tên mụ, nhũ danh,...): tất cả mọi người đều có. 

. Khi đứa trẻ vừa ra đời. 

 

2. Tên húy (tên chính thức trên giấy tờ): Tất cả mọi người đều có (miễn là có giấy tờ)

. Khi đứa trẻ đến tuổi đi học (thường là con trai, nhưng trong truyện thì nam nữ đều như nhau) hoặc khi làm bộ tịch. Đây là cái tên chính thức dùng để ghi vào gia phả, đi thi cử, hoặc ghi trong văn bản pháp lý của triều đình. 

 

3. Tên tự: giới trung lưu, trí thức.

.  Khi trưởng thành (con trai khoảng 20 tuổi làm lễ quán đỉnh/đội mũ, con gái khoảng 15 tuổi làm lễ cài trâm).
Tên tự thường do thầy học hoặc cha mẹ đặt cho, có ý nghĩa giải thích, bổ trợ hoặc đối lập với ý nghĩa của tên khai sinh nhằm thể hiện chí hướng, đức hạnh.

 

4. Tên hiệu: văn nhân, ẩn sĩ.

. Khi đã trưởng thành, thường do người đó tự đặt cho mình hoặc được người khác tặng dựa trên tính cách, sở thích, hoặc địa danh nơi mình sinh sống, ẩn dật.
Thể hiện cái tôi nghệ thuật, lý tưởng sống hoặc cốt cách cá nhân của các bậc văn sĩ, trí thức. Một người có thể có rất nhiều tên hiệu khác nhau tùy từng giai đoạn cuộc đời.

 

Còn rất nhiều loại tên khác, nhưng vì không liên quan đến cốt truyện lắm nên tạm dừng ở đây ha. 

Bình luận đoạn văn

Bình luận

Trả lời bình luận

Chỉnh sửa bình luận

Thiết lập văn bản

Xem trước

Nội dung sẽ hiển thị như thế này

Chọn font chữ

Cỡ chữ

12px 30px